Tử Thư Tây Hạ

hoahongden12

Active Member
Tử Thư Tây Hạ
Quyển 2 - Chương 13: Nhà của u hồn

Hàn Giang không biết mình đã bật ra tiếng gào thét khản đặc từ phần nào trong cơ thể, nhưng sau đó anh dốc hết sức lực, cuối cùng bóp nòng súng. Pằng!

Một viên đạn bắn xuyên qua thân thể của u hồn màu trắng đó; bóng trắng lắc mạnh một cái, nhưng nó chỉ hơi khựng lại giây lát rồi lại tiếp tục bay về phía Hàn Giang và Đường Phong...

1

Hàn Giang và Đường Phong đẩy cánh cửa ra, bước vào một tòa cung điện nguy nga tráng lệ, xung quanh tối đen như mực. Đột nhiên, một chùm ánh sáng không biết từ đâu rọi tới, ánh sáng chiếu thẳng lên người Hàn Giang và Đường Phong, chói đến mức làm hai người không mở mắt ra được. Hàn Giang và Đường Phong bước lên phía trước, chùm ánh sáng đó cũng di chuyển theo, Hàn Giang và Đường Phong bước nhanh hơn, chùm ánh sáng đó cũng di chuyển nhanh hơn, Hàn Giang nói với Đường Phong: “Hai chúng ta chia nhau chạy đi” 

Đường Phong gật đầu, hai người chia ra chạy về hai hướng khác nhau, chùm ánh sáng đó cũng chia làm hai, đeo bám bằng được Hàn Giang và Đường Phong.

Trong bóng tối của cung điện khổng lồ, đường trước mặt dường như mãi mãi không có điểm kết thúc. Xuyên qua từng cánh cửa to, từng dãy hành lang, chùm ánh sáng dó vẫn cứ bám chặt phía sau, đuổi cũng không đi. Đây là đâu? Chùm ánh sáng đó từ đâu tới? Tại sao chùm ánh sáng này lại cứ bám riết lấy mình? Cũng không biết Đường Phong ra sao rồi?... Hàng loạt những câu hỏi như đập vào đầu Hàn Giang, anh không hiểu tất cả những chuyện này là như thế nào, anh bất chấp tất cả lao về phía trước. Đúng lúc Hàn Giang cảm thấy tuyệt vọng thì đột nhiên anh nhìn thấy phía trước xuất hiện một đường ánh sáng, đó là lối ra của mê cung? Hàn Giang lại tăng tốc, nhưng khi chùm ánh sáng đó lại gần mình thì anh lại đâm sầm vào một người. Hàn Giang định thần lại nhìn, hóa ra người mình đâm phải chính là Đường Phong. Đúng khoảnh khắc anh và Đường Phong đâm sầm vào nhau, hai chùm ánh sáng đuổi theo họ lại hòa làm một.

“Sao anh lại chạy tới đây?” - Hàn Giang lớn tiếng hỏi Đường Phong.

“Tôi cũng không biết, tôi và anh chạy hai hướng khác nhau, chùm ánh sáng đó bám riết lấy tôi, kết quả tôi đã chạy tới đây!” - Đường Phong hoảng loạn đáp lại.

“Xem ra chúng ta không thoát ra khỏi mê cung này rồi!” - Hàn Giang sầu não gầm lên.

“Vậy chúng ta phải làm thế nào?” Đường Phong chưa kịp nói hết câu thì trước mặt họ đột nhiên xuất hiện một bóng trắng, đó là một người mặc áo choàng trắng, không! Đó không phải là người, đó là u hồn! Bởi vì... bởi vì Hàn Giang và Đường Phong không hề nhìn thấy mặt u hồn đó.

U hồn màu trắng bay về phía họ, Hàn Giang theo phản xạ rút súng ra. U hồn vẫn di chuyển về phía họ. Hàn Giang hai tay giương súng lên, nhưng không tài nào bóp được cò. Đường Phong hét lên: “Mau bắn đi, mau bắn đi!”. Hàn Giang không biết mình đã bật ra tiếng gào thét khản đặc từ phần nào trong cơ thể mình, sau đó anh dốc hết sức lực, cuối cùng bóp cò súng. Pằng! Một viên đạn bắn xuyên qua cơ thể của u hồn màu trắng đó, bóng trắng lắc mạnh một cái, nhưng nó chỉ hơi khựng lại giây lát rồi lại tiếp tục bay về phía Hàn Giang và Đường Phong. “Bắn tiếp đi!” - Đường Phong vô cùng hoảng loạn.

Hàn Giang lại tiếp tục bóp cò. Pằng! Pằng! Pằng!. một loạt đạn bắn vào u hồn màu trắng, bóng trắng đã biến mất rồi! Chùm ánh sáng bao trùm lên họ cũng biến mất. Hàn Giang và Đường Phong không biết u hồn đó đã bị bắn chết hay là rút lui, nhưng tóm lại, xung quanh đã trở nên im ắng như tờ, tĩnh lặng tới mức chỉ có thể nghe thấy tiếng thở và tiếng tim đập của hai người...

Hàn Giang và Đường Phong cẩn thận rón rén, dò dẫm trong bóng tối, họ tới nơi mà ban nãy u hồn màu trắng biến mất, căng thẳng và chăm chú nhìn phía trước, nhưng trong bóng tối họ không nhìn thấy gì cả. Đột nhiên, chùm ánh sáng đó lại trùm lên người họ, Hàn Giang và Đường Phong giật bắn mình, gần như cùng lúc đều cảm thấy điều dị thường phía sau. Hai người quay lại thì ra u hồn màu trắng đó đã xuất hiện sau lưng. Căng thẳng, khủng hoảng đã đè nén Hàn Giang tới nỗi không thở nổi, anh bóp mạnh cò súng. Pằng! Pằng! Bắn hai phát súng, u hồn màu trắng trước mặt lại biến mất, nhưng ngay lập tức cảnh tượng khiến họ vô cùng khiếp sợ đã xuất hiện: cung điện khổng lồ đang tối đen, đột nhiên vô số đèn điện bừng sáng, khiến nơi đây không khác gì ban ngày, rồi vô số u hồn áo trắng chập chờn trước mặt họ, đang tiến lại gần họ. Hàn Giang và Đường Phong áp lưng vào nhau thở hổn hển, họ đều trợn mắt sửng sốt, không biết phía trước sẽ là điều gì đây?

2

Vô số u hồn màu trắng đang bay tới chỗ Hàn Giang và Đường Phong, có u hồn đã đến trước mặt hai người. Cuối cùng thì Hàn Giang và Đường Phong cũng đã nhìn thấy dung nhan của u hồn, đó là một khuôn mặt chi chít mụn bọc, không ra hình mặt người, chỗ mụn bọc vẫn còn đang chảy mủ. Hàn Giang và Đường Phong giật thót tim, giây phút này rút cuộc họ đã chắc chắn: những thứ này không phải là người mà là u hồn, bởi vì khuôn mặt này không phải là mặt người.

Hàn Giang và Đường Phong vô cùng tuyệt vọng tựa vào nhau, u hồn bên cạnh họ càng lúc càng đông. Đột nhiên, cung điện ban nãy vẫn còn nguy nga tráng lệ mà trong phút chốc đã biến thành đường cống ngầm tối tăm ẩm ướt, đầy rẫy những con chuột to béo và biết bao là u hồn. Từng đàn chuột lao tới tấn công họ, khắp người Hàn Giang chuột bò lổm nhổm, khiến anh tuyệt vọng. Anh cảm thấy tắc thở, anh muốn hét, muốn kêu cứu, muốn giãy giụa lần cuối trước khi chết, nhưng anh đã không còn chút sức lực nào, anh không hét được thành tiếng. Anh quay đầu trông thấy Đường Phong, lúc này Đường Phong đã bất tỉnh và đang thoi thóp! Không thể chết ở đây như vậy được, không thể chết tại căn phòng của u hồn được!

Hàn Giang bắt đầu dồn hết sức lực, anh hất hai con chuột trên cánh tay xuống, vươn cánh tay rắn chắc tóm lấy bàn tay đang bóp cổ mình, dốc hết chút sức lực còn lại để giằng bàn tay mà anh không nhìn thấy, bàn tay vận mệnh đó ra. Nhưng mọi nỗ lực của anh hình như đều vô ích, anh cảm thấy mình đang mất dần từng chút sức lực, còn cánh tay đang bóp nghẹt cổ anh lại càng lúc càng thắt chặt hơn. Cuối cùng, anh tuyệt vọng tò bỏ kháng cự, chỉ biết bật ra tiếng kêu yếu ớt.

Hàn Giang mở trừng mắt, xung quanh tối đen, đây là đâu? Anh quệt mồ hôi trên trán nhưng cảm thấy toàn thân lạnh toát. Hàn Giang ngồi dậy trên ghế sô pha, nhìn đồng hồ trên tường, 11 giờ đêm. Xem ra mình vừa mới chợp mắt đã bị cơn ác mộng đó đánh thức. Anh lặng lẽ ngồi một lúc, lúc này anh mới nhớ là hiện giờ mình vẫn đang ở trong căn hộ của Victor. Tiếng kêu yếu ớt của Hàn Giang ban nãy đã đánh thức Yelena, Yelena châm nến, lo lắng hỏi: “Anh sao thế?”

Hàn Giang thở dài, nói: “Anh mơ thấy ác mộng!”

“Ác mộng?”

“Đúng vậy, cơn ác mộng rất đáng sợ, anh mơ thấy anh và Đường Phong ở trong một cung điện nguy nga tráng lệ, rồi bọn anh bị hai chùm ánh sáng đeo bám, giống như... giống như chúng ta ở chính giữa sân khấu còn xung quanh đều là khán giả, nhưng... nhưng khán giả xung quanh lại toàn là u hồn, chúng nhào tới bọn anh, anh nổ súng rồi nhưng vô ích. Dường như bọn anh đã tới nhà của u hồn, đám u hồn đó càng lúc càng đông, cung điện vốn nguy nga tráng lệ trong chớp mắt bỗng biến thành đường cống ngầm tối đen, ẩm ướt, chuột cống nhung nhúc. Bọn anh không còn sức để kháng cự nên đã bị những u hồn và đám chuột bọ đó gặm nuốt ngấu nghiến. Sau đó... sau đó thì anh tỉnh giấc!” - Hàn Giang nhớ rất rõ cơn ác mộng ban nãy.

“Em lại cứ tưởng rằng anh mơ thấy ở bên em, hóa ra là Đường Phong!” - Yelena giả vờ ra vẻ hờn dỗi.

Hàn Giang lắc đầu, nói: “Yelena, anh không đùa đâu, anh rất ít khi nằm mơ, giấc mơ này khiến anh có cảm giác bất an!”

“Em thấy anh có vẻ sợ và lo lắng cho lần hành động ngày mai. Trung Quốc các anh không phải đã có câu ‘Ngày nghĩ sao đêm chiêm bao là vậy’ ư?” - Yelena cười nói. 

“Sợ ư? Có lẽ có chút, nhưng đó không phải là điều chủ yốu, cơn ác mộng này khiến anh cảm thấy nguy hiểm, anh cảm thấy một mối nguy hiểm vô cùng to lớn đang cận kề chúng ta, hơn nữa khả năng Đường Phong đã gặp nguy hiểm thật rồi. Cậu ấy chỉ có một mình, ngộ nhỡ gặp nguy hiểm thì cũng không đủ sức chống chọi!”

- Hàn Giang khẳng định.

Yelena vỗ vỗ vai Hàn Giang: “Em thấy anh mấy hôm nay mệt mỏi quá rồi đấy, đừng nghĩ ngợi nữa, tranh thủ thời gian nghỉ ngơi đi, sáng sớm mai là phải hành động rồi!”

Hàn Giang nắm ngay lấy tay Yelena: “Em nhất định phải tin anh, trực giác của anh từ trước đến nay rất chuẩn, anh thấy ở đây không thể ở lâu được đâu, chúng ta nhanh chóng di chuyển thôi!”

“Ý anh nói là chúng ta di chuyển ngay trong đêm sao?” - Yelena ngạc nhiên.

Hàn Giang gật gật đầu, đáp: “Anh không biết nguy hiểm gì đang chờ đợi chúng ta, nhưng anh cảm thấy họ đang ở rất gần chúng ta!”.

“Họ? Ilyushin?”

“Không biết, có thể là Stephen hoặc là ai đó có hứng thú với chúng ta!”

“Vậy bây giờ chúng ta có thể đi đâu?”

Hàn Giang ngẫm nghĩ một lúc, đáp: “Đằng nào ngày mai chúng ta cũng sẽ đi thăm dò cống ngầm, vậy thà chúng ta hành động trước còn hơn, không biết chừng u hồn đó hiện đang ngủ trong căn buồng nhỏ cũng nên!”

Yelena yên lặng suy nghĩ một lúc rồi mới hỏi lại Hàn Giang: “Em có thể đi cùng anh ngay bây giờ nhưng còn cha thì sao? Ông có cùng hành động với chúng ta không?” “Hiện giờ chỉ còn cách đưa cha em đi cùng, chúng ta giờ đã không còn chốn ẩn náu ở thành phố này nữa. Ilyushin không tha cho chúng ta đâu, Stephen cũng có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, chỉ có chúa mới biết được sẽ còn gặp ai nữa!”

“Được, vậy ta sẽ làm theo anh nói, nhưng nên hỏi ý kiến cha em đã, ông có kinh nghiệm hơn chúng ta nhiều!” - Yelena đồng ý với Hàn Giang, cô đi đến phòng ngủ của Makarov gọi ông dậy.

3

Hàn Giang cũng gọi Từ Nhân Vũ dậy. Không ngoài dự đoán của Hàn Giang, Makarov nghe xong chủ ý của Hàn Giang liền cười, nói: “Tôi cũng ngủ cả ngày nay rồi nên muốn xuất phát sớm, bây giờ xuất phát là đẹp đấy, hơn nữa nơi đây cũng không phải là chỗ ở lâu được.”

Từ Nhân Vũ vẫn mắt nhắm mắt mở, có vẻ không hài lòng, nhưng thấy Hàn Giang, Yelena và Makarov đã nhất trí như vậy nên cũng không thể nói thêm gì nữa. Bốn người thu dọn những đồ đạc cần thiết rất nhanh chóng rồi lên đường, Makarov không khỏi lưu luyến nhìn lại căn hộ của con trai, miệng lẩm bẩm: “Liệu chúng ta có còn quay lại không?” 

“Chúng ta sẽ quay về nhanh thôi!” - Yelena an ủi Makarov.

Bốn người rời khỏi căn hộ của Victor, dò dẫm xuống cầu thang. Xe của Yelena để trong bãi đỗ cách chỗ họ ở hai con phố, nên bốn người đi qua những dãy phố không bóng người để đến bãi đỗ xe đó.

Nhưng đứng lúc họ rẽ ngoặt, chuẩn bị qua đường thì mấy chiếc xe con màu đen cũng rẽ tới từ một dãy phố khác. Tuy những chiếc xe này không có bất cứ kí hiệu nào, nhưng Yelena vẫn nhận ngay ra chúng, cô giơ tay trái ra hiệu mọi người đứng nép vào góc phố.

Bốn người nép trong bóng tối ven đường, đợi tới khi mấy chiếc xe đỏ bấm còi đi qua, Yelena mới quay lại nói với Hàn Giang: “Xem ra trực giác của anh rất chuẩn đấy, đó đều là xe của Cục an ninh Liên bang, hơn nữa có một chiếc chắc là của Ilyushin!”

“Ilyushin cũng đến sao?” - Hàn Giang ngạc nhiên hỏi.

“Xem ra họ vội vàng lao đến đây là vì chúng ta đấy!”

- Yelena vừa dứt lời thì nhìn thấy vài chiếc xe màu đen đỗ dưới khu chung cư của Victor, rồi hơn chục bóng đen nhảy xuống xe, xông vào tòa nhà với đội hình chiến đấu.

“Mau đi thôi, bị bọn họ phát hiện ra là toi đấy!” - Từ Nhân Vũ thúc giục.

Hàn Giang thì lại an ủi Từ Nhân Vũ: “Đừng vội, đợi xem đã!”

Chỉ huy của đội quân chính là Ilyushin, Ivan Pavlov đầu dẫn theo đám đặc công xông vào khu chung cư, Ilyushin bám sát theo sau, cũng vào trong tòa nhà. Căn hộ của Victor trên tầng ba, Ivan Pavlov rón rén mò lên tầng ba rồi quay đầu lại nhìn những người phía sau, ra hiệu bảo mọi người chú ý né đi. Ivan Pavlov nhoài ra cạnh hành lang, im lặng lắng nghe động tĩnh trong căn hộ của Victor, không chút động tĩnh: “Nếu quả thực Yelena ở đây thì chắc là họ đang ngủ rồi!” - Ivan Pavlov nghĩ tới đây liền bất giác lo lắng cho Yelena.

Ilyushin đứng phía sau thấy Ivan Pavlov mãi vẫn chưa chịu hành động nên sốt ruột, anh ta rút súng, rẽ mọi người ra, bước tới cạnh Ivan Pavlov, chất vấn: “Tại sao vẫn chưa hành động đi?”

Ivan Pavlov đang định mở miệng trả lời thì nghe thấy một tiếng “bùm” nổ vang, một chùm lửa đỏ kèm theo tiếng nổ bắn thủng cửa căn hộ của Victor, cánh cửa sắt vốn kiên cố đã bị luồng khí mạnh mở ra dễ dàng. Ivan Pavlov vội vàng ấn Ilyushin xuống vừa khi anh ta đang định xông lên.

Tiếng nổ lớn này khiến hành lang rơi xuống không biết bao nhiêu là bụi và gạch vụn. Ilyushin đợi dứt tiếng nổ, phủi phủi bụi bặm trên đầu, ngẩng lên chửi rủa: “Mẹ kiếp, Yelena thành phần tử khủng bố rồi đấy!”.

Ivan Pavlov vẫn im lặng, anh đứng ngây người tại chỗ, mà không biết là cánh tay mình đang chảy máu.  

Anh nhìn căn hộ vẫn đang cháy, tim như bị thứ gì đó bóp nghẹn lại, khiến anh vô cùng đau đớn.

Hàn Giang cùng mọi người nấp cách căn hộ không xa ngây cả người ra vì tiếng nổ bất ngờ đó, Hàn Giang quay lại nhìn Yelena, anh nhìn thấy ngọn lửa bùng cháy trong mắt Yelena. Qua một hồi, Từ Nhân Vũ mới hỏi lại Hàn Giang: “Có phải anh biết là sẽ nổ không?”

Hàn Giang nổi cáu: “Biết gì mà biết! Tôi đã nói rồi, hãy tin vào trực giác của tôi!”

“Không phải là nổ do khí ga chứ?” - Từ Nhân Vũ lại hỏi.

“Đây rõ ràng là nhằm vào chúng ta!” - Yelena tức tối nói.

“Xem ra không giống như Ilyushin ra tay, vậy chỉ có thể là..- Hàn Giang suy đoán.

“Ý anh là Stephen!” - Từ Nhân Vũ kinh ngạc.

“Ngoài tổ chức bí ẩn đó ra thì còn ai có thể làm được như vậy! Còn có ai nhất định phải dồn chúng ta vào chỗ chết nữa!” - Hàn Giang tức giận nói.

“Xem ra Ilyushin và Ivan Pavlov ban nãy lao vào trong đó lành ít dữ nhiều!” - Từ Nhân Vũ lẩm bẩm.

Hàn Giang nhìn Yelena, im lặng, Yelena cũng im lặng, nhưng khi hai người quay đầu lại liếc nhìn Makarov thì bỗng thấy hai hàng nước mắt chảy ra từ khóe mắt ông. Yelena nhớ lại ban nãy trước khi đi, mình còn an ủi Makarov “Sẽ quay lại nhanh thôi!”, nhưng không ngờ mới chưa tới nửa tiếng đồng hồ mà căn hộ của Victor đã hóa thành tro! 

“Cha, đừng buồn nữa, chúng ta đi thôi, may mà chúng ta không sao cả!” - Yelena an ủi Makarov.

Makarov quệt nước mắt trên má, tức giận nói: “Ta và bọn chúng quyết không đội trời chung!” - Nói xong, Makarov bước thật nhanh, đi thẳng về phía trước. Hàn Giang và Yelena, Từ Nhân Vũ vội vàng đuổi theo sau.

4

Trong căn hộ của Victor, lửa cháy bùng bùng, cảnh sát đang trấn an hàng xóm xung quanh. Ilyushin và Ivan Pavlov bước vào căn hộ của Victor trước tiên, cửa sổ và tường bên ngoài căn hộ bị tiếng nổ phá hủy hoàn toàn, phía ngoài cửa chính bên này vẫn còn khá ổn. Ilyushin và Ivan Pavlov kiểm tra từng căn phòng, không phát hiện thấy bất cứ thi thể nào. Ilyushin vô cùng nghi ngờ: “Lẽ nào Yelena không hề tới đây? Vậy vụ nổ này là thế nào? Do ống dẫn khí ga?”

“Đây rõ ràng là hành vi cài nổ!” - Ivan Pavlov nói, anh vừa mới băng bó xong cánh tay bị miếng gạch cào rách.

“Cài nổ? Là ai ra tay? Lẽ nào là do Yelena cài rồi đợi chúng ta xuất hiện?”

“Rõ ràng không phải, theo tôi thấy thì kíp nổ được cài đặt bên tường phía ngoài cầu thang, mục tiêu của chúng không phải là chúng ta mà là Yelena, Hàn Giang và Makarov!”

“Muốn cho Yelena và Hàn Giang nổ tung? Vậy đó có thể là ai?”

“Anh có nhớ tôi đã từng giới thiệu với anh về tổ chức bí ẩn không?”

Ilyushin nhớ lại Ivan Pavlov đã từng kể với mình về tổ chức bí ẩn từng bắt cóc Yelena: “Ý cậu là bọn chúng cũng đã tới thành phố này?”

“Tôi không dám khẳng định, nhưng năng lực của tổ chức bí ẩn đó quả thực không thường đâu!” - Ivan Pavlov vừa nói vừa nhặt mấy túi thực phẩm chưa bị nổ tung gần ghế sô pha trong phòng khách lên rồi nói với Ilyushin: “Quả thực Yelena đã từng đến đây, hơn nữa chắc là họ mới bỏ đi chưa được bao lâu đâu.”

Ilyushin gật gù, cúi người xuống, nhặt từ gầm sô pha bị rách bươm một cuốn sổ dày cộm bị cháy mất một nửa, anh lật giở cuốn sổ này ra, sau đó cười nhạt với Ivan Pavlov: “Đúng vậy, tôi hoàn toàn đồng ý quan điểm của cậu, họ vừa mới rời khỏi đây thôi, đây chính là chứng cứ.” Ivan Pavlov nhận ngay ra tập hồ sơ này, chính là tài liệu liên quan tới Misha mà anh tìm cho Yelena, anh không khỏi toát mồ hôi ớn lạnh, cúi đầu, chờ đợi Ilyushin gào thét và giáo huấn mình một bài. Nhưng lần này Ilyushin lại không làm như vậy, anh ta rất bĩnh tĩnh lấy một túi tang vật, cẩn thận nhét tập hồ sơ vào trong túi tang vật, sau đó liếc Ivan Pavlov một cái, quay đầu bước ra khỏi căn hộ của Victor. Chỉ còn lại một mình Ivan Pavlov đứng chết trân trong căn hộ bị lửa thiêu cháy hoang tàn. 

Cùng với lúc Ilyushin phát hiện ra tập hồ sơ đó, Hàn Giang, Yelena, Makarov và Từ Nhân Vũ đã chui xuống đường cống ngầm khổng lồ của Saint Petersburg.

Hàn Giang dẫn đầu, Từ Nhân Vũ và Makarov đi giữa, Yelena sau cùng, lần lượt chui xuống, xuyên qua cửa sắt kéo, rẽ vào trong một ống cống đã hoang phế. Đi được một đoạn trong đường ống này, Hàn Giang dùng đèn pin soi phía trước, quay đầu lại khẽ nói với Makarov: “Căn phòng nhỏ đó ở ngay trước mặt.”

Hàn Giang không dám mạo hiểm tiến lên phía trước ngay mà ngồi xổm xuống chỗ cách căn phòng nhỏ không xa, quan sát một hồi. Căn phòng nhỏ lúc này không chút ánh sáng, giống hệt như lần trước khi Hàn Giang và Yelena tới, xem ra kể từ sau khi cùng Từ Nhân Vũ gặp phải u hồn từ đó đến nay, u hồn đó đã không quay lại đây.

Nghĩ tới đây, Hàn Giang đứng dậy, bước vào căn phòng nhỏ trước tiên. Bốn chiếc đèn pin soi sáng căn phòng nhỏ dưới lòng đất, mọi thứ vẫn như cũ, Hàn Giang và Yelena không phát hiện ra ở đây có gì thay đổi so với lần trước. Makarov lại cẩn thận quan sát căn phòng này, chiếc giường gỗ nhỏ hẹp, dãy sách trên giá, và cả cây nến đã đốt cháy hết tự bao giờ trên bàn đọc sách. Makarov không bỏ qua bất cứ chi tiết nào, cuối cùng, ông ngồi xuống cạnh chiếc bàn, miệng lẩm bẩm: “Giống hệt như cảnh tượng trong mơ của tôi, chỉ thiếu Misha thôi!”

“Đó là bởi vì bác đã nghe chúng cháu tường thuật lại nên mới mơ thấy ác mộng.” - Hàn Giang nói.  

Makarov đứng dậy, đến bên giá sách xem qua rồi nói: “Hàn Giang, từ chút thực phẩm và sách vở còn sót lại ở đây và cả tờ giấy có chữ viết trên đó mà cậu nói cho thấy, cách đây không lâu u hồn đó đã từng ở đây, có thể vì cậu xâm nhập vào, quấy rối cuộc sống của ông ta nên ông ta đã rời khỏi đây rồi.”

“Rời khỏi đây rồi? Ý bác nói là ông ta vẫn còn một chỗ ở khác?” - Hàn Giang tò mò hỏi.

Makarov gật gù: “Rất có khả năng đó, tuy ở đây hoang phế từ lâu nhưng lại rất gần với lối ra, mà ban nãy chúng ta tiến vào, nên rất dễ bị người ta phát hiện, vì thế cậu xem… ở bên đó, ở đây đều là lối thoát, có thể vào có thể ra, quả là một u hồn thông minh! Nếu tôi đoán không lầm thì đây chỉ là một trong số nơi ở của u hồn, ông ta không chỉ có một nơi ở, như vậy ông ấy mới liên tục đổi địa điểm.”

“Tại sao u hồn lại phải thay đổi chỗ ở nhỉ?” - Yelena hỏi.

“U hồn sống dưới lòng đất là vì không muốn nhìn thấy người khác, đặc biệt là ai đó, tôi nghĩ chắc là u hồn muốn trốn tránh người nào đó!” - Makarov nói.

“U hồn trốn tránh người? Tôi thấy người ta mà nhìn thấy u hồn đó đều sợ chết khiếp, rút cuộc ai trốn ai không biết!” - Từ Nhân Vũ nhớ lại cảnh tượng gặp u hồn mà không khỏi sởn tóc gáy.

5

Bốn người thấy không thu hoạch được gì trong căn buồng nhỏ dưới hầm, nên họ rời khỏi đây bằng một lối đi nhỏ hẹp ở phía bên kia. Họ chui vào lối đi chật hẹp đó rồi đi men theo lối đi mà Hàn Giang lần đầu tiên phát hiện thấy u hồn, tiến về phía trước, rút cuộc, họ lại tới trước miệng ba đường cống ngầm song song nhau. Hàn Giang chỉ vào ba đường cống ngầm này, giới thiệu với Makarov: “Đường cống ngầm bên trái là nơi mà ban nãy chúng ta đi ra, đường ở giữa là đường mà tôi và Yelena trước đây gặp phải một bầy chuột to…”

“Không, không phải một bầy chuột to mà là hàng ngàn hàng vạn con chuột!” - Yelena vẫn nhớ như in lần gặp đàn chuột hôm đó.

“Đúng thế, hàng ngàn hàng vạn con chuột chiếm cứ trong ống cống, không nhìn thấy điểm tận cùng! Bởi yậy sau đó chúng tôi đã chui vào ống cống bên phải, kết quả thì đã tới quảng trường Cung điện Mùa Đông và phát hiện ra mảnh vải đó!” - Hàn Giang chỉ ống cống bên phải nói.

Makarov nhìn nhìn ống cống ở giữa, rồi lại nhìn ống cống bên phải, cuối cùng chỉ vào ống cống bên phải nói với Hàn Giang: “Nghe cậu nói thế thì chúng ta chỉ có cách đi đường này thôi.”

Hàn Giang gật đầu, bốn người theo đội hình cũ chui vào đường ống cống bên phải. Giống như lần trước, họ đã đến một đại sảnh dưới lòng đất, ở đây xuất hiện rất nhiều đường cống, Màn Giang dẫn mọi người đến trước một đường ống gạch đỏ, nói với họ: “Lần trước chúng tôi đã theo ống cống gạch đỏ này đến quảng trường cung điện Mùa Đông.”

Bốn người lại chui vào ống cống gạch đỏ, họ đi rất nhanh đến ống cống dồi dào nước, men theo lối đi nhỏ hẹp bên mép ống cống chưa được bao lâu thì đã tới cạnh miệng cống thông lên quảng trường Cung điện Mùa Đông. Chui vào dưới miệng cống, Hàn Giang chỉ lên trên, nói: “Đây chính là nơi lần trước phát hiện thấy tấm vải trắng”.

“Phía trên là quảng trường Cung điện Mùa Đông ư?” - Makarov hỏi.

“Đúng vậy, nhưng đương nhiên không phải là ở chính giữa quảng trường, nếu không thì chúng ta sẽ bị mọi người ở đó quây lại xem mất. Khà khà!” - Hàn Giang cười nói.

Makarov nhìn lên trên, những chiếc lỗ trên nắp cống lộ ra hai tia ánh sáng, rọi xuống thành cống ẩm ướt, “Xem ra bên trên trời đã sáng rồi!” - Makarov lẩm bẩm.

“Chúng ta đã ở dưới này cả đêm rồi đấy!” - Từ Nhân Vũ nói.

Yelena nhìn Hàn Giang, hỏi: “Vậy sau đây chúng ta nên đi đâu? Xem ra hôm nay chúng ta không may mắn lắm, không gặp được u hồn đó!”

“Đúng thế! Hôm nay u hồn đó hình như mất tích rồi!” - Hàn Giang nhìn lên nắp cống phía trên đầu, anh rất muốn lên trên để hít thở chút không khí trong lành, nhưng lí trí nhắc với anh rằng, làm như vậy chỉ tổ hỏng việc.

Makarov quay lại lối đi lênh láng nước cống, chỉ phía trước, nói với mọi người: “Trong tình hình không có mục tiêu thì tiếp tục tiến lên phía trước!”

Hàn Giang gật đầu, bốn người nghỉ ngơi một lúc rồi lại tiếp tục lên đường. Đường phía trước Hàn Giang chưa từng đi qua, nên anh trở nên vô cùng cẩn thận, bước chân cũng chậm rãi hơn. Đi được một đoạn khá dài, Hàn Giang phát hiện đường ống này uốn khúc quanh co, hơn nữa càng tiến về phía trước, độ uốn lượn càng lớn, anh không biết đường cống này sẽ đưa mình đến đâu.

Một tiếng đồng hồ sau, sát tường của đường cống này lại xuất hiện một đường cống khác. Hàn Giang lấy đèn pin soi về phía trước, trong đó rất khô ráo, nhưng cũng rất âm u, rõ ràng đây không phải là một cái cống, mà là một đường ống không biết sẽ thông tới đâu.

Hàn Giang trở nên do dự, sẽ đi theo đường ống dưới chân này tiến về phía trước hay là chui vào đường cống bên cạnh? Yelena và Makarov cũng đang quan sát lối đi này, Makarov phán đoán: “Đường ống này có vẻ như đã hoang phế rồi, nước thải trong đường ống chảy về phía trước, tôi đoán phía trước chắc là có một lối ra. Hiện giờ chúng ta phải đi tìm u hồn đó chứ không phải là để ra ngoài, bởi vậy tôi đề nghị sẽ đi vào trong lối đi bên cạnh đường cống bên phải đó.”

“Hơn nữa u hồn chắc là sống trong đường ống hoang phế!” - Hàn Giang hoàn toàn đồng ý với đề nghị của Makarov.

Vậy là bốn người chui vào trong đường ống hoang phế. Trong đường ống hoang phế này, bốn người đi rất xa nhưng vẫn chưa phát hiện ra ngã rẽ khác, đường ống hoang phế này giống như một mê cung không có điểm kết thúc, lúc thì sang trái, lúc thì sang phải, lúc thì lên trên, lúc lại trải dài xuống dưới. Từ Nhân Vũ đi sau Hàn Giang oán thán: “Cứ đi mãi thế này thì bao giờ mới đến nơi đây?”

Hàn Giang không đáp lại, anh tiếp tục dẫn mọi người đi một đoạn nữa thì phía trước xuất hiện một ngã rẽ hình chữ T...

6

Ngã rẽ hình chữ T? Lòng Hàn Giang bỗng chốc trở nên bất an, lẽ nào lại sắp phải đối diện với sự lựa chọn? Anh đến ngã rẽ hình chữ T, một đường ống hướng đông, tây xuất hiện trước mặt mọi người. Hàn Giang phát hiện đường ống hướng tây đã bị gạch đá chặn đứng tự bao giờ, chỉ có đường ống phía đông là vẫn có thể đi được. Anh cũng không biết nên làm thế nào, trong lòng đã cảm thấy như trút được gánh nặng vì vừa không cần phải lựa chọn, lại vừa không đối diện với đường cụt. 

Makarov vốn cẩn thận, đã bước tới trước đường ống bị bịt kín, tỉ mẩn quan sát chỗ bị bịt; ở đây mạng nhện giăng đầy, tích rất nhiều bụi, xem ra đã rất lâu rồi không có người tới đây. Makarov quan sát một lúc rồi mới yên tâm chỉ vào đường ống hướng đông, nói:

“Đường ống hướng tây đã bị bịt kín từ lâu rồi, nhưng mong rằng đường cống này đừng có bị bịt kín!”

Đường ống trải dài về phía đông không có nước thải, xem ra cũng sớm bị hoang phế từ lâu, đường ống này không những không bị bịt hẳn như Makarov lo lắng, mà ngược lại càng đi càng dài, như không có điểm kết thúc. Hàn Giang thầm ước lượng, đi mấy cây số trong này rồi mà sao vẫn chưa đến điểm kết thúc. Anh vừa mệt vừa khát, nhưng dùng đèn pin soi về phía trước thì chỉ có một vùng tối đen, vẫn không nhìn thấy lối ra nào cả.

“Chúng ta nghỉ ngơi ở đây một chút nhé!” - Hàn Giang rút cuộc đã dừng lại, đề nghị.

Yelena và Từ Nhân Vũ cũng đang có ý định này, Makarov sức còn yếu hơn, vậy là bốn người tựa vào tường ống, ngồi bệt xuống đất. Hàn Giang lấy đồ ăn trong túi mang theo ra: “Thức ăn chúng ta mang theo có hạn, hơn nữa chúng ta cũng không thể tồn tại dưới thế giới ngầm này lâu được, bởi vậy tôi nghĩ: nếu không tìm thấy u hồn đó thì chúng ta cũng nên tìm thấy lối ra trước khi trời tối. Sau khi trời tối, có thể ra ngoài ăn chút gì đó, hít thở không khí.”  

“Tôi thật sự không thể tưởng tượng nổi, nếu chúng ta mãi vẫn không thu hoạch được gì thì phải làm thế nào đây? Lẽ nào cứ đi mãi như vậy?” - Ỵelena bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng.

Makarov an ủi Yelena: “Đừng sốt ruột con gái, nhất định chúng ta sẽ tìm thấy u hồn đó, Hàn Giang nói rất có lý, nếu hôm nay không thu hoạch được gì, thì chúng ta cũng nên tìm thấy đường ra trước khi trời tối.”

Bốn người ăn hết chỗ đồ ăn mang theo, sau đó tựa vào tường nghỉ ngơi, nhưng quả thực họ đã quá mệt mỏi, bốn người ngủ thiếp đi lúc nào không biết. Trong cơn ngủ say, Từ Nhân Vũ đã mơ thấy những năm tháng mình đi du học...

Đó là tại Berlin, London hay là tại Stockholm? Từ Nhân Vũ quả thực không nhớ rõ nữa, nhưng anh vẫn nhớ như in năm đó lạnh giá khác thường, đó là một mùa đông lạnh giá nhất mà anh từng trải qua trong đời. Anh cuộn người trong chiếc áo khoác cũ rách, đội gió tuyết bước trên những con phố xa lạ, anh tin rằng với bộ dạng của mình lúc đó nếu ngồi ven đường thì chắc chắn sẽ có người tốt bụng quẳng ình một vài đồng xu.

Anh tới trước cửa một quán ăn, nhìn chằm chằm vào tủ kính nhà hàng sát ven đường, những chiếc bánh ngọt đẹp mắt xếp ngay ngắn trong đó, khiến Từ Nhân Vũ vốn đang bụng đói cồn cào, thèm nhỏ dãi. Anh lần mò ví tiền trong túi áo, trống rỗng, còn cả giấy tờ của mình nữa cũng đã quá hạn nhiều ngày. Anh ngẫm nghĩ, chần chừ hồi lâu, rút cuộc cũng đẩy cửa bước vào nhà hàng này. Anh gọi rất nhiều món ăn ngon, đương nhiên còn có cả những chiếc bánh ngọt đẹp mắt mà anh vừa nhìn thấy trong tủ kính.

Sau khi ăn như lũ cuốn, Từ Nhân Vũ đứng dậy bỏ đi, nhân viên phục vụ trong nhà hàng chặn ngay anh lại,

“Quý khách, anh vẫn chưa thanh toán?”

Từ Nhân Vũ sững sờ chốc lát, sau đó anh ngửa hai tay ra: “Tôi không có tiền.”

“Không có tiền? Anh muốn ăn quỵt bữa ăn này sao?” - Một giọng nói vang lên từ sau lưng Từ Nhân Vũ.

Anh quay đầu lại nhìn, là ông chủ của nhà hàng, một gã bẻo tròn béo trục. “Xin lỗi... thưa ngài, tôi có thể làm thuê cho ngài để trả nợ” - trong lòng Từ Nhân Vũ bắt đầu hối hận về hành động ngu xuẩn của mình.

“Không! Chúng tôi không cần!” - Gã béo gào lên với Từ Nhân Vũ.

Từ Nhân Vũ không biết phải làm thế nào. Gã béo đó lại gần Từ Nhân Vũ, nhả ra từng chữ từng chữ qua kẽ răng: “Mày là người Trung Quốc hả? Mày là thằng Trung Quốc ăn quỵt, tao sẽ tống cổ mày đến cảnh sát.”

Từ Nhân Vũ vừa cảm thấy nhục nhã vừa cảm thấy hoảng sợ, anh run rẩy nói với gã béo: “Không! Ngài bảo tôi làm gì cũng được, nhưng xin đừng đưa tôi đến cảnh sát”. Nhưng gã béo vẫn nhất định không buông tha, Từ Nhân Vũ lùi lại phía sau, đột nhiên, tay anh chạm vào chiếc đĩa đặt trên bàn phía sau lưng. Anh không thể đi gặp cảnh sát, anh hạ quết tâm, vớ ngay chiếc đĩa đập mạnh vào gã béo đang áp sát mình. Trông to béo hung tợn là vậy nhưng không ngờ gã lại chịu không nổi cú đập đó, Từ Nhân Vũ vừa đập một cái gã béo đã trợn mắt trắng dã, đổ xầm xuống mặt đất.

Từ Nhân Vũ thấy vậy liền bất chấp tất cả lao ra khỏi cửa hàng, nhưng anh chưa chạy được bao xa thì bị cảnh sát đuổi theo. Một chiếc xe cảnh sát hú còi truy đuổi, còn anh đang chạy thục mạng trên vỉa hè. Từ Nhân Vũ biết là không ổn, anh thấy có một ngõ nhỏ ven đường, xe cảnh sát sẽ không lao vào đó được, nên liền chui tọt vào đó. Xe cảnh sát lao lên vỉa hè, chặn ngang đầu ngõ, cảnh sát nhảy xuống xe, cầm dùi cui xông lên. Từ Nhân Vũ chạy thục mạng về phía trước, nhưng không ngờ đúng lúc anh đang định lao ra khỏi đầu kia của con ngõ thì hia cảnh sát cao to đã chặn đứng trước mặt. Anh quay đầu nhìn lại, cảnh sát phía sau đã đuổi đến, anh không còn đường tháo chạy…

7

Từ Nhân Vũ bị mấy tay cảnh sát cao to đè bẹp xuống nền tuyết, anh gào thét thảm thiết, giãy giụa, nhưng tất cả đều vô ích. Anh bị cảnh sát áp tải lên xe trong ánh mắt tò mò của mọi người. Anh mang theo sự nhục nhã, hổ thẹn và đau đớn đến đồn cảnh sát, rồi anh bị nhốt vào phòng tạm giam cùng với mootj cô gái điếm, lưu manh, mấy gã nghiện hút, thành viên xã hội đen, toàn những cặn bã của cái thành phố này.

Cô gái điếm ăn mặc hở hang lao tới, sờ mó khắp người Từ Nhân Vũ, miệng thốt ra toàn lời tục tĩu châm chọc anh, cuối cùng cô này nhoài lên người Từ Nhân Cũ cười lớn: “Này anh chàng Trung Quốc, em lấy rẻ thôi, có nhu cầu không?”

Ngay sau đó một gã nghiện không biết lấy từ đâu ra một ống kim tiêm, nói với Từ Nhân Vũ: “Sao rồi, có muốn thử một phát không? Tao đảm bảo mày sẽ có cảm giác như được lên thiên đường vậy, ở đó mày có thể trông thấy thượng đế, khà khà…”

Gã nghiện vẫn chưa dứt lời thì đã bị một gã vạm vỡ xăm trổ đầy mình quẳng qua một bên, gã này dẫn theo vài người áp sát Từ Nhân Vũ, cười nhạt: “Này! Mới đến hả, mày có biết ai là đại ca ở đây không? Để tao nói ày biết”. Nói xong, gã vạm vỡ nhấc bổng Từ Nhân Vũ lên giống như nhấc một con gà con, đồng thời giơ nắm đấm đe dọa. Từ Nhân Vũ vô cùng hoảng sợ, lúc này gã nghiện cầm kim tiêm và cả ả gái làng chơi già nhìn phát ói, cũng xông tới sờ mó, đâm chọc cơ thể Từ Nhân Vũ. Từ Nhân Vũ không thể chịu đựng được nữa, anh cầu cứu cảnh sát, nhưng cảnh sát chẳng buồn để ý đến anh, rồi nắm đấm nặng trịch của gã vạm vỡ giáng xuống người Từ Nhân Vũ, anh tuyệt vọng kêu gào…

Từ Nhân Vũ mở trừng mắt, bốn bề tối thui, anh biết mình vẫn đang ở trong đường cống ngầm hoang phế. Đột nhiên, cảm giác có thứ gì đó long lá đang ngọ nguậy trên đùi mình, anh giật bắn mình, mò lấy đèn pin bên cạnh, bật lên, soi về phía đùi, một vật lông lá đen thui, đó là cái gì? “Á!... chuột!” - Từ Nhân Vũ hét lên thất thanh rồi nhảy cẫng lên. Lúc này anh mới phát hiện ra, trên người Hàn Giang, Yelena và Makarov cũng đầy chuột bò lên. Bên cạnh bốn người đột nhiên xuất hiện mấy chục con chuột to béo.

Từ Nhân Vũ hoảng hốt hét lên khiến cả đường cống ngầm vọng lại tiếng vang, kinh động cả đến những người còn lại. Hàn Giang, Yelena và Makarov vội vàng đứng dậy hất lũ chuột trên người xuống. Yelena hoảng hốt hét lên: “Lũ chuột này ở đâu ra vậy?”

Hàn Giang lấy đèn pin soi xuống đất, mấy chục con chuột bỏ chạy về phía bóng tối, anh chạy cà nhắc vài bước về phía trước, quay lại nói với mọi người: “Lũ chuột chạy về phía trước, chúng ta cũng chạy theo bọn nó xem sao!”

“Phía trước là nơi nào? Không phải là hang ổ của lũ chuột chứ? Em sợ chuột nhất đấy!” - Yelena vẫn chưa hết hoảng hốt.

“Cô đúng thật phí lời, hiện giờ chúng ta ngoài việc tiến về phía trước thì còn có đường nào khác để đi đâu, đang định nghỉ ngơi ở đây một lúc thì lũ chuột đó cũng không để yên!” - Từ Nhân Vũ oán thán.

Makarov nhìn nhìn đồng hồ, đột nhiên hét lên: “Không được, ban nãy chúng ta ngủ thiếp đi, giờ đã bốn giờ chiều rồi!”

“Bốn giờ chiều? Vậy trên mặt đất chắc là trời sắp tối rồi!” - Yelena nói.

“Xem ra chúng ta phải mau đi thôi” - Hàn Giang lắng trong lòng, anh cũng không ngờ mình lại ngủ lâu thế. Bốn người không nói thêm gì nữa, lại tiếp tục đi về

phía trước. Nhưng họ chưa đi được bao xa thì lại gặp phải một ngã rẽ hình chữ T. Đúng lúc mọi người đang không biết nên làm thế nào thì Hàn Giang bỗng nhiên phát hiện ra hình như chỗ này anh đã từng đi qua, anh cẩn thận quan sát, rồi đột nhiên hét lên: “Toi rồi, sao chúng ta lại đi đến đây?”

“Đây là đâu?” - Yelena hỏi.

Hàn Giang giải thích: “Em quên rồi sao? Lần trước chúng ta từ ống cống ở giữa đã đi đến đây, kết quả vừa rẽ một cái thì gặp phải hàng ngàn hàng vạn con chuột cống, còn hiện giờ chứng ta đến đây từ một đường ống khác, nếu chúng ta tiếp tục đi thẳng thì chính là nơi đã gặp bọn chuột!”

“Sao cơ? Anh nói là phía trước sẽ xuất hiện hàng ngàn hàng vạn con chuột?” - Yelena tuy đã nhận ra chỗ này nhưng vẫn không dám tin, cô dùng đèn pin soi về phía trước, đường cống tối om, không trông thấy gì khác lạ, nhưng khi cô quét ánh đèn xuống đất và lên tường thì đột nhiên phát hiện ra: trên mặt đất và trên tường của đường ống trước mặt bò kín những con chuột to đen sì!

8

Yelena sợ đến nỗi đánh rơi cả đèn pin xuống đất, “Sao chúng ta lại đi đến đây? Thảo nào lúc nãy có chuột bò lên người em, hóa ra chỗ chúng ta nghỉ chân gần hang ổ của bọn chuột như vậy! Đáng sợ quá!” - Yelena run rẩy nói.

“Anh cũng không biết, tóm lại chúng ta đã đi một vòng lớn dưới cống ngầm.” - Hàn Giang nói.

“Nói như vậy thì chúng ta chỉ cần rẽ một cái là có thể ra khỏi cống ngầm?” - Từ Nhân Vũ hỏi.

“Đúng vậy, nhưng tôi không muốn bỏ cuộc giữa chừng!” - Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

“Anh định làm gì?” - Yelena hỏi.

“Anh muốn đi qua đó!”

“Anh muốn đi qua đoạn ống đầy rẫy chuột bọ đó sao? Anh điên rồi!” - Từ Nhân Vũ làu bàu.

Makarov phủi phủi vai, nói: “Hàn Giang, tôi ủng hộ cậu, nhưng cậu phải nghĩ cho kĩ, có lẽ nếu rẽ thì chẳng mấy chốc sẽ ra được ngoài, còn nếu cứ đi thẳng thì sẽ còn vô số những nguy hiểm đang chờ đợi chúng ta.”

“Cháu nghĩ kĩ rồi, ở đây tụ tập bao nhiêu là chuột, vốn dĩ đã rất không bình thường rồi, cháu nghĩ nếu chúng ta đi thẳng thì nhất định sẽ phát hiện ra điều gì đấy!” - Hàn Giang nhìn Makarov khẳng định.

Makarov gật gù, nói với mọi người: “Được thôi, bây giờ mọi người nghe tôi chỉ huy, trước tiên hãy dùng dây buộc chặt ống quần và ống tay áo lại. Sau đó lấy thứ gì đó trùm đầu lại rồi đi theo tôi, đi thật nhanh qua đấy, nhớ là đừng có nhìn, đừng có kêu, chỉ tập trung đi qua, bất luận xảy ra chuyện gì cũng không được dừng lại!”

Hàn Giang, Yelena và Từ Nhân Vũ lấy dây thừng ra, buộc chặt ống quần và cổ tay áo lại, Makarov lại dặn dò: “Ngoài ra, tốt nhất là chúng ta chia thành hai nhóm tiến lên phía trước, tiến sỹ, anh với tôi một nhóm. Hàn Giang, cậu và Yelena một nhóm. Nhớ này Hàn Giang, từ bé Yelena đã sợ những con lông lá này rồi, nếu như có chuột rơi lên người Yelena thì cậu hãy giúp nó đuổi chúng đi nhé!”

Hàn Giang nhìn Yelena, gật gật đầu với Makarov. Makarov và Từ Nhân Vũ chuẩn bị xong xuôi, hai người vịn vào nhau, tiến vào đường cống nhung nhúc chuột, Hàn Giang lấy vai đỡ Yelena cùng tiến lên theo.

Thứ mềm nhũn dưới chân không phải là thảm mà là từng đàn chuột. Bọn chuột kêu rống lên thảm thiết, Hàn Giang mặc kệ, cố gắng hết sức giữ bình tĩnh, dần dần, chân anh cũng mất cảm giác, bước từng bước lên phía trước như một cái máy... Đột nhiên, một con chuột to tướng rơi lên tóc Yelena, Yelena hét toáng lên thất thanh, Hàn Giang vội vàng tóm lấy con chuột đó quăng đi.

Phía trước, một vùng hơi nước trắng xóa che kín tầm nhìn của Hàn Giang, anh trông thấy Makarov và Từ Nhân Vũ đã tiến vào trong vùng hơi nước đó. Anh cảm thấy nóng nực, bức bí, nhiệt độ ở đây đột nhiên cao hơn ban nãy. Hàn Giang đã bắt đầu hiểu ra tại sao ở đây lại tập hợp nhiều chuột cống đến vậy, bởi trong mùa đông lạnh giá khô hạn thì ở đây ấm áp và ẩm ướt hơn những chỗ khác.

Hàn Giang hoàn toàn không nhìn rõ phía trước, anh nhắm chặt mắt lại, đỡ Yelena tiếp tục tiến lên phía trước. Khoảng hơn chục phút sau, chân anh rồi cũng đã có cảm giác trở lại, biết đôi chân mình lại đạp lên nền đất cứng rắn, anh mở mắt ra nhìn Yelena trong tay mình, cô vẫn đang tựa vào ngực anh, nhìn lại phía sau thì chỉ trông thấy làn khói trắng mù mịt khắp cả đường cống, hàng ngàn hàng vạn con chuột đã không còn thấy tung tích nữa.

“Xem ra chúng ta đã đi qua được rồi!” - Makarov nói với Hàn Giang.

“Đúng vậy, chỉ có điều không biết phía trước sẽ thông tới đâu?”

Phía trước vẫn là một vùng tối đen, bốn người lại theo đội hình cũ, tiếp tục tiến lên phía tmớc. Đi được khoảng nửa tiếng mà đường cống này vẫn chưa có điểm kết thúc. Hàn Giang cẩn thận rón rén dẫn đầu, đột nhiên, anh phát hiện ra cạnh tường của đường cống đang đi xuất hiện một đường cống nhỏ hẹp, bên trong lập lòe những đốm sáng...

9

Hàn Giang trông thấy những đốm sáng đó liền lập tức nghiêng người áp vào tường cống, ra hiệu ọi người dừng lại. Hàn Giang quay đầu lại, dùng tay chỉ lên lường cống, khẽ nói: “Bên trong có ánh sáng!”

Hàn Giang và Yelena móc súng ra, cẩn thận rón rén rẽ vào đó, tiến vào đường cống nhỏ hẹp. Ánh sáng phát ra từ một cánh cửa đá, bên trong cửa đá có gì nhỉ?

Mỗi bước đi của Hàn Giang và Yelena đều vô cùng cẩn trọng, đi được khoảng bốn mươi bước, hai người đã tới cạnh cửa đá. Hàn Giang dùng mắt ra hiệu cho Yelena, sau đó đạp cửa xông vào, Yelena bám sát theo sau, cũng xông vào cửa đá đó. Nhưng họ vô cùng thất vọng khi bên trong cánh cửa đá không có người nào cả, lại càng không có u hồn.

“Lại là một căn phòng nhỏ dưới lòng đất!” - Makarov sau khi tiến vào thốt lên.

Căn phòng nhỏ dưới lòng đất này được tạo thành bởi những tảng đá khổng lồ, to hơn một chút so với căn phòng phát hiện trước đây, còn những thứ khác thì không có gì là không giống, vì đến ngay cả đồ đạc bày biện cũng tương tự căn phòng kia. Thế nhưng khi Makarov nhìn bốn bức tường xung quanh căn phòng và trần nhà, thì ông bỗng sững sờ. Hàn Giang, Yelena và Từ Nhân Vũ cũng sững sờ, vì bốn bức tường và trần nhà của căn phòng nhỏ này bị người ta dùng mực đen vẽ kín những ký hiệu và văn tự đủ hình đủ dạng.

“Toàn là những chữ viết mà chúng ta không biết, còn cả kí tự bí ẩn nữa! Đây lẽ nào chính là nhà của u hồn?” - Yelena than thở.  

“Mọi người xem, đó chính là văn tự Tây Hạ” - Từ Nhân Vũ chỉ lên những kí tự chi chít trên trần nhà, ngạc nhiên nói.

Hàn Giang và Makarov cũng đã nhìn thấy: “Đúng vậy, đó chính là văn tự Tây Hạ, còn cả trên tường nữa!”

- Trên một vách tường Hàn Giang cũng phát hiện ra chữ Tây Hạ.

“Tôi còn phát hiện ra cả chữ Phạn của Ấn Độ cổ, còn cả… chữ Kharosthi, chữ Tocharian! Nếu như tôi không nhầm thì ở đây còn có rất nhiều văn tự của phương Đông cổ xưa, hơn nữa không ít văn tự hiện đã thất truyền!”

- Từ Nhân Vũ chỉ lên một mặt tường khác nói.

“Đây chính là nhà của u hồn Misha!” - Makarov lẩm bẩm.

“Mọi người có còn nhớ tập hồ sơ mà Ivan Pavlov lấy về không? Trong đó nhắc đến việc sau khi Misha bị đưa vào bệnh viện tâm thần, ông ta đã viết vẽ lên tường bệnh viện rất nhiều văn tự phương Đông mà không ai hiểu nổi!” - Yelena nhắc nhở mọi người.

Từ Nhân Vũ lại quan sát tỉ mỉ những chữ trên tường và trần nhà, đặc biệt là những văn tự Tây Hạ, anh lắc đầu: “Nếu có Đường Phong ở đây thì tốt quá, tuy tôi có thể nhận ra đó là văn tự Tây Hạ, nhưng không hiểu nghĩa của chúng”.

“Đúng vậy! Không biết Đường Phong hiện giờ sao rồi!” - Hàn Giang vô cùng lo lắng.

Makarov bước tới trước giá sách, trên đó bày kín các loại sách khác nhau, có những cuốn rõ ràng thường xuyên được người ta mở ra đọc. Ông lại tới bên bàn đọc sách, trên bàn là một tờ giấy đã hơi ngả vàng có một dòng chữ Nga được viết nắn nót bằng thể thư pháp. Makarov nhìn thấy dòng chữ này, đôi mắt ông bỗng mở to, bởi vì ông lại nhìn thấy câu nói quen thuộc đó: "Đối với thượng đế, chúng ta đều là Nekhlioudov, đối với cuộc sống, chúng ta đều là Meche Kim Duke!”.

“Đây đúng là bút tích của Misha!” - Makarov khẳng định.

“Giờ thì chứng ta có thể chắc chắn là Misha vẫn chưa chết, hơn nữa còn sống tới giờ, nhưng ông ta đúng là u hồn đó sao?” - Yelena nói.

“Misha! Anh ở đâu? Xin anh hãy ra đây. Tôi là Makarov. Năm đó trong đội thám hiểm, các anh đều gọi tôi là Ivan, lẽ nào anh quên tôi rồi sao?” - Trong căn phòng nhỏ dưới lòng đất, Makarov đột nhiên hét vang.

Hàn Giang và Yelena lại nắm chặt súng, họ sợ u hồn đáng sợ đó sẽ đột nhiên từ đâu chui ra, nhưng Makarov kêu gọi hồi lâu mà u hồn vẫn không xuất hiện trong căn phòng nhỏ, cũng không thấy bóng dáng Misha đâu, chỉ có ánh nến lay động trong âm thanh vọng lại bởi những tiếng hét của Makarov.

10

Makarov hét mệt liền ngồi phịch xuống, Từ Nhân Vũ cũng tựa vào bàn đọc sách nghỉ ngơi, Yelena vẫn căng thẳng nhìn chằm chằm căn phòng đáng sợ của u hồn. Hàn Giang giương súng, chầm chậm bước ra khỏi nhà của u hồn, đến một đường cống nhỏ hẹp. Bóng anh dưới ánh nến hiện lên cao gầy, đột nhiên, anh phát hiện ra một cái bóng khác phản chiếu lên bề mặt miệng đường cống, ngoài đó có người!

Nghĩ tới đây, Hàn Giang định thần lại, sau đó bước nhanh vài bước, lao ra khỏi đường cống nhỏ hẹp, trở lại đường cống to ban nãy. Một bóng trắng lướt qua trước mặt anh rồi lập tức biến mất vào bóng tối của đường cống trước mặt, Hàn Giang giương súng bắn lên ừần một phát, nhưng bóng trắng đó đã không xuất hiện lại nữa.

Yelena, Từ Nhân Vũ và Makarov nghe thấy tiếng súng nổ liền tức tốc lao ra khỏi nhà của u hồn - “Sao thế?” - Yelena hỏi Hàn Giang.

“Chính là u hồn đó, chính là u hồn mà chúng ta đã gặp, ông ta đã biến mất ở phía trước!” - Hàn Giang soi đèn pin về phía trước nói.

“Misha..- Makarov lẩm bẩm.

“Còn ngây ra đó làm gì, mau đuổi theo!” - Yelena thúc giục.

Mọi người lúc này mới tỉnh ra, cùng men theo đường cống rộng truy đuổi. Họ chạy chưa được bao lâu thì đường cống vòm vốn cao rộng bỗng biến thành một

đường ống thấp bé hình bầu dục, trong đó còn có nước cống chảy qua. Mọi người chán nản, đành phải bịt mũi, khom lưng, men theo đường cống hình bầu dục tiến lên phía trước.

Bốn người khó khăn lắm mới đi qua được đường cống hình bầu dục ra đến bên ngoài thì lại nhìn thấy hai ngã rẽ. Đối diện với sự chọn lựa, bốn người tức thời không có chính kiến. Hàn Giang quan sát lối đi bên phải, rồi lại nhìn nhìn lối đi bên trái, hai lối đi dường như giống hệt nhau không có gì khác biệt. Đúng lúc Hàn Giang đang mông lung thì đột nhiên lối đi bên trái lóa lên một bóng trắng, không chần chừ, anh lao ngay vào lối đi bên trái. Những người khác chưa kịp hiểu ra chuyện gì nhưng cũng vội vàng lao theo. Hàn Giang chạy rất nhanh, ánh đèn pin soi rọi trong bóng tối lắc lư chao đảo. Anh không nhìn thấy phía trước, không nhìn rõ có phải bóng trắng đó đang ở phía trước hay không, anh càng không thể khẳng định u hồn màu trắng đó có phải là Misha hay là ai khác mà chỉ biết nếu tóm được một tia hy vọng thì không thể bỏ qua.

Cũng không biết họ đã đi được bao lâu trong đường cống, đường cống vốn đang uốn lượn bỗng chốc thẳng tắp. Ánh đèn pin của Hàn Giang lại lần nữa tóm được u hồn màu trắng đó. Anh trông thấy rồi, u hồn màu trắng đó đang ở trước mặt... nhưng sau khi ánh đèn pin của anh đột nhiên lắc mạnh một cái, thì u hồn màu trắng đó lại biến mất trong đường cống thẳng tắp.

Hàn Giang mệt mỏi chạy chậm lại, đầu óc anh tức tốc phán đoán tình huống. Đường cống thẳng tắp, trong ánh đèn pin, u hồn màu trắng đó đột nhiên mất hút trước mắt mình, chỉ có một khả năng, phía trước có ngã rẽ. Hàn Giang nghĩ tới đây liền chạy chậm lại, kéo cò súng, từng bước từng bước tiến lên phía trước thăm dò.

Quả nhiên không nằm ngoài dự đoán của Hàn Giang, chính nơi u hồn màu trắng đó biến mất thì trên tường xuất hiện một cái hố đen. Hàn Giang để ý thấy cái hố này rõ ràng không giống với lối đi xuất hiện trước mặt, giống như gần đây mới được người ta tạo ra vậy, trên mặt đất vẫn còn ít gạch đá rơi vãi. Hàn Giang dùng đèn pin soi vào trong cái hố đó, một lối đi rất tạm bợ, hơn nữa lại rất chật hẹp. Yelena, Từ Nhân Vũ và Makarov cũng đuổi theo, đứng trước cái hố này, trong lòng mọi người trào dâng hoài nghi. Makarov liếc nhìn Hàn Giang một cái, nói: “Lần này tôi vào trước nhé!”

“Không, để cháu vào trước!” - Nói xong, Hàn Giang không chút do dự bước vào cái hố đó, đi được hơn chục mét trong đống gạch đá vụn nát, bất giác anh lại tiến vào một căn phòng tối đen như mực. Đây lẽ nào lại là một cái nhà căn phòng khác của u hồn?
 

hoahongden12

Active Member

Đường Phong hoảng hốt nhìn xuống phía dưới, anh đột nhiên phát hiện dưới mặt nền được lát bằng những viên đá hoa cương to và đá hoa văn, từng viên từng viên đã đã bị đào lên, rồi từ dưới đó chui lên hàng ngàn hàng vạn con chuột béo núc đen sì. Đại quân chuột cống nhanh chóng chiếm lĩnh mặt sàn của cung điện Mùa Đông...

1

Đúng lúc Hàn Giang, Yelena, Makarov và Từ Nhân Vũ lại chui xuống đường cống ngầm thì Đường Phong và Lương Viện đang ở trong văn phòng của Tymoshenko cũng nghe thấy âm thanh kỳ lạ đêm qua.

Âm thanh đó không lớn, hình như nhỏ hơn âm thanh nghe thấy đêm qua, nên Đường Phong không nhận ra đó là âm thanh gì. Một lúc sau, âm thanh đó biến mât. bên ngoài im phăng phắc, nhưng chẳng mấy chốc ngoài hành lang lại vọng lên tiếng bước chân.

“Có người?” - Đường Phong nghi ngờ nhìn Lương Viện, Lương Viện cũng không biết nên làm thế nào.

Tiếng bước chân đó nặng nề nhưng có nhịp điệu, Đường Phong nghe thấy tiếng bước chân đó không hướng tới văn phòng của Tymoshenko, lúc này anh mới thở phào nhẹ nhõm. “Đêm nay sao lại có thêm nhiều tiếng bước chân như vậy nhỉ?” - Lương Viện thắc mắc.

“Có lẽ là bảo vệ tăng cường tuần tra, cũng có thể là nhân viên ở đây!” - Đường Phong đoán bừa.

Đúng lúc hai người đang thiêm thiếp ngủ, quên đi âm thanh kỳ quái ban nãy, thì âm thanh kỳ dị đó lại vọng lên, lần này, âm thanh này dường như to hơn trước một chút, nhưng chẳng mấy chốc lại biến mất.

Đường Phong và Lương Viện dỏng tai nghe ngóng một hồi, mười lăm phút sau, Đường Phong chắc chắn âm thanh kỳ quái đó thực sự không xuất hiện nữa mới nhắm mắt ngủ. Nhưng anh vừa nhắm mắt, ngoài hành lang lại vọng lên tiếng bước chân. Đường Phong mở trừng mắt, chăm chú lắng nghe tiếng bước chân ngoài hành lang, cũng giống hệt như lần trước, vẫn là tiếng bước chân nặng nề mà có nhịp điệu, nhưng khác ở chỗ, tiếng bước chân đó hình như... đang hướng về phía mình.

Lương Viện cũng cảm nhận được sự khác thường của tiếng bước chân ngoài hành lang, nhưng với tính cách của mình, tuy sợ hãi, cô vẫn nhất quyết muốn ra ngoài xem cho ra nhẽ nhưng Đường Phong đã giữ cô lại, anh khẽ kêu lên: “Em quên mất Tymoshenko nói gì rồi sao? Bất kể bên ngoài xảy ra chuyện gì cũng không được ra. Trừ khi...”

“Trừ khi gì cơ?”

“Trừ khi có người xông vào đây!”

Nói xong, Đường Phong lấy một chiếc bình hoa thủy tinh trong phòng làm việc, rồi nép vào sau cửa đề phòng khách không mời mà đến xông vào. Tiếng bước chân ngoài cửa đó vẫn đang di chuyển về phía văn phòng của Tymoshenko, Đường Phong nắm chặt lấy bình hoa, giơ nó lên đỉnh đầu, vừa lúc đó, tiếng bước chân bỗng đột ngột im bặt. Đường Phong đoán chắc là người đó đang đứng gần cửa, anh nhìn sang Lương Viện, cô cũng đã nhặt một cuốn từ điển dày cộp lên, chỉ đợi cánh cửa mở ra...

Một giây, hai giây, ba giây, năm giây, mười giây... ngoài cửa không chút động tĩnh. Lòng bàn tay Đường Phong đã ra rất nhiều mồ hôi, nhưng tiếng bước chân ngoài cửa lại như đã biến mất vậy. Đường Phong cố nín thở, khẽ cử động người một chút, rồi đột nhiên, tiếng bước chân ngoài cửa lại vang lên. Nhưng lần này, Đường Phong và Lương Viện lại nghe thấy tiếng bước chân đó đã đi xa dần xa dần, hình như xuống tầng dưới, hình như lại biến mất phía đầu hành lang sâu hun hút.

Đường Phong khẽ hạ bình hoa trong tay xuống, thở phào một cái. Lương Viện loáng cái đã đi tới cạnh cửa sổ, vén một góc rèm cửa dày cộm lên, nhìn về phía quảng trường Cung điện Mùa Đông, trên quảng trường không một bóng người, cũng không có gì khác thường.  

Đợi mãi một hồi, Lương Viện oán thán: “Lại là âm thanh kỳ quái, lại là tiếng bước chân, đêm nay đúng là gặp ma rồi!”

“Được rồi, không quan tâm những thứ này nữa, hãy nghĩ tới việc của chúng ta đi!”

“Việc của chúng ta?”

“Chúng ta không thể cứ ở mãi trong văn phòng của Tymoshenko như thế này được, ngày mai anh muốn rời khỏi đây!”

“Rời khỏi đây, chúng ta có thể đi đâu? Khách sạn thì chắc chắn không quay lại được nữa rồi!” - Lương Viện ngạc nhiên.

“Anh vẫn chưa nghĩ ra, nhưng không thể ở lại đây thêm được nữa!” - Đường Phong nói rất kiên quyết.

“Đằng nào ngày mai cũng rời khỏi đây rồi, vậy thì em càng phải ra ngoài thử xem đã xảy ra chuyện gì” - Lương Viện cố chấp nói.

“Không, em không được đi!”

“Em chỉ xem xét ngoài hành lang thôi, tuyệt đối không vào trong cung điện Mùa Đông đâu!” - Lương Viện hứa.

Đường Phong bó tay, đành phải cầm đèn pin, cùng Lương Viện khẽ mở cửa văn phòng. Hai người nhìn qua khe cửa, ngoài hành lang tối đen như mực, không phát hiện ra điều gì khác thường. Lương Viện cả gan đẩy cánh cửa, lách người ra ngoài hành lang, Đường Phong vội vàng theo sau. Hai người vừa rẽ một cái thì đã tới dãy hành lang rộng thênh thang dẫn tới cung điện Mùa Đông. Lương Viện vẫn đi như vô thức tới cánh cửa thông với cung điện Mùa Đông. Đường Phong đã muốn giữ cô lại, nhưng Lương Viện đã lặng lẽ kịp tới trước cánh cửa đó.

Lương Viện đưa tay ra, khẽ đẩy cánh cửa trước mặt. “Cẩn thận, ngộ nhỡ chạm vào thiết bị cảnh báo thì toi đấy!” - Đường Phong khẽ nhắc nhở cô. Lương Viện không đẩy được cánh cửa ra, nên lại dùng sức đẩy thêm lần nữa, nhưng cánh cửa vẫn không nhúc nhích. “Xem ra đêm nay cánh cửa quả thực bị khóa lại rồi!” - Lương Viện khẽ nói.

Đường Phong cũng dồn sức đẩy cánh cửa trước mặt, cánh cửa nặng trịch không hề nhúc nhích. Đường Phong gật đầu: “Đứng như Tymoshenko nói, cánh cửa này buổi đêm đã bị khóa lại.”

“Nhưng sao đêm qua chúng ta lại có thể dễ dàng vào trong cánh cửa đó nhỉ?”

“Có thể là họ đã quên khóa cửa đấy!”

“Nhưng Tymoshenko không cho rằng như vậy!” “Chuyện gì cũng có thể xảy ra!”

Hai người quay lại, Đường Phong vẫn không quên đẩy thử những cánh cửa giống hệt nhau dọc hai bên hành lang. Không khác tình hình đêm qua, các cánh cửa đều khóa; nhưng đúng lúc Đường Phong cho rằng không thể phát hiện thêm được gì, thì một cách cửa bỗng mở ra khi anh vừa vô tình đẩy nhẹ nó...

2

Đường Phong giật thót tim, anh đang do dự không biết nên vào hay không thì Lương Viện đã thoắt cái bước vào căn phòng tối đen phía sau cánh cửa. Đường Phong không thể không vào theo, anh lấy đèn pin trong tay soi khắp một lượt ở đây, đây là một căn phòng giống hệt như văn phòng của Tymoshenko, nhìn cách bày biện trong phòng thì chắc cũng là phòng làm việc.

“Chúng ta hãy nhanh chóng rời khỏi đây thôi, đây chỉ là một phòng làm việc!” - Đường Phong thúc giục Lương Viện.

“Ở đây không có cảnh báo, anh sợ gì chứ? Để em xem tiếp xem sao!” - Lương Viện lúc này lại bạo dạn hơn, dường như cô không còn sợ gì nữa.

Lương Viện đi một vòng trong văn phòng, rồi đến bên cạnh Đường Phong, nói: “Rất giống với văn phòng của Tymoshenko, trước bức tường có kê một kệ sách cũ, trên kệ chất đầy sách đều là sách tiếng Nga, em đọc không hiểu. Phía sau giá sách có một cái lò sưởi rất hào nhoáng, nhưng đã không dùng đến từ lâu rồi, sau này nhà của em cũng phải xây một cái lò sưởi hào nhoáng như vậy mới được.”

“Lò sưởi hào nhoáng? Bây giờ ai còn dùng cái đồ đó nữa, em xem ở đây bây giờ đều dùng khí sưởi rồi!” - Đường Phong không hiểu.

“Anh đúng thật chẳng hiểu biết gì cả! Không chút lãng mạn!” - Lương Viện lườm Đường Phong một cái, nhưng ánh mắt cô ngay lập tức bị thu hút bởi chiếc máy tính đặt trên bàn làm việc. Cô ngồi trước bàn làm việc, nhẹ nhàng bật máy tính lên, Đường Phong lắc đầu, nói:

“Đó là đồ của người khác, chúng ta không nên động vào.”

“Em chỉ thử xem ở đây có lên mạng được không thôi, nếu có thể lên mạng, biết đâu chúng ta có thể..- Lương Viện vừa nói tới đây đã ỉu xìu rồi, cô thất vọng khi phát hiện ra chiếc máy tính này đã cài mật mã.

“Anh có thể giải được mật mã máy tính không?” - Lương Viện quay người lại hỏi Đường Phong.

“Anh đâu có làm nghề tin học!” - Đường Phong nhún vai.

“Nếu có Triệu Vĩnh ở đây thì tốt, em đã từng nhìn thấy anh ấy xâm nhập vào hệ thống máy tính của người khác dễ như trở bàn tay, kể cả máy tính có phức tạp thế nào thì chỉ cần mấy chục giây là anh ấy đã xử lý xong.

Tiến sỹ Từ cũng có tài này, anh ấy cũng là một cao thủ máy tính.” - Lương Viện tự mình độc thoại.

“Tiếc là họ đều không ở đây, chúng ta hãy nhanh chóng rời khỏi đây thôi!” - Đường Phong sốt một thúc giục Lương Viện.

Lương Viện tắt máy tính, hậm hực theo Đường Phong rời khỏi căn phòng này. Hai người trở lại văn phòng của Tymoshenko, đóng chặt cửa lại, Lương Viện cười nói: “Xem ra người Nga có thói quen quên đóng cửa nhỉ!”  

Đường Phong cúi đầu im lặng, hình như không nghe thấy Lương Viện nói gì. “Anh đang nghĩ gì vậy?” - Lương Viện vỗ vỗ Đường Phong hỏi.

“Anh đang nghĩ tới Hàn Giang, nếu anh ấy đã rơi vào tay của Ilyushin hoặc là gặp phải bất trắc gì đó rồi thì chỉ dựa vào hai chúng ta ở lại Saint Petersburg này cũng uổng công, hai chúng ta không thể hoàn thành nhiệm vụ ban đầu được giao.”

“Anh muốn về nước ư?”

“Xem ra chỉ có cách đó!” - Đường Phong vô cùng thiểu não nói.

Hai người không nói chuyện nữa, nằm trên ghế sô pha, ai ngẫm nghĩ chuyện người đó. Lúc trời sáng tỏ, Tymoshenko mang một chút thức ăn đến văn phòng, Đường Phong muốn kể cho Tymoshenko chuyện đêm qua, còn cả chuyện chuẩn bị bỏ đi, nhưng Tymoshenko chỉ nghe một lúc liền nói với Đường Phong: “Đường Phong, tôi nghĩ hai người quả thực đã nảy sinh ảo giác hoặc là lại mộng du rồi!”

Đường Phong định phản bác, nhưng anh chưa kịp thì Tymoshenko đã cắt ngang: “Đường Phong, hôm nay tôi rất bận, khả năng không có thời gian để ở cạnh hai người, ở yên đây chờ đợi nhé, tôi sẽ mang đồ ăn tới cho hai người.”

Cả ngày, quả thực Tymoshenko rất bận rộn, mãi cho tới khi hết giờ làm, anh mới đến văn phòng, mang theo rất nhiều đồ ăn. Đường Phong ái ngại muốn trả tiền cho Tymoshenko nhưng anh ấy kiên quyết không nhận. 

Đường Phong không nói với Tymoshenko chuyện đêm qua nữa, mà nói thẳng với anh ấy chuyện mình định lừ biệt lên đường. Tymoshenko ngẫm nghĩ một lúc rồi hỏi lại Đường Phong: “Anh nghĩ kĩ sẽ đi đâu chưa?”

Đường Phong lắc đầu, đáp: “vẫn chưa nghĩ ra, nhưng tôi không thể tiếp tục ở đây gây thêm phiền nhiễu cho anh được nữa!” - Ngập ngừng một lúc, Đường Phong lại nói: “Quả thực không ổn, thì chỉ còn cách về nước trước thôi!”

“về nước? Vậy cũng tốt, tôi cũng không giữ anh nữa, hai người ở lại đây thêm một đêm nữa, sớm mai trước khi ười sáng, tôi sẽ đến đón hai người rời khỏi đây.” - Tymoshenko nói.

Đường Phong nghe Tymoshenko sắp xếp, nhìn nhìn Lương Viện, rồi gật đầu: “Được thôi, hãy làm theo anh nói đi!”

Tymoshenko vỗ vỗ vai Đường Phong, dặn dò: “Vậy đêm nay hai người ngủ một đêm ở đây, ngày mai trước khi trời sáng tôi sẽ đến đón hai bạn. Nhớ nhé, nhất định đừng bước ra ngoài cánh cửa này!”

Nói xong, Tymoshenko rời khỏi văn phòng. Đêm đen lại lần nữa buông xuống thành phố cận sát vòng bắc cực này, mọi người trên đường phố đang bước đi hối hả. Đường Phong và Lương Viện ăn xong bữa tối, không biết làm gì trong văn phòng của Tymoshenko, nên đành lại nằm trên ghế sô pha, chờ đợi trời sáng. 

3

Đường Phong và Lương Viện lại chìm vào giấc ngủ, khóe miệng Lương Viện hé cười, bởi trong giấc mơ cô đã mơ thấy mẹ mình, mơ thấy thời thơ ấu mẹ đưa cô đi chơi, vui đùa, dạy cô học chữ, đọc thơ Đường...

Vẻ mặt của Đường Phong lại thật đau khổ, nhăn nhó, anh cũng mơ thấy một giấc mơ, một cơn ác mộng dài và đáng sợ…

Trong một đường hầm tối tăm ẩm ướt, Đường Phong đang cùng Hàn Giang khó nhọc mò mẫm bước đi. Phía trước họ lấp lóe một chút ánh sáng, ánh sáng âm u đó lúc yếu ớt, lúc sáng tỏ, lúc xa lắc, lúc lại rất gần. Đường Phong và Hàn Giang đang đi theo những ánh sáng phát ra trong đường hầm, Đường Phong không hiểu tại sao mình lại như thế, tại sao mình lại truy đuổi những đốm sáng này, hình như có một sức mạnh bí ẩn nào đó đang hút lấy anh. Đường hầm không thấy điểm kết thúc, Đường Phong và Hàn Giang càng đuổi thì ánh sáng đó lại càng cách xa họ, xa mãi.

Hàn Giang đã hết kiên nhẫn, anh móc súng ra, bắn hai phát về phía đốm sáng đó. Pằng! Pằng! Hai tiếng súng nặng nề vang lên, trong bóng tối âm u tĩnh mịch của đường hâm vọng lại âm thanh đáng sợ. Phát súng của Hàn Giang rất chuẩn, sau khi tiếng súng nổ, đốm sáng đó đột nhiên biến mất, nhưng chỉ một lúc sau, đốm sáng đó lại lấp lóe trở lại trong đường hầm âm u, hun hút.

“Tại sao chúng ta phải đuổi theo?” - Đường Phong hét lên hỏi Hàn Giang.

“Tôi không biết, nhưng tôi biết đây là nhiệm vụ của ta, sứ mệnh của ta!” - Hàn Giang thở dốc nói.

“Phía cuối đường hầm sẽ là gì nhỉ?” - Đường Phong lại lớn tiếng hỏi.

“Tôi cũng không biết, nhưng tôi biết chúng ta chỉ có cách chạy tới đó thì mới biết được phía cuối đường hầm có gì!”

Rút cuộc, Đường Phong và Hàn Giang cũng tới cuối đường hầm. Đây là một không gian rộng lớn, tối đen, những đốm sáng đó đột nhiên không thấy đâu nữa.

Đúng lúc Đường Phong và Hàn Giang ngạc nhiên thì xung quanh đèn đóm sáng trưng, hai người nhìn xung quanh, thì phát hiện mình đang đứng trong một tòa cung điện nguy nga tráng lệ, tường dát vàng, cột vàng ròng, trần nhà vẽ kín những hoa văn đủ hình đủ dạng, dưới chân là nền nhà lát toàn đá hoa cương và đá hoa văn bóng như gương.

Đường Phong và Hàn Giang hướng về giữa cung điện, ở đó có một điện thờ cao, phía trên là một người mặc áo choàng trắng đứng sừng sững, người đó đang quay lưng lại phía họ. “U hồn màu trắng?” - Đường Phong và Hàn Giang không hẹn mà gặp cùng đồng thanh lẩm bẩm.

u hồn đó từ từ quay người lại, nhìn Đường Phong và Hàn Giang đang ở phía dưới. Đường Phong nhìn rõ khuôn mặt của u hồn đó, không, đó không phải là u hồn, đó là khuôn mặt giống như một người cha hiền từ! Lẽ nào đây chính là u hồn mà mình khổ sở tìm kiếm sao? Đường Phong không dám tin, anh lùi lại một bước, ngước nhìn lên điện thờ trước mặt.

“Hoan nghênh các cậu tới đây!” - Người mặc áo choàng trắng đó rút cuộc đã cất lời rồi.

“Đây là đâu?” - Đường Phong thu hết can đảm hỏi.

“Đây là nhà của u hồn!” - Giọng nói đó sang sảng uy nghiêm.

“Nhà của u hồn?” - Đây rõ ràng là tòa cung điện mà! Đường Phong không hiểu.

“Được rồi, chàng thanh niên, các cậu là hai người may mắn duy nhất được đến đây, các cậu có quyền bước lên điện thờ này, đến đây, các con của ta!” - Giọng nói đó thẳng thắn dứt khoát.

Đường Phong và Hàn Giang giống như đã bị mê hoặc, bước những bước nặng nề lên điện thờ. Mỗi bước bước đi, Đường Phong đều cảm thấy tim mình lại đập mạnh một cái, anh chưa bao giờ nghe rõ tiếng tim mình đập đến vậy, hình như mọi thứ xung quanh đều đã ngưng lại... anh và Hàn Giang lần lượt bước lên điện thờ đó.

“Ông là ai?” - Đường Phong nóng lòng muốn biết vị mặc áo choàng trắng kỳ lạ trước mặt là thần thánh phương nào.

Nhưng người đàn ông mặc áo choàng trắng trước mặt cười không đáp, chỉ nhìn Đường Phong và Hàn Giang. Đột nhiên, Đường Phong cảm thấy điện thờ dưới chân lắc mạnh một cái. “Động đất ư?” - Đường Phong hoảng hốt nhìn xuống phía dưới, anh đột nhiên thấy dưới đó vốn là mặt nền được lát bằng những viên đá hoa cương to và đá hoa văn, nhưng từng viên từng viên gạch bị đào lên, rồi từ dưới những viên đá chui lên hàng ngàn hàng vạn con chuột béo núc đen sì. Đại quân chuột cống nhanh chóng chiếm lĩnh nền của cung điện Mùa Đông, hơn nữa, chúng đã bắt đầu men theo tường và cột của cung điện trèo lên trên. Cột và tường vốn lấp lánh ánh vàng, nhưng chỉ cần những chỗ nào đại quân chuột đi qua, thì ngay lập tức bỗng hóa đen sì. Cung điện lộng lẫy nguy nga bắt đầu rung chuyển, từ từ, từ tò, tường, sàn cung điện bỗng biến thành đường cống ngầm bẩn thỉu, ẩm ướt, cả cung điện đều đen sì. Rồi khi Đường Phong và Hàn Giang quay đầu lại, thì người mặc áo choàng trắng đứng sừng sững trên điện thờ cũng biến mất! Lúc này Đường Phong bắt đầu tin rằng ông ta quả thực không phải là người mà là u hồn.

Đường Phong vẫn cảm thấy điện thờ dưới chân không ngừng lắc lư, hàng ngàn hàng vạn con chuột bắt đầu men theo chân điện thờ bò lên trên. Hàn Giang móc súng ra bắn xuống dưới, nhưng tất cả đều vô dụng. Bọn chuột đó đang leo lên điện thờ, nuốt chửng cả điện thờ, rồi đột nhiên, điện thờ dưới chân Đường Phong và Hàn Giang trong nháy mắt biến thành một đống gạch đổ nát. Chân Đường Phong như đang đạp giữa không trung cao vời vợi, anh hét lên thất thanh, rồi rơi từ trên điện thờ cao chót vót xuống, phía dưới là một biển chuột đen sì...

4

“Á...”, Đường Phong tuyệt vọng hét lên, người co giật một cái rồi bừng tỉnh, anh mở trừng mắt, xung quanh tối đen, đây là đâu? Nhà của u hồn? cống ngầm? Không! Anh nhận ra mình vẫn đang ở trong văn phòng của Tymoshenko, khí sưởi của văn phòng không biết tự lúc nào đã ngừng hoạt động, nhiệt độ tức tốc hạ xuống. Đường Phong bị cơn ác mộng ban nãy làm cho sợ toát mồ hôi, anh quệt mồ hôi trên trán, quay người lại nhìn, Lương Viện không có trên ghế ô pha bên cạnh. Quay người lại lần nữa, Đường Phong đột nhiên phát hiện ra cửa văn phòng đang khép hờ, sao cửa lại mở nhỉ? Đường Phong bật đèn pin, không thấy Lương Viện trong văn phòng. Đường Phong giật thót tim, mọt dự cảm không lành trào lên, chắc chắn Lương Viện lại chạy ra ngoài rồi.

Đường Phong bất chấp tất cả lao ra khỏi cửa phòng, vừa rẽ một cái thì đúng lúc đâm sầm vào một bóng đen, đây là cơ thể mềm mại của Lương Viện. Đường Phong ôm chầm lấy bóng đen trước mặt, khẽ hỏi: “Sao em lại chạy ra đây thế?”

“Em... em lại nghe thấy âm thanh kỳ lạ đó nên muốn ra ngoài xem cho ra nhẽ. Em... em đã nhìn thấy u hồn đó, u hồn của hoàng hậu Một Tạng!” - Lương Viện vẫn hồn xiêu phách lạc giọng run rẩy.

“Sao cơ? Em nhìn thấy u hồn màu trắng lần trước?

Ở đâu?” - Đường Phong như không tin vào tai mình.

“Chính chỗ này, chính trên hành lang này, em trông thấy... trông thấy u hồn đó từ cửa chính đi vào!” - Lương Viện luống cuống chỉ chỉ về phía cánh cửa tinh xảo phía cuối hành lang.

“Cửa không khóa sao?”

“Em không biết, nhưng đúng là em trông thấy... trông thấy u hồn đó đi vào, em không dám vào, sợ đến nỗi bỏ chạy về thì đâm vào anh.”

Phát hiện u hồn ở đây? Xem ra u hồn không chỉ xuất hiện trong gian triển lãm Trung Quốc. Đường Phong tức tốc nghĩ lại toàn bộ sự việc, cuối cùng anh dằn lòng, quyết định lại vào cung điện Mùa Đông xem cho ra nhẽ, bởi vì đây là cơ hội cuối cùng của anh ở Saint Petersburg.

“Đi theo anh!” - Nói xong, Đường Phong kéo Lương Viện đi về phía cánh cửa tuyệt đẹp đó. Đến trước cánh cửa, Đường Phong đưa cánh tay phải run rẩy ra, khẽ đẩy vào cánh cửa nặng trịch nhưng đẹp lộng lẫy trước mặt. Cửa quả nhiên không khóa, nên đẩy nhẹ một cái là mở ra. Đường Phong không dám bật đèn pin, anh kéo Lương Viện, cẩn thận rón rén bước vào cung điện Mùa Đông tối om...

vẫn là gian triển lãm kê đầy kệ tranh mà họ nhìn thấy đêm hôm trước, Đường Phong kéo Lương Viện đi giữa từng dãy kệ tranh, nhưng hai người họ không còn tâm trí đâu để thưởng thức những tác phẩm của các đại danh họa này nữa, bởi vì" không biết lúc nào u hồn đó lại hiện lên trước mắt họ. Khi Đường Phong và Lương Viện rẽ vào một dãy kệ tranh thì đột nhiên phía trước lóe lên một bóng trắng, rồi mất hút trong một gian triển lãm khác. Đường Phong không biết đôi chân đã mềm nhũn của mình di chuyển thế nào, nhưng trong bóng tối, hình như có một sức mạnh nào đó đang dẫn dắt anh và Lương Viện cùng bước vào một gian triển lãm khác.

Dựa vào trí nhớ, Đường Phong phát hiện ra ở đây chính là gian triển lãm lần trước đã từng đến. Anh và Lương Viện đến chính giữa gian triển lãm, nhìn xung quanh, vẫn là một mành tối đen, vô định nhưng không thấy u hồn màu trắng đâu nữa. Đường Phong không kìm được đã bật đèn pin lên, lúc này, anh rất cần một chút ánh sáng, dù đó chỉ là chút ánh sáng yếu ớt.

Đường Phong kéo Lương Viện lại vào một gian triển lãm, vẫn là một vùng tối đen như mực, rồi tiếp đó lại vào một gian khác. Hai người đi xuyên qua từng gian triển lãm thênh thang, trống trải, mọi thứ dường như đều giống thường ngày, nhưng không còn thấy bóng dáng u hồn đó đâu nữa. Có lẽ quả thật đó là u hồn, nó đang ẩn náu trong không khí xưng quanh đây. Đường Phong đang suy luận mông lung thì tới trước một cầu thang lớn. Đây là cầu thang dẫn lên tầng ba, Đường Phong nhìn Lương Viện, ánh mắt như dò hỏi, Lương Viện khẽ gật đầu, hai người lại cùng nhau bước lên tầng ba.

Chẳng mấy chốc họ đã tới gian triển lãm Trung Quốc, nơi có những văn vật Tây Hạ cổ kính. Đường Phong bước tới trước tà trưng bày, lấy đèn pin soi vào trong đó, anh lại nhìn thấy đầu pho tượng phật Lư Xá.

Tượng phật vẫn còn?” - Đường Phong lẩm bẩm.

“Em sợ quá!” - Lương Viện run rẩy nói

“Sợ gì?”

“Em sợ u hồn của hoàng hậu Một Tạng lại bước từ trong pho tượng ra!” - Lương Viện vừa bám chặt cánh tay Đường Phong vừa nói.

“Đừng lo, trên đời này lấy đâu ra u hồn? Kể cả xương sọ của hoàng hậu Một Tạng vẫn còn ở trong pho tượng đi chăng nữa, nhưng em xem, bà ấy hiện giờ không phải vẫn đang rất ổn sao?” - Đường Phong cố gắng hết sức giữ bình tĩnh.

“Nhưng em vẫn sợ…”

“Không phải em muốn vào đây sao? Giờ thì lại sợ à?”

“Em sợ gian triển lãm này, ở đây luôn khiến em có cảm giác bất an!” - Lương Viện run lập cập giải thích.

“Vậy chúng ta nhanh chóng rời khỏi đây thôi!”

Lương Viện gật đầu, vậy là hai người bước ra khỏi khu triển lãm Trung Quốc. Đường Phong dựa vào trí nhớ, đi dọc theo hành lang trên tầng ba hướng về phía cầu thang. Đột nhiên, giữa không gian yên ắng tĩnh mịch của cung điện Mùa Đông, họ nghe thấy một âm thanh...

5

Đó là một giọng đàn ông, nói tiếng Anh, nhịp điệu vừa phải. Người đó cố gắng hạ giọng, nhưng Đường Phong và Lương Viện vẫn nghe thấy từng âm thanh đứt quãng: “Chúng ta không thể đợi thêm được nữa, giờ thì tôi gần như có thể khẳng định, u hồn chính là lão già đó... Đúng! Chính là ông ta, thầy giáp của tôi, ông ta vẫn chưa chết! Chắc chắn ông ta đã phát hiện ra chuyện của chúng ta... Hôm qua tôi đã xuống hầm kiểm tra rồi, bức tường bị chúng ta bịt kín lại bị ai đó đập ra rồi... Đúng vậy, tôi chắc chắn một trăm phần trăm, ông ấy sống dưới cống ngầm, hiện giờ ông ấy đã trở lại cung điện Mùa Đông, không biết chừng ngay lúc này ông ta đang ở cạnh tôi cũng nên... Bởi vậy, chúng ta không thể chờ đợi nữa đâu! Stephen, anh lập tức đem người đến đó lấy kệ tranh ngọc đi, làm theo kế hoạch ban đầu. Việc ở đây tôi sẽ giải quyết, chúng ta sẽ gặp nhau ở New York.”

Đường Phong và Lương Viện nghe xong đoạn hội thoại này kinh ngạc đến nỗi há hốc mồm, cả hai người đồng thời nghe thấy giọng nói đó, hóa ra là... là giọng của Tymoshenko, rõ ràng Đường Phong không thể tin tất cả những điều này. Anh cảm thấy mình đã rơi vào một âm mưu to lớn, không thể thoát ra được. Anh liếc nhìn Lương Vỉện, miệng Lương Viện lẩm bẩm: “Tymoshenko và Stephen là đồng bọn?”

Đầu óc Đường Phong rối tung cả lên, lúc này, anh chỉ có một ý định, nhanh chóng rời khỏi đây, rời khỏi cung điện đáng sợ, khủng khiếp này. Nhưng khi anh kéo Lương Viện vừa mới bước đi được vài bước thì một bóng đen đã loáng qua, tuy không nhìn rõ khuôn mặt người đó nhưng Đường Phong lập tức nghĩ tới Tymoshenko. Bóng đen đó tiến lên phía trước vài bước, Đường Phong và Lương Viện theo phản xạ lùi lại phía sau vài bước. Cứ như vậy, mỗi khi bóng đen đó tiến lên phía trước một bước, Đường Phong và Lương Viện lại lùi lại phía sau một bước. Cuối cùng, Đường Phong và Lương Viện áp lưng vào tường, hai người đã đến bước đường cùng… “Ngươi là ai?” - Đường Phong thu hết can đảm hét về phía bóng đen đó.

“Bạn của tôi, sao đến cả tôi mà cậu cũng không nhận ra vậy?” - Trong bóng tối vọng ra giọng nói của Tymoshenko, tiếng Trung của anh ta vẫn chuẩn và lưu loát như thường.

“Anh... anh định làm gì?” - Lương Viện chất vấn Tymoshenko.

“Đừng sợ, bạn của tôi, nói cho tôi biết, ban nãy các người đã nghe thấy gì rồi?”

“Chúng tôi không nghe thấy gì cả!” - Đường Phong lớn tiếng trả lời.

“Vậy sao? Nhưng tôi lại không nghĩ thế, hai người quả là không chịu nghe lời đấy. Tôi đã bảo các người ở lại trong văn phòng nhưng các người nhất định phải chạy ra ngoài, vậy thì đừng có trách tôi!” - Nói xong, Tymoshenko móc khẩu súng có lắp thiết bị giảm thanh ra.

“Đúng vậy, bọn tôi đã nghe thấy hết rồi, anh là thằng khốn, anh và Stephen là đồng bọn, kệ tranh ngọc ở trong cung điện Mùa Đông chính là do anh lấy trộm phải không? Còn nữa... cả kệ tranh ngọc trong Hắc Đầu Thạch Thất cũng đang nằm trong tay anh hả?” - Lương Viện hỏi thẳng Tymoshenko.

Tymoshenko cười nhạt, nói: “Là tôi làm đấy, tôi và Stephen cùng một phe thật đấy, nhưng tôi khác với bọn họ, tôi là học giả, tất cả những gì tôi làm không phải để đoạt được tài sản gì cả, mà là vì nghiên cứu của tôi, là để tìm ra Mật Thành Hạn Hải trong truyền thuyết. Như vậy là tôi có thể nổi danh trong giới sử học. Ha... ha... ha..

Tiếng cười của Tymoshenko không lớn nhưng lại chấn động cả những chiếc đèn treo trên hành lang. Đường Phong thấy anh ta đã lộ ra bộ mặt thật và cũng không còn gì để che giấu nữa nên lại chất vấn Tymoshenko: “Vậy tại sao anh lại giúp đỡ chúng tôi?”

“Đường Phong, tôi nói rồi tôi là một học giả, tôi không phải là bọn cướp bóc xã hội đen như Stephen. Nói thật với cậu nhé, ngay từ ban đầu tôi đã biết cậu là ai, kể cả thân phận thật và mục đích mà cậu tới Saint Petersburg, nhưng tôi không muốn giết cậu, tôi thương tiếc tài năng của cậu, nói theo cách nói của người Trung Quốc các cậu là: trân trọng nhân tài! Còn một mục đích khác nữa, đó là để giải mã bí mật của kệ tranh ngọc, tôi cần sự giúp đỡ của cậu, tôi hy vọng cậu có thể hợp tác với chúng tôi. Nhưng hiện giờ chuyện của chúng tôi đã xảy ra biến cố, tôi không thể không từ bỏ tất cả mọi thứ ở đây đế rời khỏi Saint Petersburg. Đã như vậy rồi, tôi vẫn không muốn lấy mạng cậu, tôi muốn để người của Stephen đến dẫn cậu đi, sau đó tôi sẽ từ từ thuyết phục cậu.”

“Anh cố chấp hoang tưởng vừa thôi, tôi sẽ không hợp tác với bọn anh đâu!” - Đường Phong gào lên.

“Chỉ cần cậu đi cùng tôi, tôi sẽ có cách. Đáng tiếc, hai người lại xông vào cung điện Mùa Đông, tôi không thể không thay đổi ý định. Đường Phong, còn cả cô gái xinh đẹp này nữa, mong các người hãy lượng thứ cho tôi, đừng trách tôi, nếu trách hãy trách u hồn đó đi!” - Nói xong, Tymoshenko nhắm thẳng nòng súng về phía Đường Phong và Lương Viện.

6

Đây là một gian triển lãm bày đầy những tác phẩm điêu khắc đủ hình đủ dạng, Đường Phong và Lương Viện bị Tymoshenko áp sát vào tường, Lương Viện đã nhắm mắt lại, cô tựa sát vào vai Đường Phong, chỉ chờ đợi tiếng súng nổ... Còn Đường Phong lại nhìn chằm chằm Tymoshenko trong bóng tối, anh vẫn chưa từ bỏ sự kháng cự cuối cùng, anh phát hiện cách chỗ họ đứng không xa có mấy chục pho tượng điêu khắc khổng lồ. Lúc này, anh chỉ cần một cơ hội nhỏ bé, chỉ cần mấy chục giây, nhảy qua họng súng của Tymoshenko, chạy tới nép sau những bức tượng đó. Trong cung điện tối đen thế này, có lẽ họ vẫn có thể thoát khỏi sự truy sát của Tymoshenko, nhưng cơ hội này ở đâu ra?

Tiếng súng của Tymoshenko đã vang lên, nhưng đúng lúc này, bóng trắng phía sau Tymoshenko vụt lên,  

ngay tức khắc, một bức tượng thạch àu trắng cao gần ba mét bên cạnh Tymoshenko đột nhiên đổ xuống. Tymoshcnko thấy tình thế không ổn, vội vàng né sang một bên, viên đạn vọt ra bắn lên bức tường bên cạnh Đường Phong. Trong lúc hấp tấp, Tymoshenko không kịp bắn thêm phát nữa, Đường Phong thừa thế kéo Lương Viện đang đứng như trời trồng nép vào phía sau một bức tượng.

Đường Phong và Lương Viện vẫn đang hồn xiêu phách lạc trốn phía sau một bức tượng cao to, hai người nín thở, sợ rằng Tymoshenko sẽ phát hiện ra họ. “Đường Phong, cậu đừng trốn nữa, tôi đã trông thấy cậu rồi!” - Tymoshenko gầm lên trong cung điện trống trải, đồng thời giương súng rón rén lại gần một bức tượng. Anh ta quay ngoắt người, phía sau bức tượng không có gì cả, anh ta lại tiến sát một bức tượng khác, vừa xoay người thì đột nhiên thấy Đường Phong kéo Lương Viện, đang đứng phía sau một bức tượng to, chạy vụt qua. Tymoshenko vội quay người bóp cò, viên đạn bắn vào chân bức tượng, trong bóng tối, tia lửa lóe lên chói mắt. Tymoshenko vẫn định nổ súng tiếp nhưng Đường Phong và Lương Viện đã không thấy đâu nữa.

“Đường Phong, cậu ra đây, chúng ta nói chuyện tử tế với nhau, cậu không trốn thoát được đâu, chỉ cần cậu theo tôi, tôi sẽ đảm bảo an toàn cho cậu.” - Giọng Tymoshenko vang trong cung điện trống trải. Lương Viện cảm thấy tim mình sắp nhảy ra ngoài, cô há hốc miệng, thở hổn hển. Đường Phong sợ Lương Viện sẽ kêu thành tiếng nên đã lấy tay trái bịt miệng cô lại còn tay phải nắm chặt chiếc đèn pin, anh đã chuẩn bị cho tình huống xấu nhất.

Trong không gian tối đen, Tymoshenko biết là không thể tìm kiếm được Đường Phong sau từng bức tượng, trong số bao nhiêu bức tượng thế này. Thế nhưng điều khiến anh ta lo sợ hơn cả chính là u hồn màu trắng sẽ tới nhanh như chớp mắt. Anh ta đi đi lại lại trong sảnh triển lãm, bước chân rời rạc thể hiện rõ sự lo lắng bất an trong lòng. Đường Phong nín thở, tập trung phán đoán vị trí của Tymoshenko theo tiếng bước chân của anh ta. Cuối cùng, bước chân của Tymoshenko đã dừng lại, hình như dừng chính giữa phòng, rồi ngay sau đó, giọng Tymoshenko lại vang lên, anh ta đang gọi điện cho Stephen: “Stephen, u hồn đó ban nãy đã tấn công tôi, ông ta vẫn trong cung điện Mùa Đông, còn cả gã tiểu tử Đường Phong cũng chạy mất rồi, anh lập tức đưa người tới cung điện Mùa Đông đi... được, mười phút sau, chúng ta gặp nhau tại phòng giám sát tầng một”.

Nói xong, Tymoshenko bước nhanh ra ngoài khu triển lãm. Nghe tiếng bước chân của Tymoshenko dần dần đi xa, Đường Phong và Lương Viện mới yên tâm trở lại.

Lúc Tymoshenko tới phòng giám sát ở tầng một, Stephen và Fanny đã dẫn theo người tới khống chế nơi đây. Tám nhân viên bảo vệ của phòng giám sát đều đã bị Stephen đánh ngất hết, rồi nhốt trong một phòng làm việc.

“Sao lại tệ hại đến nông nỗi này?” - Stephen vừa trông thấy Tymoshenko đã chất vấn phủ đầu.

“Mọi việc đang diễn ra theo đúng chủ ý của tôi rồi, không ngờ u hồn đáng chết đó lại đột nhiên tiến vào cung điện Mùa Đông, nếu không phải Đường Phong phát hiện ra u hồn đó thì tôi cũng không biết đâu. Nhưng như vậy cũng tốt, hiện giờ thì rút cuộc tôi cũng đã biết cuốn sổ ghi chép đó giấu ở đâu rồi, đợi lấy được cuốn sổ đó thì chúng ta sẽ đem kệ tranh ngọc rời khỏi đây.”

“Cuốn sổ đó giấu ở đâu?” - Stephen hỏi.

“Hiện giờ việc cấp bách không phải việc này, bây giờ việc cấp bách là phải nhanh chóng cắt đứt nguồn điện của thiết bị cảnh báo” - Tymoshenko nhìn dãy cầu dao điện trong phòng giám sát nói.

“Nhưng dãy cầu dao điện này phải kéo cái nào trước đây?” - Stephen nhìn dãy càu dao điện được chia thành mấy loại với các màu khác nhau khó mà nhận ra được.

Tay phải của Tymoshenko khẽ run rẩy, anh ta sờ cầu dao điện màu đỏ, rồi lại chạm vào cầu dao điện màu da cam, “Để tôi nghĩ xem, trước đây tôi từng để ý đến chúng, chắc vẫn là cái này!”

Ổ điện. Tymoshenko quệt mô hôi lâm tâm trên trán, nói với Stephen: “Bây giờ cung điện Mùa Đông là thế giới của chúng ta rồi, nhưng chỉ là tạm thời, tôi chỉ có thể đảm bảo khống chế cục diện được nửa tiếng đồng hồ, sau đó phải trông vào các anh thôi. Các anh phải nhanh lên, Đường Phong và cô gái đó đi cùng nhau, họ không có vũ khí, các anh chắc là đã từng gặp họ rồi, còn cả u hồn đó nữa, không được bỏ qua bất cứ ai cả! Nhưng các anh nhớ cho kĩ, trong tình huống không chắc chắn thì đừng tùy tiện nổ súng.”

“Được thôi, vậy anh thì sao?”

“Tôi đi tìm cuốn sổ ghi chép đó, sau khi xong việc vẫn gặp nhau tại đây.”

Tymoshenko nói xong, Stephen để lại bốn tên áo đen canh chừng phòng giám sát, sau đó cùng Fanny dẫn theo sáu tên áo đen khác lao lên tầng hai. Tymoshenko nhìn đồng hồ, đã quá nửa đêm, thời gian không còn nhiều nữa, anh ta bật đèn pin lên, đi về phía cầu thang.

7

Đường Phong và Lương Yiện trông thấy Tymoshenko rời khỏi gian triển lãm, lúc này mới khẽ thở phào. Đường Phong buông bàn tay bịt miệng Lương Viện từ nãy đến giờ ra, Lương Viện vừa thở hổn hển vừa oán thán: “Anh định hại chết em à! Anh làm trò gì vậy hả?”

“Làm trò gì?”

“Anh mưu sát người thân vô liêm sỉ…” - Lương Viện mới thốt ra đã nuốt lời lại.

“Anh sợ em làm lộ!” - Đường Phong vừa nói vừa thò đầu nhìn ra trung tâm gian triển lãm, Tymoshenko quả thực đã rời khỏi đây.

“Thật không ngờ Tymoshenko lại là đồng bọn với Stephen!”

“Em có nhìn thấy u hồn ban nãy đã xô đổ bức tượng không?” - Đường Phong đột nhiên hỏi Lương Viện.

“Lúc đó em nhắm chặt mắt, không nhìn thấy gì cả, ý anh là u hồn đó đã cứu chúng ta?”

“Đúng vậy, chính u hồn đó đã cứu chúng ta!” “Được rồi, chúng ta tạm thời không nói chuyện này nữa, Stephen sẽ đem người tới đây ngay đấy, bây giờ chúng ta phải làm gì?”

“Bọn chúng nhất định đã chiếm giữ phòng giám sát và cửa chính ở tầng một. Bây giờ chúng ta có hai đường, một là tìm nơi nào đó để trốn, đợi có người đến cứu, còn một đường khác là trốn ra từ cửa chính lúc chúng ta đến. Bất luận thế nào, hôm nay chúng ta cũng lành ít dữ nhiều.” - Đường Phong nói.

“Trốn rồi đợi người đến cứu, quá bị động, không phải tính cách của em!” - Lương Viện nói.

“Vậy trốn ra ngoài!” - Chưa đợi Lương Viện kịp phản ứng, Đường Phong đã kéo ngay Lương Viện xông ra khỏi gian triển lãm thênh thang này.

Stephen và Fanny dẫn theo ba người, chia thành hai nhóm lùng sục Đường Phong và Lương Viện, còn cả u hồn không biết lúc nào sẽ lại hiện lên. Stephen và ba 

người, đầu đội mũ có tia hồng ngoại nhìn thấu màn đêm, tay cầm khẩu súng ngắn đột kích giảm thanh M4A1, chẳng mấy chốc đã đến trước một cầu thang dẫn lên tầng ba. Đúng lúc này, Đường Phong kéo Lương Viện lao từ tầng ba xuống, Stephen thấy vậy, miệng mỉm cười, lớn tiếng hỏi: “Đường Phong, chúng ta lại gặp nhau rồi, anh có khỏe không?”

Đường Phong và Lương Viện sợ toát mồ hôi hột, không kịp nhìn vội, quay người lao như bay lên tầng ba. ‘ Ba khẩu M4A1 bắn đồng loạt, may mà Đường Phong phản ứng kịp thời, đạn bắn tứ tung lên tường và cầu thang nhưng không làm Đường Phong và Lương Viện bị thương. Stephen hất tay một cái, ba gã áo đen cùng lao lên tầng ba. Đường Phong và Lương Viện bất chấp tất cả chạy thục mạng vào từng gian triển lãm và hành lang trong cung điện Mùa Đông. Cùng với tiếng gào thét của Lương Viện, chốc chốc lại có đạn bay từ phía dưới lên.

Đường Phong đột nhiên nhớ lại đêm hôm trước, hôm đó anh cũng kéo Lương Viện chạy thục mạng trong cung điện Mùa Đông. Hôm đó trốn chạy là vì u hồn truy đuổi, còn hôm nay u hồn lại cứu mạng mình; lúc này, mối đe dọa thật sự rút cuộc cũng xuất hiện rồi, chúng đáng sợ hơn u hồn gấp trăm lần.

Từng gian phòng trong cung điện, từng dãy hành lang, trong bóng tối, Đường Phong hoàn toàn không nhận ra phương hướng. Anh kéo Lương Viện chạy lung tung trong cung điện Mùa Đông, rồi rút cuộc lại tới trước một chiếc câu thang. Nhưng phía dưới có bọn người của Stephen không nhỉ? Chúng đang giương súng đợi chúng ta chăng? - Đường Phong do dự một hồi, lúc này bọn áo đen phía sau lưng đã đuổi rất gần, không còn cơ hội cho anh nghĩ ngợi lâu, nên anh hạ quyết tâm, kéo Lương Viện lao xuống cầu thang. Dưới cầu thang không có người, một bầu không khí yên lặng đến nặng nề bao trùm; Đường Phong và Lương Viện xuyên qua ba gian triển lãm, chạy vào một gian triển lãm bày kín những giá tranh. Đường Phong nhận ra đây chính là gian triển lãm mà trước đó họ vào đầu tiên, chiếc cửa tinh xảo lộng lẫy thông ra bên ngoài đã ở ngay trước mặt.

Nghĩ tới đây, Đường Phong và Lương Viện nhìn nhau, hình như đã trông thấy tia hy vọng, nhưng khi hai người họ chạy nhanh tới gần cánh cửa cao lớn tinh xảo đó thì tức khắc thất vọng tràn trề vì cửa chính đã bị khóa. Đường Phong dùng người ra sức đẩy cánh cửa, nhưng cánh cửa nặng trịch không hề nhúc nhích. “Tiêu rồi, chúng ta không ra ngoài được rồi!” - Lương Viện sợ tới nỗi khóc thành tiếng.

Đường Phong nhất thời không biết phải làm sao, sau lưng vẫn vọng lại tiếng bước chân loạn xạ. Đường Phong quay đầu lại, trong bóng tối, anh nghe rõ tiếng bước chân của Stephen và ba tên áo đen. Theo phản xạ, anh kéo Lương Viện trốn vào phía sau một dãy kệ tranh. Stephen dẫn người tới trước cánh cửa, đẩy đẩy cửa, cánh cửa không nhúc nhích. Stephen ra lệnh: “Cửa chính bị Tymoshenko khóa lại rồi, hai người đó vẫn ở đây, chúng không chạy thoát được đâu, lục soát!”

Stephen vừa dứt lời, Đường Phong nhân lúc chúng sơ hở, kéo Lương Viện vòng qua dãy kệ tranh, lao ra khỏi gian phòng. Stephen nghe thấy tiếng bước chân, quay người lại nhìn, Đường Phong đã cùng Lương Viện mất hút nơi cửa gian triển lãm. Stephen cũng dẫn người lao ra khỏi gian phòng, bên ngoài, một bên là gian triển lãm khác, một bên là dãy hành lang. Stephen chỉ dãy hành lang, hắn tin rằng Đường Phong đã tháo chạy dọc theo dãy hành lang. Stephen lao tới cuối hành lang, rẽ ngoặt một cái là cầu thang thông xuống tầng một, hắn thầm chửi rủa: “Định chạy xuống tầng một hả, muốn chết đây!”

8

Đến tầng một, trước mặt Stephen vẫn là một hành lang thênh thang, hắn nhìn thấy Đường Phong và Lương Viện đang chạy phía trước. Stephen hiểu rằng thời gian của mình cũng không còn nhiều nữa, nên ra sức vẫy tay, ra hiệu cho thuộc hạ nhanh chóng tóm lấy Đường Phong và Lương Viện.

Đường Phong quay đầu lại nhìn, Stephen đang dẫn người đuổi theo, nên anh tăng tốc theo bản năng. Thế nhưng Đường Phong không hề thông thạo tầng một, phía trước lại có một ngã rẽ, vậy rẽ vào đây sẽ là nơi nào? Đúng lúc Dường Phong đang phân vân thì Fanny dẫn theo một nhóm tên áo đen từ phía hành lang bên kia rẽ vào. Hai người giật mình vội vàng khựng chân lại, họ sững sờ đứng trên dãy hành lang thênh thang, bởi một đầu là Stephen, còn một đầu là Fanny. Họ đã không còn đường tháo chạy, lẽ nào hai người đành bó tay chờ chết thế này sao?

Không! vẫn còn một tia hy vọng. Hai đầu hành lang vẫn còn vài gian triển lãm, Đường Phong thấy mình đang đối diện với một gian phòng, anh hơi chần chừ một chút, sau đó kéo Lương Viện lao vào. Lúc này, đây là sự lựa chọn duy nhất, tia hy vọng duy nhất của họ! Nhưng khi Stephen và Fanny hợp lại hắn cũng nhanh chóng tiến vào gian triển lãm đó. Đây là một gian phòng hình ống, trong này không có những pho tượng khổng lồ, cũng không có những dãy kệ tranh để có thể lẩn trốn, mà chỉ có vài tủ trưng bày thấp lè tè. Hai người họ hoàn toàn lộ diện trong gian triển lãm này nên họ chỉ biết chạy, chạy thẳng về phía trước. Thế nhưng phía trước tối đen sẽ có gì đây?

Phía trước là một bức tường màu đen, sao lại là bức tường màu đen được nhỉ? Đúng là một bức tường kỳ lạ, lẽ nào bản thân mình bị ảo giác? - Đường Phong nhìn rõ bức tường màu đen đó. Phía sau lưng, Stephen đã cận kề, Đường Phong biết rằng ngày tận thế của mình đã đến. Anh tuvệt vọng nhắm mắt lại, nhưng không thể dừng nhịp chân chạy. Trong lúc ngàn cân treo sợi tóc này, Đường Phong và Lương Viện chạy tới cuối bức tường, đúng lúc đó họ đâm sầm vào một người.

Đường Phong kinh ngạc mở mắt, trong bóng tối anh trông thấy một người đàn ông cao to vạm vỡ đứng sừng sững trước mặt mình, người này ngạc nhiên gọi tên anh: “Đường Phong, là cậu sao? Lương Viện, cô đến đây từ lúc nào vậy?”

Là giọng Hàn Giang. Đường Phong tức khắc bừng tỉnh, anh nhìn Hàn Giang, Yelena, Makarov và cả Từ Nhân Vũ. “Là tôi, Stephen đang đuổi theo chúng tôi phía sau... Tymoshenko và bọn chúng là một hội, bọn tôi còn trông thấy u hồn…” - Đường Phong lắp bắp nói ra câu này rồi ngồi bệt ra đất.

Hàn Giang lập tức hiểu có chuyện gì xảy ra, anh rút súng, dặn dò mọi người: “Tiến sỹ, lão Mã, hai người lo cho Đường Phong và Lương Viện, Yelena, chúng ta lên thôi!”

Nói xong, Hàn Giang và Yelena một trái một phải, hai khẩu súng ngắn, hai tay xạ thủ cùng lúc lên nòng súng, bắn dồn dập về phía hội Stephen. Hai tên áo đen không hề đề phòng, gục ngay xuống. Stephen và Fanny đối diện với tình huống bất ngờ này không biết phải làm thế nào, hắn ta không biết Hàn Giang mang theo bao nhiêu viện binh? - Lòng đầy hoài nghi, hắn vội vàng dẫn đồng bọn rút khỏi gian triển lãm này. Hàn Giang và Yelena hoàn toàn trong thế áp đảo Stephen, hai người từng bước áp sát, bắn liền một loạt hết toàn bộ chỗ đạn, rồi đến cạnh những tay áo đen bị bắn hạ, nhặt hai khẩu tiểu liên M4A1 lên, tiếp tục tấn công về phía Stephen đang chiếm giữ hành lang.

Stephen thấy tình thế không ổn, hắn liếc xuống đồng hồ rồi nói với Fanny: “Thời gian của chúng ta không còn nhiều nữa, cũng không biết bọn chúng có bao nhiêu người, nhanh chóng rút lui thôi!”

“Bỏ mặc Tymoshenko sao?”

“Cậu ta tự khắc có cách thoát thân.”

Stephen nói xong, lấy tay ra hiệu ấy tên áo đen, một tên áo đen trong số đó bắn vỡ một ô cửa sổ lao ra ngoài, những tên khác cũng lao ra theo.

Hàn Giang và Yelena lao ra ngoài hành lang, thấy Stephen đã bỏ chạy, Hàn Giang định đuổi theo nhưng Yelena lại nói: “Đừng đuổi theo chúng, mau đến phòng giám sát đi!”

Hai phút sau, Hàn Giang và Yelena xuất hiện bất ngờ trước cửa phòng giám sát, bốn gã áo đen canh chừng ở đây đang định phản kháng nhưng đã bị Hàn Giang và Yelena tiêu diệt toàn bộ. Máu của bọn áo đen bắn tóa lên màn hình máy tính, lên cả cầu dao điện. Yelena chần chừ do dự trước dãy cầu dao điện màu sắc khác nhau, cuối cùng cô đóng cầu dao điện màu đỏ, liền đó đóng luôn cầu dao đèn chiếu sáng. Tức khắc, cung điện Mùa Đông sáng như ban ngày, chuông báo động kêu vang. Năm phút sau, mấy chục cảnh sát, Ivan Pavlov dẫn theo vài chục đặc công đã xuất hiện trên quảng trường Cung điện Mùa Đông. 
 

hoahongden12

Active Member

Yelena không nói gì, quay lại ra hiệu cho vị bác sỹ pháp y đầy kinh nghiệm giám định bộ hài cốt. Chẳng mấy chốc, vị bác sĩ này đã rút ra kết luận đầu tiên: "Bộ hài cốt không có xương sọ này là của nữ giới, phán đoán bước đầu là của một người phụ nữ thuộc chủng tộc Tây Tạng - Aryan - Mông cổ, khoảng trên dưới 40 tuổi, cũng có khả năng cao hơn một chút. ”

1

Elena và Hàn Giang thả những nhân bảo vệ bị giam giữ ra, Ivan Pavlov đã xuất hiện tại trước của phòng giám sát với cánh tay phải quấn băng trắng. Yelena nhìn Ivan Pavlov một cái, hỏi: “Sao vậy? Bị Stephen gài bom bị thương đúng không?”

“Đúng vậy, nhưng bị thương nhẹ thôi, đây là lần đầu tiên em quan tâm anh đấy!”

“Thôi đi, đừng nói những câu thừa thãi, lần này anh lại tuân lệnh của Ilyushin đến bắt chúng tôi phải không?”

“Anh đến đây theo lệnh, nhưng không phải là lệnh của Ilyushin mà là lệnh của tổng bộ!” - Ivan Pavlov đột nhiên nghiêm mặt, nói rất nghiêm túc.

“Mệnh lệnh của tổng bộ? Thế đối với tôi đó là tin tốt hay tin xấu?” - Yelena lòng đầy nghi ngờ.

“Tin tốt! Tin vô cùng tốt!” - Ivan Pavlov ra vẻ bí hiểm. “Tin tốt? Vậy anh nói nghe xem!”

“Tổng bộ đã quyết định ngay lập tức khôi phục chức vụ cho em, vụ án này vẫn do em phụ trách, em có quyền điều động mọi lực lượng mà em cho là cần thiết!” - Ivan Pavlov nói.

“Ồ! Quả nhiên là một tin tốt lành. Vậy Ilyushin thì sao?”

“Anh ta bị đình chỉ chức vụ rồi!”

“Ha ha, đây có vẻ còn là tin tức tốt lành hơn!” - Yelena cười nói.

“Đúng, anh cũng nghĩ vậy!”

“Vậy còn anh thì sao? Thiếu tá, anh cũng nghe tôi chỉ huy?”

“Đương nhiên, anh hoàn toàn tuân theo sự điều động của em.”

“Vậy tốt, bây giờ tôi lệnh cho anh, thiếu tá Ivan Pavlov, lập tức khống chế phong tỏa toàn bộ cung điện Mùa Đông, lục soát khắp cung điện Mùa Đông, không được bỏ qua bất cứ ngóc ngách nào. Stephen tháo chạy rồi nhưng Tymoshenko chắc vẫn còn ở đây, còn cả u hồn mà chúng ta muốn tìm kiếm nữa. Đồng thời, lệnh cho sân bay, bến xe, bến cảng phải thắt chặt phòng bị, không thì Stephen mang kệ tranh ngọc đi mất.”

Ivan Pavlov nhận lệnh lập tức triển khai thi hành nhiệm vụ, Yelena nhìn sang Hàn Giang, hỏi lại: “Thế nào, em bố trí được chứ?”

“Xin lỗi, anh nghe không hiểu mệnh lệnh của em, em biết rồi đấy, tiếng Nga của anh không tốt lắm!” - Hàn Giang lắc đầu nói.

“Vậy anh nghe được gì?”

Hàn Giang cười cười: “Chúc mừng em được khôi phục chức vụ, cũng chúc mừng luôn tay Ilyushin bị mất chức.”

“Thôi nào, không kề cà nữa, mau đi xem Đường Phong thế nào đi!”

Hai người nói xong liền đi thẳng tới gian triển lãm nơi phát hiện ra Đường Phong. Xem ra sắc mặt Đường Phong và Lương Viện đã hồi phục lại kha khá, nhưng Đường Phong vẫn uể oải tựa vào cạnh tủ trưng bày. Hàn Giang khẽ đá Đường Phong một cái: “Thôi nào, mau đứng lên! Nói nghe xem, sao hai người lại chạy tới cung điện Mùa Đông này, chuyện về Tymoshenko là như thế nào?” Vậy là Đường Phong kể tóm tắt lại những gì mà anh và Lương Viện gặp phải trong mấy ngày qua. Đường Phong kể xong, đứng dậy hỏi: “Sao bỗng nhiên các anh lại xuất hiện ở đây vậy?”

Hàn Giang chỉ tay về phía gian triển lãm bên cạnh: “Gian triển lãm kia có một cánh cửa sắt thông với một kho văn vật ở dưới hầm, chúng tôi đã men theo đường cống ngầm mò tới gian hầm đó, sau đó đi lên, dùng súng bắn hỏng ba cái khóa trên cánh cửa, mở cửa và tới được đây, vừa đúng lúc hai người chạy tới.”

“Nếu chỉ chậm một khắc thôi thì tôi và Lương Viện coi như toi rồi... Này! Sao mọi người lại từ đường cống ngầm mò tới cung điện Mùa Đông vậy?” - Đường Phong không sao lý giải được.

“Bởi vì u hồn, chính u hồn đã đó đã đưa chúng tôi tới đây.”

“Sao cơ? Mọi người cũng nhìn thấy u hồn ư?” - Đường Phong ngạc nhiên hỏi. Đột nhiên, Đường Phong chỉ ra phía hành lang ngoài cửa, hốt hoảng hét lên: “Mọi người trông kìa, u hồn đó đang ở ngoài hành lang!”

Mọi người quay ra nhìn, tất cả đèn ngoài hành lang đều sáng trưng, nhưng không ai nhìn thấy bóng dáng u hồn. Đường Phong nhao cả người lên, lúc này, anh đột nhiên nảy sinh thiện cảm với u hồn đã cứu mạng mình, anh chạy ra ngoài hành lang đầu tiên rồi rẽ ngoặt, đến một gian triển lãm khác ở bên cạnh, Đường Phong nhìn thấy cánh cửa sắt mà Hàn Giang kể, u hồn màu trắng đố vụt lên một cái rồi mất tích trong cánh cửa sắt.

2

Tới khi mọi người tới nơi thì chỉ còn Đường Phong đang đứng chỉ vào cánh cửa sắt, nói: “U hồn vào trong cửa sắt rồi!”

Hàn Giang nhìn cánh cửa sắt, giương súng, tiến vào đó trước tiên, đây chính là nơi ban nãy họ đến. Lúc này, trong căn hầm đang sáng trưng ngọn đèn tường màu vàng, giờ Hàn Giang mới có thể nhìn được toàn cảnh nơi đây. Anh quan sát xung quanh, bốn bức tường đều được xây lên bằng những tảng đá dài, không gian rộng khoảng ba bốn trăm mét vuông, trong đó một bên có một căn buồng lõm vào trong, bức tường phía sau căn buồng đã bị người ta đập vỡ, thông thẳng tới đường cống ngầm tối đen sì.

Ban nãy nhóm Hàn Giang đã bước vào gian hầm từ chính chỗ này, bây giờ anh lại lần nữa bước vào đây, tỉ mẩn quan sát, rồi đột nhiên phát hiện ra trên mặt đất loang loáng một vệt máu. Anh quay lại dùng đèn pin soi, phát hiện ra vệt máu này kẻo dài từ phía cửa sắt tới tận cái hố đen kịt phía ngoài bức tường dưới chân mình. “Vệt máu này lẽ nào là của u hồn ban nãy để lại?” - Hàn Giang lẩm bẩm.

“Rất có khả năng đó!” - Đường Phong nói.

“Vệt máu này hướng ra bên ngoài, u hồn đó lóe lên một cái rồi biến mất, tôi nghĩ chắc chắn u hồn đã quay lại đường cống ngầm rồi.” - Hàn Giang suy đoán xong liền định xông vào hố đen trên bức tường bên ngoài để truy đuổi tung tích của u hồn, nhưng lại bị Yelena tóm ngay lại: “Đừng đuổi theo nữa, u hồn có cuộc sống của u hồn!’’

Hàn Giang không hiểu nhìn nhìn Yelena hỏi: “U hồn có cuộc sống của u hồn là sao?” 

Yelena nói với mọi người: “Ban nãy nghe Đường Phong kể lại, em đại khái đã hiểu ra ngọn nguồn của mọi chuyện rồi, chúng ta hãy nói ở đây trước. Đây chính là nơi đầu tiên tôi đến khi tiếp nhận vụ án này, đây là một nhà kho dưới tầng hầm của cung điện Mùa Đông, vì điều kiện chưa đủ nên ở đây chỉ chuyên chất những pho tượng điêu khắc hoặc tượng đá to nặng. Hơn nửa năm trước, cung điện Mùa Đông quyết định tiến hành cải tạo nơi này, theo như tôi điều tra, lúc đó Tymoshenko đã xung phong nhận việc này, ngoài công việc đương chức ra, anh ta còn đảm nhận công việc di dời văn vật ở đây đi. Tôi đoán chắc là đúng trong thời gian đó, Tymoshenko đã phát hiện ra căn hầm này, chính là gian mật thất dưới tầng hầm mà mọi người đang nhìn thấy, đây cũng chính là nơi đã cất giữ kệ tranh ngọc thứ nhất.”

“Hóa ra kệ tranh ngọc thứ nhất đã được cất giấu mãi ở đây! Tymoshenko và Stephen là đồng bọn, vậy rất có khả năng hắn đã biết về sự tồn tại của gian mật thất này!” - Đường Phong ngạc nhiên nói.

“ừm, bây giờ xem ra Tymoshenko đã biết về sự tồn tại của gian mật thất này trước khi sự việc xảy ra, nhưng anh ta không biết vị trí cụ thể của gian mật thất. Chính trong quá trình cải tạo nơi này, Tymoshenko đã biết rõ vị trí của căn hầm, hơn nữa anh ta còn biết được căn hầm này rất gần với một đường cống ngầm bên ngoài bức tường cuối căn phòng, vậy là một kế hoạch to gan nhưng tuyệt diệu đã nảy sinh trong đầu anh ta. Anh ta đã dẫn người phá thông đường từ cống ngầm dẫn tới gian mật thất, rồi nhân lúc thần không biết quỷ không hay đã lấy mất đi kệ tranh ngọc, sau đó xây mới lại bằng những tảng đá dài, khiến mọi thứ trở lại nguyên trạng, mà nếu không nhìn kỹ thì người ngoài sẽ không phát hiện ra được. Thế nhưng Tymoshenko vẫn sơ hở, anh ta đã để lại một số vết tích khiến Victor sau này đến đây thi công đã phát hiện ra. Victor đã nghi ngờ ngay Tymoshenko. Để bịt miệng và cũng là để bảo vệ bí mật về kệ tranh ngọc, Tymoshenko đã sai người giết hại dã man Victor, đồng thời còn đổ tội cho Victor đã đánh cắp kệ tranh ngọc!” - Yelena dựa vào suy luận của mình để miêu tả lại quá trình kệ tranh ngọc bị đánh cắp.

“Nói như vậy thì trước khi công ty thiết kế nội thất của Victor vào đây, kệ tranh ngọc đã bị đánh cắp rồi sao?” - Hàn Giang nói.

“Đúng là như vậy. Victor vô tội, nhưng có khả năng Victor đã bị Tymoshenko uy hiếp, không biết là do quá sợ hãi hay vì nguyên nhân nào khác mà anh ấy không kịp thời báo với cơ quan hữu quan về Tymoshenko, nên mới...”

Yelena nói tới đây, Makarov bên cạnh đã chan chứa nước mắt, ông khóc không thành tiếng. Yelena đành phải dừng lại, an ủi Makarov.

3

Nhờ sự động viên của mọi người, Makarov dần dần lấy lại bình tĩnh, ông chỉ vào bức tường vừa bị đập ra, hỏi Yelena: “Vậy tại sao ở đây bây giờ lại thành thế này?”

Yelena giải thích: “Nếu con suy luận không nhầm thì sẽ là thế này, sau khi kệ tranh ngọc bị đánh cắp, công trình cải tạo cung điện Mùa Đông cũng tạm thời bị đình chỉ, văn vật ở đây bị dọn đi, cánh cựa sắt thông tới đây bị khóa chặt lại, từ đó không còn ai tới đây nữa, còn bức tường cuối tầng hầm bị đập ra chắc là do u hồn đó làm.” “Ý con nói Misha?” - Makarov hỏi.

“Hiện giờ xem ra không còn nghi ngờ gì nữa, u hồn đó chính là Misha!” - Yelena đáp.

“Misha?” - Đường Phong rất ấn tượng với cái tên này, nhưng không hiểu chuyện Yelena đang nói. Vậy là Yelena kể qua cho Đường Phong và Lương Viện về những phát hiện của họ trong mấy ngày gần đây. Đường Phong nghe xong, không ngừng xuýt xoa. Đội thám hiểm hóa ra vẫn còn người thứ ba may mắn sống sót, Misha chính là u hồn đó? Đúng lúc Đường Phong đang nghĩ ngợi lung tung thì Yelena lại nói: “U hồn Misha chắc là người biết về kệ tranh ngọc, sau khi phát hiện kệ tranh ngọc bị đánh cắp, không biết vì mục đích gì mà ông đã đập chỗ này ra. Tôi nghĩ ông mở chỗ này ra là để ban đêm vào trong cung điện Mùa Đông, không chỉ vì đóng giả thành u hồn để dọa người, mà những gì mà ông làm chắc chắn đều liên quan tới việc kệ tranh ngọc bị đánh cắp.”

“Biết đâu Misha đang tìm thứ gì đó?” - Đường Phong đột nhiên nói.

“Tìm thứ gì đó, tìm gì chứ?” - Hàn Giang hỏi.

“Tôi không biết. Tôi chỉ suy đoán thôi!” - Đường y Phong đáp lại.

“Nhưng cứ cho rằng u hồn Misha đục bức tường, phía sau ra để vào trong này, nhưng ông ấy sẽ vào trong cung điện Mùa Đông bằng cách nào nhỉ? Cánh cửa sắt bên ngoài được khóa lại bằng mấy cái khóa to cơ mà!” - Lương Viện đưa ra thắc mắc của mình.

Yelena im lặng không nói. Hàn Giang và Đường Phong ngẩng đầu ngước nhìn gian hầm này. Đường Phong đột nhiên phát hiện ra sát bức tường phía bắc có gì đó khác thường, anh bước tới, dùng đèn pin soi lên chỗ tường đó. Dưới ánh đèn pin, mọi người nhìn thấy, trên mặt tường này thò ra một chiếc thang bằng sắt giống như cầu thang chữa cháy vậy. Đường Phong soi đèn pin lên từng chút một, ánh sáng đèn chiếu thẳng lên điểm đầu của chiếc thang này, ở đó hình như có hai tảng đá...

“Hóa ra là như vậy, không chú ý nhìn thì đúng là không phát hiện ra chiếc thang này!” - Yelena ngạc nhiên nói.

Makarov lập tức giải thích: “Cái này không có gì là lạ, theo như tôi biết, tầng hầm ở đây, bao gồm cả kho mật thất này, đều được đào thành hầm phòng không từ thời chiến tranh vệ quốc để chống bom đạn của người Đức.

Bởi vậy để nhân viên kịp thời di tản họ đã dựng lên chiếc thang sắt này, người ở bên trên có thể xuống thẳng từ đây để tránh bom đạn”.

“ừm, là như vậy, vậy thì cũng từ chỗ này, u hồn Misha đã đi theo đường này để vào cung điện Mùa Đông.” - Yelena suy đoán.

“Được rồi, chúng ta hãy nhanh chóng đi theo con đường mà u hồn từng đi để leo lên, thử xem bên trên rút cuộc là chỗ nào?” - Từ Nhân Vũ đề nghị.

Đường Phong gật đầu, leo lên cầu thang sắt đầu tiên, theo sau là Hàn Giang, Lương Viện, Yelena, Makarov và Từ Nhân Vũ. Đường Phong leo lên đỉnh cầu thang sắt, khẽ đẩy một tấm gạch trên đầu, tấm gạch nhúc nhích, lộ ra một khe hở. Đường Phong nhìn xuyên qua khe hở, bốn bề tối đen, phía trước hình như có vật gì đó chặn mất tầm nhìn. Anh lấy hết sức, nhấc cả tấm gạch lên, sau đó lại nhấc một tấm gạch khác lên, lối lên đã trở nên rộng rãi, Đường Phong nhảy phắt lên, ngay sau đó Hàn Giang cũng nhảy lên theo.

Trước mặt Đường Phong là một chiếc tủ cao lớn, anh thử đẩy, chiếc tủ không xê dịch. “Xem ra cái tủ này rất nặng!” - Đường Phong nói xong liền cùng Hàn Giang kê chiếc tủ chặn ngay trước miệng lồi lên sang chỗ khác. Chiếc tủ rất nặng, hai người đàn ông lực lưỡng như Đường Phong và Hàn Giang mà cũng không tài nào nhấc được chiếc tủ, đành phải chuyển sang đẩy nó. Chiếc tủ ma sát với mặt sàn nhà phát ra âm thanh chói tai. Đường Phong giật mình, đột nhiên nhớ ra điều gì đó: “Hóa ra âm thanh kỳ lạ mà chúng ta nghe thấy buổi đêm chính là tiếng động này!”

“Vây có nghĩa là u hồn chắc chắn đã vào cung điện Mùa Đông băng lối này lúc nửa đêm” - Lương Viện vừa mới leo lên liền nói.

“Đúng vậy, chiếc tủ này rất nặng, anh và Hàn Giang hai người mới khó nhọc đẩy được nó, xem ra u hồn đó cũng khỏe kinh người!” - Đường Phong nói.

Hàn Giang bật đèn, lúc này mọi người mới nhìn rõ, hóa ra đây là một phòng làm việc. Đường Phong và Lương Viện nhận ngay ra đây chính là căn phòng mà hai người họ vào nhầm, còn cái hang ban nãy họ chui ra hóa ra lại là chiếc lò sưởi hào nhoáng. Ngay lập tức, Đường Phong đã hoàn toàn hiểu ra con đường mà u hồn tiến vào cung điện Mùa Đông.

4

Đường Phong dẫn mọi người ra khỏi văn phòng này, sau đó rẽ một cái là tói ngay phòng làm việc của Tymoshenko, anh giới thiệu với họ: “Đây chính là văn phòng của Tymoshenko!”

Hàn Giang và Yelena lục soát trong văn phòng của Tymoshenko hồi lâu nhưng không thu hoạch được gì.

Đường Phong đột nhiên liếc thấy tập tài liệu “Tòa tháp vĩ đại” đặt trên bàn làm việc của Tymoshenko, tim anh giật thót một cái, bất giác có dự cảm không lành.

Hàn Giang thấy Đường Phong có vẻ mặt khác thường liền vội vàng hỏi: “Cậu sao vậy?”

Đường Phong đột nhiên hét lên: “Toi rồi, pho tượng phật đó!”

Nói xong, Đường Phong một mình lao ra khỏi phòng làm việc của Tymoshenko. Mọi người không hiểu chuyện gì cũng chạy theo Đường Phong lên khu triển lãm Trung Quốc trên tầng ba của cung điện Mùa Đông. Đường Phong đưa cánh tay run rẩy ra mò trên tường, cuối cùng anh cũng đã sờ thấy công tắc đèn. Chiếc đèn chùm đồ sộ vụt sáng, soi rọi cả gian triển lãm, lộng lẫy nguy nga, nhưng khi Đường Phong nhìn về phía văn vật Tây Hạ thì anh bỗng ngớ người ra. Đầu tượng phật Lư Xá vốn bày ở chỗ cũ đã không thấy đâu nữa.

Đường Phong không thể tin vào mắt mình, anh lao tới trước tủ trưng bày, quan sát từng tí một. Đầu tượng phật quả thực đã biến mất, cửa kính trước tủ trưng bày đã bị đập vỡ một lỗ to... “Đây là do ai làm? Ở đây có gì vậy?” - Yelena ngạc nhiên hỏi.

Đường Phong giở bức ảnh chụp đặc tả pho tượng phật trong tập tài liệu ra, chỉ ọi người xem: “Pho tượng này chính là tượng phật Tây Hạ mà Kozlov phát hiện thấy trong Hắc Thủy Thành, Tymoshenko cho rằng bên trong tượng phật này chính là xương sọ của hoàng hậu Một Tạng.”

“Xương sọ của hoàng hậu Một Tạng?” - Mọi người kinh ngạc.

“vết máu mà u hồn đó để lại cho thấy hình như là ông ta đã bị thương, có khi nào là do đập vỡ tấm kính này không nhỉ?” - Từ Nhân Vũ nhắc nhở mọi người.

“Tiến sỹ, ý anh là pho tượng này đã bị u hồn lấy đi?” - Lương Viện hỏi lại.

Đường Phong cẩn thận quan sát lỗ thủng trên tấm kính bị đập vỡ, nói: “Quanh lỗ thủng trên tấm kính này không phát hiện ra vết máu nào cả, như vậy cho thấy máu trên người u hồn không giống do lúc đập vỡ kính để lại.”

“Được rồi, mọi người đừng nghiên cứu tấm kỉnh vỡ này nữa, xem tôi tìm thấy cái gì đây” - Hàn Giang cầm một vò đạn trong tay bước tới: “Trên một mặt sàn cách đây không xa lắm tôi đã phát hiện ra cái này.”

“Cho thấy ở đây đã từng xảy ra... không, ban nãy ở đây đã xảy ra tranh cướp, trong quá trình giằng co còn nổ súng!” - Yelena ngạc nhiên nói.

“Tranh cướp? Ai và ai?” - Lương Viện hỏi.

“Thế mà cũng phải hỏi, chắc chắn là Tymoshenko và u hồn đó, họ đều muốn đoạt được kệ tranh ngọc, và vết máu mà u hồn đó để lại, cho thấy u hồn Misha đã bị thương trong quá trình giành giật, chắc là bị trúng đạn của Tymoshenko” - Đường Phong nói.

“Giải thích như vậy cũng hợp tình hợp lý, chỉ có điều tôi không hiểu pho tượng đó có gì đặc biệt mà khiến họ nhất định phải tranh cướp bằng được?” - Hàn Giang không hiểu hỏi Đường Phong.

“Pho tượng phật đó chắc chắn có ý nghĩa và giá trị đặc biệt, chỉ có điều chúng ta không biết mà thôi!” - Đường Phong giải thích.

“Nói như vậy thì vẫn chưa rõ ràng, nếu Tymoshenko muốn lấy pho tượng đó thì sao phải đợi tới hôm nay?

Anh ta lúc nào chẳng có cơ hội để đánh cắp pho tượng đó!” - Yelena lắc đầu nói.

Đường Phong nhìn tủ trưng bày thiếu mất pho tượng phật, thẫn thờ nói: “Tại sao những văn vật khác trong tủ trưng bày không thu hút họ, mà lại cứ phải là pho tượng đó? Còn tại sao Tymoshenko phải đợi đến bây giờ mới muốn chiếm đoạt pho tượng đó? Chỉ có một khả năng, họ tranh cướp nhau không phải vì bản thân pho tượng đó mà là vì bí mật ẩn chứa trong đó mà thôi, không biết chừng bí mật ở trong chính pho tượng!”

“Bên trong pho tượng? Không phải cậu nói rằng bên trong pho tượng là xương sọ của hoàng hậu Một Tạng sao?” - Hàn Giang hỏi.

“Đó là Tymoshenko nói, còn bên trong tượng phật có xương sọ của hoàng hậu Một Tạng hay không, thì chỉ có mở ra mới biết được!” - Đường Phong nói.

Yelena ngắt lời hai người: “Được rồi, tạm thời không nói về pho tượng nữa, nói về hai người tranh cướp pho tượng đi. u hồn Misha bỏ đi mang theo vết thương, vậy thì Tymoshenko đâu? Chắc là anh ta vẫn ở trong cung điện Mùa Đông, chúng ta vẫn còn cơ hội tóm lấy anh ta.”

Yelena vừa dứt lời thì điện thoại của cô đổ chuông, là Ivan Pavlov gọi tới, chỉ nghe thấy Yelena mắng mỏ ở đầu điện thoại bên này: “Đồ ngu!” - rồi tức tối dập máy.

Yelena nhún vai rồi giải thích với mọi người: “Đời là vậy đấy, luôn cỏ những người nhanh hơn chúng ta một bước, gã Tymoshenko đó, ban nãy đã nghiễm nhiên nghênh ngang ra ngoài từ cửa chính.”

“Ra ngoài rồi? Sao lại như vậy được?” - Mọi người vô cùng ngạc nhiên rồi cùng Yelena đến phòng giám sát tầng một. Ivan Pavlov rất cẩn trọng báo cáo: “Chúng tôi giải cứu được một viên cảnh sát trong nhà vệ sinh, quần áo ngoài của anh ta bị lột sạch.”

“Được rồi, tôi không hứng thú với lời giải thích của anh, chỉnh camera cho tôi xem!” - Yelena giống như biến thành một con người khác, nghiêm giọng nói.

5

Trên màn hình, xuất hiện hình ảnh trước cổng cung điện Mùa Đông, chẳng mấy chốc, một người dáng cao gầy mặc cảnh phục, xách theo một chiếc cặp da hình vuông đã ngang nhiên bước ra khỏi cổng cung điện Mùa Đông. Tuy Tymoshenko trên màn hình không đeo kính và đã thay trang phục khác, nhưng Đường Phong vẫn nhận ngay ra: “Chính là anh ta, bên trong chiếc cặp anh ta xách chắc chắn là pho tượng phật đó, kích thước vừa vặn.”

Lúc này, Ivan Pavlov bên cạnh lại báo cáo tiếp:

“Sau khi Tymoshenko lẻn ra ngoài cung điện Mùa Đông, anh ta đã không lên xe của mình mà lái một chiếc xe cảnh sát. Chúng tôi đã lục soát được thứ này trên xe của anh ta.”

Nói xong, Ivan Pavlov lấy từ trong túi vật chứng cỡ lớn ra một chiếc áo choàng màu trắng. Từ Hàn Giang đến Đường Phong, rồi tới Yelena, Makarov, tất cả mọi người đều ngỡ ngàng, trong xe của Tymoshenko lại có một chiếc áo choàng như thế này sao?

“Đây chính là áo choàng của u hồn, áo choàng của u hồn..- Makarov lẩm bẩm.

Hàn Giang tỉ mỉ quan sát chiếc áo choàng này, anh phát hiện dưới gấu áo choàng có vết tích bị vật sắc nhọn cào rách, ở đó khuyết một miếng. Hàn Giang vội vàng móc mảnh vải trắng mà mình nhặt được trên nắp cống ngầm ra so sánh, hoàn toàn vừa khớp với vị trí chiếc áo choàng bị cào rách, không sai một li.

“Thế này là thế nào? Sao lại xuất hiện thêm một u hồn?” - Đường Phong cảm giác đầu mình như sắp nổ tung.

“Rút cuộc ai mới là u hồn thật? Misha hay Tymoshenko?” - Yelena cũng chìm trong suy tư. Cô vốn cho rằng mình đã tìm ra ngọn nguồn sự việc, nhưng hiện giờ nhìn lại, những gì mà cô biết được chỉ vô cùng nhỏ bé.

Sau một hồi trầm ngâm, Đường Phong đột nhiên nhớ ra gì đó, anh nói với mọi người: “Sau khi tôi và Lương Viện vào nhầm phòng ở cung điện Mùa Đông, thì bỗng nhiên nghe thấy Tymoshenko gọi điện cho Stephen. Trong lúc nói chuyện, Tymoshenko đã nói, hiện giờ anh ta có thể chắc chắn u hồn đó chính là lão già, sau đó còn giải thích đó là thầy giáo của mình đồng thời nói ông lão vẫn chưa chết mà sống ở trong cống ngầm, giờ đã quay lại cung điện Mùa Đông.” “Thầy giáo của Tymoshenko ư?” - Từ Nhân Vũ đột nhiên kêu lên thất thanh. 

Mọi người nhìn Từ Nhân Vũ, không hiểu sao Từ Nhân Vũ lại đột nhiên thất thần như vậy, chỉ có Đường Phong nhìn Từ Nhân Vũ, miệng chậm rãi thốt ra một câu:

“U hồn đó có khi nào là… có khi nào là giáo sư Boris?”

“Không! Điều này là không thể, giáo sư Boris đã mất cách đây tám năm rồi, không phải hai chúng ta đã từng tới mộ của ông đó sao? Có lẽ Tymoshenko còn có thầy giáo nào khác?” - Từ Nhân Vũ không thể tin vào điều đó.

“Đường Phong, ý cậu là giáo sư Boris chính là u hồn Misha?” - Hàn Giang đột nhiên cũng nhớ ra chuyện về giáo sư Boris mà Đường Phong và Từ Nhân Vũ từng kể cho anh.

Đường Phong gật đầu, nói: “Cũng có thể nói rằng u hồn Misha chính là giáo sư Boris!”

Lúc này Từ Nhân Vũ cũng không thể không tin vào phán đoán này, trước mắt anh lại hiện lên hình bóng giáo sư Boris năm nào: “Hai người họ quả thực rất gần về tuổi lác, hơn nữa ân sư của giáo sư Boris cũng là viện sỹ Arik, nếu sau năm 1988 Misha đến Đại học Saint Petersburg... nhưng tại sao giáo sư Boris lại trở thành u hồn nhỉ?”

Hàn Giang im lặng không nói năng gì, miệng lẩm bẩm: “U hồn Misha? Giáo sư Boris? Tymoshenko? Hồ sơ bị mất năm 1964, ai là u hồn thật đấy.

Từ Nhân Vũ kể lại cho Yelena và Makarov nghe về mối quan hệ giữa anh và giáo sư Boris năm đó, Yelena nghe xong, nói với Hàn Giang: “Được rồi, anh đừng nghĩ nữa, em chỉ cần đến Đại học Saint Petersburg tìm hiểu một chút là sẽ biết rõ tình hình của giáo sư Boris. Hiện giờ Tymoshenko cũng bỏ trốn rồi, âm mưu của bọn chúng đã hoàn toàn bại lộ, nhất định sẽ mang theo kệ tranh ngọc và cả đầu pho tượng phật thần bí tháo chạy, bởi vậy, chúng ta nhất định phải chặn chúng ở lại Saint Petersburg.”

6

Yelena ngập ngừng rồi lại hạ lệnh cho Ivan Pavlov: “Ivan Pavlov, anh để lại mấy người ở cung điện Mùa Đông, những người khác có thể rút đi. Nhiệm vụ chính của anh là đem người tới sân bay, bến xe và những ngả giao thông thắt chặt kiểm tra, tuyệt đối không được để Stephen và Tymoshenko thoát, có tình hình gì thì kịp thời thông báo cho tôi biết!”

Ivan Pavlov nhận lệnh rồi đi luôn, Hàn Giang lại nói: “Chỉ chặn như vậy không phải là cách, thành phố lớn thế này khó tránh khỏi để lọt mất chúng!”

“Vậy ý anh sao?” - Yelena hỏi.

“Chúng ta phải chủ động xuất kích!” - Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

“Nhưng chúng ta xuất kích hướng nào đây? Chúng ta không biết kệ tranh ngọc bị giấu ở đâu!”

“Tôi còn nhớ Tymoshenko đã từng nói, trong lúc gọi điện, rằng anh ta sẽ lập tức tới chỗ đó lấy kệ tranh ngọc - Đường Phong cố gắng nhớ lại từng câu nói của Tymoshenko, nhưng lúc đó quả thực anh quá căng thẳng nên hiện giờ chỉ có thể nhớ lại đứt quãng những câu nói của Tymoshenko.

“Chỗ đó? Anh ta không nói là chỗ nào sao?” – Hàn Giang vội vàng hỏi.

“Không. Tôi nghĩ Stephen biết chỗ đó, trước đấy chúng đã hẹn nhau rồi” - Đường Phong nói.

“Điều này cho thấy hiện giờ kệ tranh ngọc vẫn ở trong tay Stephen và Tymoshenko. Sau khi đánh cắp kệ tranh ngọc chúng đã đem giấu nó ở một nơi không ai biết. Là nơi nào nhỉ?” - Hàn Giang băn khoăn.

Yelena nổi cáu: “Mặc kệ nó ở đâu, kiểm tra toàn bộ két bảo hiểm của tất cả ngân hàng trong thành phố trước đã!”

“Không được, làm lớn như vậy thì khuếch trương quá!” - Makarov khuyên nhủ Yelena.

“Vậy thì còn cách nào khác?”

“Sẽ có cách, mọi người cũng tĩnh tâm lại ngẫm nghĩ xem sao!” - Makarov vẫn giữ được bình tĩnh.

Đường Phong ngẩng đầu, nhìn thẫn thờ lên bức tranh sơn dầu trên trần nhà cung điện Mùa Đông. Bức tranh này hình như là bức “Chúa Jesus gặp nạn”, Đường Phong nhìn bức tranh, trước mắt bỗng hiện lên cả một vùng sắc đỏ, sắc đỏ đó từ từ lan rộng ra, giống như từng bông hồng đỏ thắm, cũng lại giống như một vệt máu loang đỏ thẫm... Đường Phong nhắm mắt lại, khi anh mở mắt ra, trước mắt anh lại hiện lên một bức tranh tĩnh, anh bình tĩnh nói với mọi người; “Tôi nghĩ tới một chỗ.”

“Chỗ nào?”

“Ngôi mộ, mộ của giáo sư Boris” - Đường Phong nhấn mạnh.

“Mộ? Tại sao lại là chỗ đó?” - Hàn Giang hỏi lại Đường Phong.

“Trực giác, hãy tin vào trực giác của tôi, đây chính là câu anh hay nói mà!” - Đường Phong đáp lại.

“Đó quả thực là nơi không ai chú ý tới!” - Từ Nhân Vũ gật đầu tán đồng suy đoán của Đường Phong.

Đường Phong lại giải thích: “Thực ra tôi cũng không phải hoàn toàn dựa vào trực giác. Lúc tôi và tiến sỹ Từ tới mộ của giáo sư Boris, đã từng nhìn thấy có người đặt một bông hồng đỏ trước ngôi mộ hiu quạnh của giáo sư Boris, chắc là đặt trước đó không lâu, khả năng là ngay trước khi chúng tôi đến. Lúc đó tôi đã nghĩ, mùa đông lạnh giá như vậy nếu mua một bông hồng đỏ tại Saint Petersburg chắc chắn sẽ rất đắt! Tiến sỹ Từ cũng từng kể rằng giáo sư Boris sống một mình, không có con cái, cũng chẳng có mấy bạn bè, mộ lại ở nơi xa xôi hẻo lánh, trong ngày giá lạnh như vậy liệu ai sẽ đội giá rét để đến thăm mộ của ông đây? Hơn nữa lại còn đặt lại một bông hồng đỏ đắt tiền. Bây giờ nghĩ lại, người đặt hoa chắc là Tymoshenko thôi!”

“Thời gian này ngược lại cũng gần với thời gian kệ tranh ngọc bị đánh cắp. Nhưng kể cả Tymoshenko có cất giấu kệ tranh ngọc tại ngôi mộ đi chăng nữa thì việc này liên quan gì tới việc tặng hoa?” - Hàn Giang không hiểu.

“Tất nhiên không liên quan gì ghê gớm tới việc tặng hoa, tôi nghĩ nếu giáo sư Boris chính là u hồn Misha, nếu Tymoshenko ám hại thầy giáo của mình thì chắc chắn sẽ chột dạ! Tất nhiên đây chỉ là suy đoán của tôi thôi!”

Yelena cũng bắt đầu tin vào suy đoán của Đường Phong: “Đường Phong nói cũng có lý, rất có khả năng Tymoshenko đã đem kệ tranh ngọc đánh cắp được giấu trong mộ. Được rồi, chúng ta không cần phải suy doán nữa, ngay sau đây sẽ chia ra để hành động, bất luận kệ tranh ngọc có giấu trong mộ hay không thì Hàn Giang, Đường Phong và cả cha nữa, ba người hãy tới mộ của giáo sư Boris trước, đề phòng có người đào mộ, rồi đợi tới khi trời sáng. Con lập tức đi làm công văn khai quật mộ, bên cạnh đó sẽ tới Đại học Saint Petersburg để xem lại hồ sơ về giáo sư Boris ở trong trường. Tiến sỹ Từ, tốt nhất là anh theo tôi, sau đó mọi người sẽ gặp nhau tại nghĩa trang.”

Từ Nhân Vũ gật đầu đi theo Yelena, Đường Phong, Hàn Giang, Lương Viện và Makarov vội vã tới nghĩa trang Shuvalov ở vùns naoại ô. Lúc này, đã là rạng sáng ngày hôm sau, cung điện Mùa Đông đã trải qua một đèm không ngủ.

7

Trời vẫn chưa sáng tỏ. Đường Phong, Hàn Giang, Lương Viện và Makarov đã tới nghĩa trang Shuvalov. Nghĩa trang yên tĩnh lạ thường, không thấy một tiếng chim hót, cũng không trông thấy một bóng người. Hai hàng tuyết tùng trải dài theo con đường nhỏ dẫn sâu vào nghĩa trang, bốn người giẫm trên tuyết, phát ra những âm thanh “rắc, rắc” nặng nề. Lương Viện vẫn nắm tay Đường Phong, hoảng sợ nhìn từng hàng bia mộ và thánh giá nhấp nhô hai bên đường. Bốn người đi tới cuối con đường, dựa vào trí nhớ, Đường Phong chỉ vào dốc núi nhỏ bên trái, khẽ nói: “Chắc là trên dốc núi đó.”

Bốn người tiếp tục tiến lên dốc núi, đột nhiên, họ nghe thấy tiếng sột soạt. Hàn Giang cảnh giác rút súng ra, đây là khẩu súng mà trước khi Yelena rời khỏi cung điện Mùa Đông đã đưa anh để phòng thân. Hàn Giang đi trước Đưòng Phong, đứng sừng sững trên tuyết, quan sát xung quanh. Trời sáng, trong nghĩa trang đã bốc sương trắng, Hàn Giang không nhìn rõ mọi vật cách khoảng chục mét, anh chỉ có thể lắng nghe. Anh lại nghe thấy những âm thanh sột soạt. Lúc này, trong nghĩa trang không thể có người, lẽ nào là Stephen hay là Tymoshenko? Đúng lúc Hàn Giang đang nghi ngờ thì Makarov bước tới, vỗ vỗ vai anh: “Đừng căng thẳng, đó chỉ là hai con sóc nshịch ngợm thôi.”

“Sóc! Ở đâu? Bác chắc chắn vậy sao?"’

“Đi thôi! Tôi có thể đảm bảo đó là sóc mà!”

Mười phút sau, họ đã leo lên sườn núi. Hàn Giang đứng trên sườn núi, nhìn xung quanh, vẫn chưa nhìn rõ cảnh vật, chỉ loáng thoáng trông thấy rặng thông um tùm trên dốc núi phía xa xa. Hàn Giang quay lại dùng đèn pin soi về phía vị trị họ đang đứng, anh trông thấy một bia đá to lớn, đen sì, bên trên khắc hai chữ Hán lớn: Bất uất.

Trong lúc Hàn Giang đang ngạc nhiên thì Đường Phong chỉ tấm bia đá giới thiệu: “Đây là mộ của bậc thầy Hán học nổi tiếng, viện sỹ Arika. ”

“Chính là thầy giáo của Misha?” - Makarov hỏi. “Đúng vậy, rất nhiều nhà Hán học của nước Nga đều là học sinh của ông!” - Đường Phong đáp.

“Mộ của giáo sư Boris đâu?” - Hàn Giang lại hỏi Đường Phong.

“Chắc là ở gàn đây!”

Nói xong, Đường Phong liền đi tới mộ của giáo sư Boris, nhưng lại bị Hàn Giang túm ngay lại. Hàn Giang cẩn trọng dùng đèn pin soi xung quanh khu vực mộ của viện sỹ Arika, soi tới sát gần mặt tuyết phía xa xa rồi mới yên tâm, anh nói: “Ở đây ngoài vết chân của chúng ta ra thì không phát hiện thấy dấu chân ai khác, xem ra ngoài chúng ta thì mấy hôm nay cũng không có ai tới đây cả!”.

Chẳng mấy chốc Đường Phong đã tìm thấy bia mộ của giáo sư Boris trong những tấm bia mộ ngổn ngang, bởi vì anh lại trông thấy bông hồng đỏ đó. Bông hồng đỏ vẫn nằm lặng lẽ trước mộ của giáo sư Boris, chỉ có điều sau vài ngày bị gió tuyết vùi dập, nên nó đã mất đi màu đỏ tươi vốn có.

Đèn pin của Đường Phong soi lên bia mộ, vẫn là tấm bia mộ bình thường, có thể nói là sơ sài, bên trên khắc bằng chữ Nga “Boris Mikhail Ivanovich Ustinov”. Ngoài dòng họ tên như vậy ra thì không có gì cả. Đèn pin của Đường Phong từ từ di chuyển tới phía sau bia mộ, đó chính là nơi yên nghỉ của giáo sư Boris. Đường Phong tiến lại gần, dùng đèn pin tỉ mỉ quan sát chỗ này. Đột nhiên, anh mở to mắt, hét lên: “Mọi người xem, ở đây hình như bị ai đó lật lên rồi!”

Mấy người xúm lại, thấy trên bia mộ của giáo sư Boris tuy phủ kín tuyết nhưng rõ ràng tuyết mỏng hơn trên những nắp mộ khác, hơn nữa lại còn có vẻ hỗn loạn. Đường Phong nói như đinh đóng cột: “Nhất định có vấn đề. Tôi còn nhớ lần trước đến đây với tiến sỹ Từ, tuyết ở đây rất dày, hơn nữa cũng không hỗn loạn như vậy.” “Xem ra cậu nói đúng đấy!” - Hàn Giang nói. Lương Viện đột nhiên hỏi lại Hàn Giang: “Nếu quả thực kệ tranh ngọc được cất giấu ở đây, thì hiện giờ chúng ta ở đây không phải rất nguy hiểm sao? Stephen và Tymoshenko có thể đem người tới đây giết chúng ta bât cứ lúc nào.”

Hàn Giang gật gật đầu, đáp: “Đúng vậy, chứng ta phải chuẩn bị chiến đấu bất cứ lúc nào.”

“Mong rằng Yelena sớm đưa người tới đây!” - Makarov âm thầm cầu nguyện. 

8

Khi Yelena và Từ Nhân Vũ dẫn theo cả đoàn người tới nghĩa trang Shuvalov thì trời đã sáng tỏ, nhưng sương sớm vẫn chưa tản hết. Giây phút mà Đường Phong và Hàn Giang trông thấy Yelena thì thần kinh đang căng như dây đàn của họ mới chùng xuống. Cảnh sát bố trí vài vòng cảnh giới xung quanh ngôi mộ, Yelena còn mang theo cả một vị bác sỹ pháp y giàu kinh nghiệm.

“Cuối cùng cũng đợi được em tới. Hiện giờ chúng ta có thể chắc chắn, thời gian gần đây mộ của giáo sư Boris đã bị người ta đụng tới!” - Hàn Giang nói thẳng với Yelena về những phát hiện của họ.

“Ồ, nói như vậy thì kệ tranh ngọc rất có khả năng được chôn ở đây sao?” - Yelena phấn khởi nói.

“Phải đào lên mới biết được!” - Makarov đáp.

Yelena lại tiếp lời: “Tôi cũng có phát hiện mới, chúng tôi đã làm rõ lai lịch của giáo sư Boris tại Đại học Saint Petersburg. Quả thực năm 1988 ông đã tới Đại học Saint Petersburg, Tymoshenko cũng đúng là học sinh của ông. Khoảng tám năm trước, giáo sư Boris chết vì một căn bệnh đáng sợ, nghe nói là bệnh truyền nhiễm về da, bởi vậy gần như không có ai tới tham dự tang lễ của ông và cũng rất ít người biết mộ của ông ở đâu.”

“Còn theo như những gì mà đồng nghiệp của giáo sư Boris kể lại thì trong thời gian ông lâm bệnh, đều do Tymoshenko chăm sóc ông. Sau khi giáo sư Boris chết, cũng là Tymoshenko giúp ông lo liệu tang lễ, giúp ông xây cất ngôi mộ này’’ - Từ Nhân Vũ bổ sung thêm.

“Hóa ra là vậy! Vậy thì suy đoán của chúng ta hoàn toàn có thể thành sự thật, sau năm 1988, Misha không còn được KGB bảo hộ nữa nên đã tới giảng dạy tại Đại học Saint Petersburg. Đáng lẽ ông có thể yên ổn tận hưởng tuổi già ở đây, nhưng cuối cùng lại bị chính học sinh Tymoshenko của mình hãm hại. Nhưng Misha chưa hề chết, ông đã trốn xuống dưới đường cống ngầm, và trở thành u hồn.” - Đường Phong nói.

“Vậy trong ngôi mộ sẽ là gì nhỉ? Lẽ nào bao nhiêu năm qua đều trống trơn?” - Lương Viện đột nhiên đưa ra câu hỏi.

“Đào lên xem nào!” - Yelena nói, rồi lệnh cho hai viên cảnh sát bắt đầu đào bới. Mộ rất nông, chỉ năm phút sau, một huyệt mộ không lớn lắm đã hiện lên. Trong huyệt mộ là một chiếc quan tài được làm bằng gỗ xoan. Makarov tỉ mỉ quan sát cỗ quan tài này, nói: “Từ chất liệu và cách chế tác cho thấy, đây là một cỗ quan tài khá tốt, tám năm rồi, không có bất cứ vết tích mục nát nào.” “Cỗ quan tài tốt vậy chắc là bên trong không thể trống rỗng đâu nhỉ?” - Lương Viện nói.

Yelena đưa mắt ra hiệu ột viên cảnh sát, anh ta dùng một chiếc xà beng cậy nắp quan tài trong huyệt mộ lên. Mọi người quây xung quanh huyệt mộ, căng thẳng nhìn chiếc quan tài trước mặt. Nắp quan tài đã thực mở ra, một bộ hài cốt thiếu mất xương sọ xuất hiện trước mắt. Mọi người thấy vậy không ai là không kinh ngạc: “Hài cốt không đầu?” - không ai bảo ai cùng đồng thanh kêu lên.

Hai phút sau, chỉ có Đường Phong nhanh chóng hình tĩnh lại. Anh không đợi bác sỹ pháp y ra tay mà liền thò tay vào trong quan tài nhặt một chiếc xương cánh tay, quan sát tỉ mỉ, sau đó nói với mọi người: “Bộ hài cốt này rất sạch sẽ, mọi người xem, trong quan tài tất cả đều rất sạch sẽ, rõ ràng không giống những quan tài chôn người chết thật sự, bộ hài cốt không đầu này khiến tôi nghĩ tới hoàng hậu Một Tạng mà Tymoshenko từng nói với tôi.” “Chính là vị hoàng hậu bị bọc trong pho tượng phật ư?” - Yelena hỏi lại.

Đường Phong gật gật đầu: “ừm, đây có thể chính là hoàng hậu Một Tạng đó!”

Yelena không nói gì, quay người ra hiệu cho vị bác sỹ pháp y giàu kinh nghiệm giám định bộ hài cốt. Chẳng mấy chốc vị bác sĩ này đã rút ra kết luận đầu tiên: “Bộ hài cốt không có xương sọ này là của nữ giới, phán đoán bước đầu là của một người phụ nữ thuộc chủng tộc Tây Tạng - Aryan - Mông cổ, khoảng trên dưới 40 tuổi, cũng có khả năng cao hơn một chút.”

Kết luận này lại khiến mọi người vô cùng kinh ngạc, trong huyệt mộ của giáo sư Boris bỗng lại xuất hiện hài cốt phụ nữ, hơn nữa lại là chủng người Mông Cổ. “Cũng có nghĩa là bộ hài cốt này không thể là hài cốt của người Nga phải không?” - Yelena ngạc nhiên hỏi bác sỹ pháp y.

Bác sỹ pháp y gật đầu, khẳng định đáp: “Bộ hài cốt này chắc là đến từ Phương Đông, hơn nữa cũng có lịch sử rất lâu đời, ít nhất cũng hàng trăm năm, bà ta còn cổ xưa hơn bất cứ linh hồn nào trong nghĩa trang này. Đây quả thực là việc kỳ lạ không thể tin được, lần đầu tiên trong sự nghiệp mấy chục năm công tác tôi gặp phải đấy...”

Yelena đã không còn nghe rõ những lời nói sau đó của vị bác sỹ pháp y, cô chỉ cảm thấy đầu óc mình quay cuồng, rối tung cả lên. Một lúc lâu sau, cô mới nghe thấy Makarov nói: “Xem ra suy đoán của Đường Phong là chính xác đấy, bộ hài cốt này quả thực là hài cốt của hoàng hậu Một Tạng, bà đến từ Phương Đông xa xôi và bị chôn vùi ở đây.”

Makarov nói xong, lại làm dấu thập tự trước ngực. Đường Phong liền nảy sinh nghi ngờ mới: “Nhưng theo như những gì Tymoshenko nói, hài cốt của hoàng hậu Một Tạng đã bị thất lạc trong chiến tranh vệ quốc, sao giờ lại đột nhiên xuất hiện ở đây?”

“Điều này thì phải hỏi Tymoshenko và u hồn Misha rồi!” - Yelena nói xong, dặn dò vị bác sỹ pháp y thu dọn cẩn thận bộ hài cốt phụ nữ không đầu để đem về phòng thí nghiệm xét nghiệm cẩn thận. “Vấn đề hiện giờ là kệ tranh ngọc đâu? Trong quan tài không hề có, lẽ nào Tymoshenko và Stephen đã nhanh chân trước một bước lấy kệ tranh ngọc đi mất?” - Yelena thất vọng nói. 

Yelena vừa dứt lời, Đường Phong đã nhảy thẳng xuống huyệt mộ, đứng giữa quan tài. Lương Viện giật mình: “Đường Phong, anh định làm gì vậy?”

“Tôi tin rằng kệ tranh ngọc ở đây!” - Nói xong,

Đường Phong cúi người xuống sờ lên mảnh ván để quan tài, rồi dùng tay gõ gõ, sau đó cầm chiếc xà beng trong tay viên cảnh sát cắm vào cạnh để quan tài, ra sức nậy lên. Đế quan tài bị cậy bật lên, mọi người kinh ngạc phát hiện: hóa ra dưới đáy quan tài vẫn còn một lớp nữa. Đường Phong phấn khích nậy tất cả bản gỗ lên, lật lớp bọt biển đậy dưới tấm gỗ lên - một kệ tranh ngọc óng ả đẹp đẽ hiện lên trước mắt mọi người, trên mặt tấm ngọc còn lấp lánh ánh vàng. Đường Phong nhận ngay ra: đây chính là kệ tranh ngọc mà anh phát hiện ra trong Hắc Đầu Thạch Thất.

Đường Phong nâng kệ tranh ngọc lên khỏi cỗ quan tài, Makarov cẩn trọng đón lấy, đặt nó lên nền tuyết trước tấm bia mộ. Ngay sau đó, Đường Phong lại phát hiện ra dưới đáy quan tài còn một lớp nữa có xếp từng dãy súng tiểu liên M4A1 cùng những băng đạn lớn.

“Tymoshenko biến chỗ này thành kho lưu trữ của hắn ta rồi!” - Yelena nhìn những khẩu súng được lấy ra từ trong huyệt mộ nhận xét. Cô vừa dứt lời, từ phía sau những người đứng quanh bỗng vang lên tiếng nói hỗn loạn.

9

Mọi người xung quanh huyệt mộ cùng nhìn về một phía, trên con đường nhỏ gần đó, hơn hai chục cảnh sát trang bị đầy đủ súng đạn đang vây quanh một người đàn ông cao to, toàn thân khoác áo choàng trắng, đội mũ chụp đầu. Cảnh sát lớn tiếng hô hào người đó, yêu cầu ông ta dừng lại để kiểm tra nhưng người này không buồn để ý tới họ, cứ tiếp tục đi về phía ngôi mộ...

“Trời ơi, u hồn hiện thân thật rồi!” - Đường Phong chứng kiến cảnh tượng này thẫn thờ thốt ra câu đó.

Yelena thấy vậy vội vàng dùng bộ đàm ra lệnh cho cảnh sát: “Không được chặn lại, để ông ta tới đây.”

Hơn hai chục viên cảnh sát tản ra, mở đường cho u hồn. u hồn màu trắng một mình tiến lên sườn núi, mộ trắng, áo choàng trắng, mũ chụp đầu màu trắng, một thế giới trắng, dường như u hồn đang hòa cùng những gì xung quanh, ông cô độc, bước chân lảo đảo trên con đường tuyết phủ, giống như tù nhân Siberia lưu lạc…

Rút cuộc u hồn đã ngừng cầu nguyện, đứng dậy, đi về phía mọi người. Đến nơi còn cách mọi người khoảng năm mét, u hồn dừng lại. Đường Phong không thể tin đây chính là u hồn mà mình gặp trong cung điện Mùa Đông, anh càng không thể tin u hồn trước mặt này sẽ là Misha. Anh muốn nhìn rõ mặt u hồn, nhưng u hồn cúi đầu, chiếc mũ chụp đầu thùng thình che kín cả mặt u hồn. Đường Phong lại chăm chú quan sát chiếc áo choàng mà u hồn đang mặc, một chiếc áo thật kỳ lạ, Đường Phong không hiểu kiểu dáng của chiếc áo choàng này là của phương Tây phương hay phương Đông, “Misha, là anh phải không?” - Makarov lên tiếng trước.

“Ivan, tuy anh đã già rồi nhưng tôi vẫn nhận ra anh!” - u hồn Misha đã trả lời, giọng nói khàn khàn kỳ lạ.

“Anh không thể bỏ mũ chụp đầu ra sao?” - Makarov lại hỏi.

“Bởi vì như vậy có thể khiến các anh khiếp sợ!” - u hồn Misha đáp lại. Nói xong, Misha từ từ gỡ mũ chụp đầu xuống, ngẩng mặt lên. Mọi người chứng kiến đều vô cùng sửng sốt. Trên khuôn mặt sần sùi của Misha mọc chi chít những mụn bọc lớn nhỏ, có những mụn bọc còn tấy đỏ, có những mụn bọc đã vỡ ra chảy mủ xuống. Đó là một khuôn mặt khủng khiếp nhất trên thế giới này, khó có thể dùng ngôn ngữ để miêu tả khuôn mặt đó.

“Sao? Anh…” - Makarov tức khắc khựng lại, không thốt nên lời.

Từ Nhân Vũ vô cùng kinh ngạc, run rẩy hỏi: “Thầy có còn nhớ em không? Hơn chục năm trước em đã từng nghe thầy giảng bài?”

“Từ, tất nhiên tôi vẫn nhớ cậu, thật không ngờ hôm nay lại gặp cậu ở đây. Tôi cũng biết cậu đến đây vì kệ tranh ngọc, đây là bí mật được tôi cất giấu hơn nửa thế kỷ qua, giờ xem ra không thể giữ được nữa rồi!”

“Misha chính là giáo sư Boris? Ông chính là người đã cứu mạng tôi trong cung điện Mùa Đông phải không?”

- Đường Phong hỏi.

U hồn Misha bỗng bật cười vài tiếng, âm thanh đó không giống cười mà lại giống như kêu khóc hơn.

“Không sai, Misha chính là Boris, Boris chính là Misha.

Chàng thanh niên, cho dù cậu là ai thì tôi cũng không muốn cậu chết trong tay Tymoshenko!” - Misha trả lời Đường Phong bằng tiếng Trung lưu loát.

“Misha, sau khi từ Trung Quốc trở về anh sống ra sao? Anh không chết vậy tại sao không đến tìm tôi?” - Makarov hỏi.

“ít nhất trước khi tôi ‘chết’ thì tôi sống cũng khá ổn. Nhưng làm người không nên đòi hỏi quá cao, KGB đã an bài mọi thứ cho tôi, tôi không còn sự lựa chọn nào khác, tôi chỉ cần theo vậy mà sống là được rồi. Trong cuộc sống đã được an bài đó, tôi không thể đi tìm anh.”

“Chúng tôi đã tìm thấy hồ sơ của anh tại KGB nhưng đến năm 1988 thì không còn ghi chép gì về anh nữa, vậy là thế nào?” - Makarov lại hỏi.

Misha thở dài: “Lúc đó khi tôi thập tử nhất sinh quay trở về, Shelepin đã thu xếp mọi thứ cho tôi, khiến tôi không thể tự lựa chọn cuộc sống của mình. Tôi đã từng oán hận ông ta, nhưng giờ nghĩ lại, tôi mới nhận ra Shelepin không hổ danh là một chính trị gia có tài nhìn xa trông rộng. Hình như ông đã sớm dự liệu được số phận của rất nhiều người, bao gồm cả cuộc đời tôi. Dĩ nhiên ông lại không thể dự liệu được số phận của chính mình. Ông sớm lo liệu, chỉ cần tôi mất đi sự bảo hộ hữu ích của KGB, thì nguy hiểm lúc nào cũng sẽ rình rập. Sự thật quả đúng như vậy, năm 1988, liên bang từng vững mạnh kiên cố đã bị lung lay, bản thân KGB còn khó giữ mình. Vì bị KGB bảo hộ từ lâu, giám sát 24 tiếng mỗi ngày, nên đã khiến tôi mất đi hầu hết không gian riêng tư, vậy là tôi xin được đến công tác tại Đại học Saint Petersburg. KGB không thể cài cắm người của họ trong trường đại học, cộng thêm tuổi tác tôi cũng cao, bao nhiêu năm qua chưa từng xảy ra chuyện gì, vậy là đúng lúc đó, KGB đã gỡ bỏ sự giám sát bảo hộ đối với tôi”.

10

U hồn Misha ngừng lại một lúc, dường như ông đang hồi tưởng lại quãng thời gian tươi đẹp; “Những ngày tháng mới đến trường đại học quả là những ngày tháng rối ren, nhưng tôi say sưa với nghiên cứu của mình Cuộc sống tuy khó khăn đạm bạc nhưng đó lại là quãng thời gian vui nhất trong cuộc đời tôi, mãi cho tới khi Tymoshenko xuất hiện. Chính hắn, chính hắn đã hủy hoại cuộc sống của tôi, hủy hoại mọi thứ của tôi, khiến tôi trở thành hình dạng người không ra người, quỷ không ra quỷ như ngày hôm nay!”

“Tymoshenko đã hại ông thế nào? Tại sao anh ta lại phải hại ông?” - Đường Phong mạnh dạn hỏi.

“Bởi vì kệ tranh ngọc, bởi vì bí mật của kệ tranh ngọc! Tôi không thể không thừa nhận Tymoshenko là một trong những học sinh thông minh, cần cù và cũng tài hoa nhất của tôi. Lần đầu tiên nhìn thấy cậu ta, tôi đã tin rằng chỉ cần cậu ta cố gắng nỗ lực thì sẽ có thể vượt qua cả tôi, thậm chí đến một ngày còn có thể đứng ngang hàng với bậc thầy, ân nhân của tôi - viện sỹ Arik. Cũng bởi vậy mà tôi đã nói với cậu ta rất nhiều chuyện mà đáng ra là không nên nói.”

“Ví dụ như chuyện kệ tranh ngọc giấu dưới tầng hầm cung điện Mùa Đông và cả bí mật của kệ tranh ngọc nữa?” - Makarov nói chêm vào.

“Đúng vậy, cả chuyện những gì mà đội thám hiểm năm đó gặp phải, tuy vẫn giữ kín một vài bí mật quan trọng với cậu ta, nhưng những gì tôi nói cũng đã quá nhiều, quá nhiều. Tôi nhìn thấy sự tài hoa và thiên phú của cậu ta nhưng không nhìn rõ con người cậu ta, nên bỏ qua việc tìm hiểu con người này. Mãi sau này, tôi mới phát hiện ra dã tâm của cậu ta. Nhưng tới khi tôi muốn đi tìm KGB để họ di chuyển kệ tranh ngọc dưới tầng hầm cung điện Mùa Đông, thì KGB đã không còn tồn tại nữa. Tôi đến cục cảnh sát và một vài ban ngành khác nhưng không ai tin lời tôi, họ đều cho rằng tôi là một gã điên. Tymoshenko biết hành động của tôi, nhưng cậu ta không coi tôi là gã điên mà lại coi tôi là mối đe dọa lớn. Vì kế hoạch quy mô của họ, cậu ta đã âm thầm hạ độc tôi, biến tôi thành bộ dạng thế này, sau đó mua chuộc cảnh sát, tuyên truyền với bên ngoài là tôi đã chết, nhưng tôi vẫn chưa chết. Vậy là Tymoshenko lại âm mưu giết tôi lần nữa, cậu ta thuê một sát thủ giết hại tôi. Tôi phải lẩn trốn khắp nơi, một lần tôi đã bị sát thủ đó đuổi đến đường cống ngầm, gã đó đã nổ liền mấy phát súng, trong đó một phát súng đã bắn trúng tôi và tôi đã gục trong nước cống,bất tỉnh nhân sự. Gã sát thủ đó tưởng rằng đã kết liễu được tôi, nên đã bỏ đi. Tôi lại thoát được lần nữa và được những người nhặt rác cứu sống. Từ đó trở đi, tôi đã đi theo những người nhặt rác sống cuộc sống giống như kẻ ăn mày, tôi lựa chọn cuộc sống dưới đường cống ngầm.

Và như vậy, vài năm qua đi, Tymoshenko cho rằng tôi đã chết, nên không tiếp tục truy sát tôi nữa.”

“U hồn chúng tôi gặp trong lần đầu tiên xuống cống ngầm có phải là ông không?” - Từ Nhân Vũ hỏi.

“Là tôi, nhưng lúc đó tôi rất sợ, tôi sợ Tymoshenko phát hiện ra tôi vào trong cung điện Mùa Đông, biết tôi vẫn chưa chết thì sẽ lại tiếp tục truy sát tôi, bởi vậy tôi đã bỏ chạy. Hơn nữa lúc đó tôi loáng thoáng nghe thấy các cậu nói chuyện với nhau bằng tiếng Trung Quốc, điều đó lại càng khiến tôi hoảng sợ, trong đường cống ngầm tại Saint Petersburg tại sao lại có người nói tiếng Trung? Tôi còn nhớ rất rõ gã sát thủ giết tôi trước đây chính là một người Trung Quốc”.

“Sao cơ? Sát thủ người Trung Quốc?” - Hàn Giang kinh ngạc.

“Đúng vậy, tôi nghi ngờ hắn cùng hội với Tymoshenko.”

“Vì thế ông cũng nghĩ chúng tôi là người của Tymoshenko!” - Hàn Giang nói.

“Đừng quên lúc đó các cậu còn cầm cả súng.”

“Nhưng khi chúng tôi phát hiện ra căn buồng nhỏ dưới lòng đất thì ông hình như đã rời khỏi đó, có phải căn phòng đó đã bị ông bỏ lại không?” - Hàn Giang nói ra thắc mắc trong lòng.

U hồn Misha cười nhạt, đáp: “Hình như gần đây Tymoshcnko đã phát giác ra tôi vẫn chưa chết, nhất là sau khi anh ta phát hiện ra tôi đột nhập vào cung điện Mùa Đông nên đã mấy lần xuống đường cống ngầm tìm tung tích của tôi. Anh ta cũng cải trang giống tôi thế này, anh ta cũng phát hiện ra căn phòng nhỏ dưới lòng đất của tôi, nên tôi không thể không di chuyển tới một căn phòng khác ở dưới đó, đấy chính là nhà của u hồn mà các cậu thường nói. Hàng nghìn hàng vạn con chuột đã chặn đứng đường đi của Tymoshenko, còn tôi với bộ dạng thế này lại khiến cho bọn chuột phải nhường đường, có lẽ bọn chúng cũng không muốn bị nhiễm mầm bệnh trên cơ thể tôi, khà khà... Tôi phải cảm ơn những con chuột đó, chính bọn chúng đã giúp tôi sống được đến ngày hôm nay.”

“Thảo nào khi lần thứ hai tôi xuống đường cống ngầm lại luôn cảm thấy có một đôi mắt chằm chằm nhìn mình, hóa ra là Tymoshenko.” - Hàn Giang hồi tưởng lại tình hình trong đường khi xuống đó lần thứ hai.

11

“Vậy ông xâm nhập vào cung điện Mùa Đông thế nào?” - Đường Phong hỏi Misha.

“Đó là mấy hôm trước, tôi vô tình phát hiện ra đường cống ngầm rất gần cung điện Mùa Đông đã bị ai đó đập thủng. Tôi chui vào xem thì hiểu ra cái lỗ đó thông tới gian mật thất cất giữ kệ tranh ngọc, nên tôi lập tức nghĩ tới Tymoshenko.”

“Vậy là ông đã đập tiếp cái lỗ đó, rồi từ đó chui vào cung điện Mùa Đông, đêm đêm lại nhát ma dọa quỷ. Nhưng tôi vẫn còn chút thắc mắc, ông làm thế nào mà có thể mở được những cánh cửa đó ra? Rồi còn trốn được cả camera giám sát?” - Đường Phong lại hỏi.

“Đừng quên, tôi đã từng làm việc trong đó mấy chục năm, tôi nắm rõ như lòng bàn tay từng căn phòng trong đó. Ngoài ra, tôi cũng học được một vài chiêu của người đặc công từng phụ trách bảo vệ tôi, ví dụ như tự tạo máy phá sóng, có thể làm nhiễu tín hiệu của camera, hay làm thế nào để mở cửa phòng.”

“Vậy tại sao ông phải đột nhập vào cung điện Mùa Đông?” - Đường Phong nói ra nghi ngờ lớn nhất trong lòng.

“Bọn chúng mà đoạt được kệ tranh ngọc thì một thảm họa sẽ bắt đầu, bởi vậy tôi phải dựa vào năng lực ít ỏi của mình để ngăn chặn âm mưu của hội Tymoshenko.”

“Âm mưu của Tymoshenko? Có phải vì pho tượng phật đó không? Lần đầu tiên khi tôi vô tình vào nhầm trong cung điện Mùa Đông thì phát hiện ra pho tượng phật trong gian triển lãm Trung Quốc đã biến mất, nhưng hôm sau nó lại xuất hiện nguyên vẹn trong tủ trưng bày, là do ông làm sao?” - Đường Phong hỏi thẳng vấn đề mà anh quan tâm nhất.

U hồn Misha cúi đầu, im lặng, giống như đang ngẫm nghĩ, cũng giống như có điều khó nói. Dốc núi nhỏ chìm trong tĩnh lặng, chỉ có âm thanh ghê rợn của những cơn gió lạnh chốc chốc lại thổi qua. Đường Phong phát hiện ra hình như cánh tay trái của Misha có chút không tự nhiên, anh nhìn theo cánh tay của ông, máu, anh nhìn thấy từng giọt từng giọt máu trên cánh tay của Misha đang nhỏ xuống nền tuyết, đây chắc là vết thương mà ông bị Tymoshenko bắn trúng. Đường Phong tiến lên phía trước, quan tâm hỏi: “vết thương của ông vẫn đang chảy máu kìa!”

Đường Phong định tiến lên nữa, nhưng Misha đột nhiên ngẩng đầu, hét về phía anh: “Đúng vậy, là vì pho tượng đó, lần đó đáng lẽ nó đã ở trong tay tôi nhưng vì cậu xuất hiện, chạm vào thiết bị cảnh báo nên tôi phải vội vã thoát thân, bất đắc dĩ mới phải đặt pho tượng về vị trí cũ.”

“Bên trong pho tượng rút cuộc có gì vậy? Là xương sọ của hoàng hậu Một Tạng sao?” - Đường Phong truy hỏi.

“Xương sọ của hoàng hậu Một Tạng?! Bà quá đẹp, vẻ đẹp phương Đông hoàn mỹ không tỳ vết” - Nói xong, Misha lại bật ra tràng cười ớn lạnh, giống tiếng sói hú, lại giống như... Đường Phong không thể tưởng tượng ra đó là âm thanh gì. Nhưng đúng lúc này, cơ thể Misha bỗng lắc mạnh một cái, rồi ngay sau đó lại thêm một lần nữa. Tiếng súng thảm khốc đã xé rách sự tĩnh mịch của rừng sâu.

“Nằm xuống, có súng bắn tỉa!” - Sau tiếng hét của Hàn Giang và tiếng súng chói tai, cả vũng máu đỏ tươi trước ngực Misha vương vãi khắp nơi, máu nhuộm đỏ áo choàng trên người ông.

Đường Phong sững sờ chết lặng trước mặt Misha, anh không biết phải làm thế nào. Hàn Giang xông lên, kéo Đường Phong vào phía sau bia mộ: “Cậu không muốn sống nữa sao!” - Hàn Giang gào lên với Đường Phong.

Đường Phong vẫn đang nghĩ tới những lời nói của Misha ban nãy, Hàn Giang đã rút súng ra, chỉ về phía rừng thông trước mặt nói với Yelena: “Ở đó, trong rừng thông trước mặt!” - Hàn Giang, Yelena và rất nhiều cảnh sát nấp sau từng bia mộ, cùng bắn về phía rừng thông đó, nhưng phía bên đó chẳng mấy chốc đã yên tĩnh trở lại.

Misha trúng đạn, nhưng vẫn gượng đứng trên sườn núi, hình như những tiếng kêu thét, tiếng súng bắn tỉa xung quanh đều không liên quan tới ông. Ông khó nhọc bước đi vài bước, tiến tới ngôi mộ của mình, đó là ngôi mộ Tymoshenko xây cho ông, họ tên trên mộ là do KGB đặt cho ông, mọi thứ ở đây vốn dĩ đều không liên quan tới ông, nhưng cuối cùng ông vẫn kết thúc mạng sống đổ gục trước mộ. Cơ thể Misha co giật mạnh một cái, miệng và người vẫn không ngừng trào máu đỏ, ông trợn trừng đôi mắt khủng khiếp, nhìn Đường Phong, mãi vẫn không chịu khép lại. Đường Phong hoảng hốt chứng kiến cảnh tượng trước mắt, đột nhiên, anh nghe thấy từ miệng Misha thốt ra một câu không rõ lời: “Trong... trong tượng phật... có thứ... các cậu cần..

Nói xong câu này, cơ thể Misha lại co giật mạnh một lần nữa rồi bất động hẳn. Máu tươi của ông bắn lên ngôi mộ hoang sơ, bắn lên kệ tranh ngọc, và cũng từ từ nhuộm đỏ bông hồng đã úa tàn trước mộ...
 

hoahongden12

Active Member

Một khe nứt mỏng manh trên đầu pho tượng tượng giãn ra từng chút từng chút một, ngay sau đó lại là một đường nữa, đường thứ ba, đường thứ tư, đường thứ năm... rồi rào một tiếng, pho tượng phật mới ban nãy còn phảng phất khí cốt thần bí phương Đông, mà trong chớp mắt đã biến thành một đống gạch sứ hoang tàn. Và trong pho tượng, một chiếc xương sọ khủng khiếp hiện lên trước mắt mọi người...

1

Tiếng súng liên hồi rút cuộc đã dừng lại, Yelena dẫn người đi lục soát rừng thông trên sườn núi đối diện, tìm thấy vị trí của tay súng bắn tỉa, nhưng ở đó không còn gì cả.

Đường Phong, Hàn Giang, Lương Viện, Từ Nhân Vũ và Makarov vẫn đứng im trước ngôi mộ của giáo sư Boris, gió đông lạnh buốt cào qua mặt mọi người. Đường Phong thẫn thờ nhìn cảnh sát khiêng thi thể của Misha lên xe, lại thêm một người nữa bỏ mạng, anh không biết người tiếp theo sẽ là ai đây, là mình, hay là Hàn Giang?

Lúc đó anh đã chìm sâu trong sự trách móc bản thân, tại anh không sớm nhìn ra con người thật của Tymoshenko, lại còn kể cho anh ta nghe về chuyện gặp gỡ u hồn trong cung điện Mùa Đông. Chính Tymoshenko đã nghe anh kể nên mới chắc chắn rằng u hồn Misha vẫn chưa chết và mới lấy cắp đầu pho tượng phật quan trọng đi.

Yelena lục soát hiện trường xong, quay trở lại mộ giáo sư Boris, nói với mọi người: “Được rồi, chúng ta nên rút thôi!”

“Rút? Kết thúc như vậy sao?” - Hàn Giang hỏi Yelena.

“Anh muốn thế nào?”

“Bây giờ nhân lúc Stephen và Tymoshenko vẫn chưa rời khỏi Saint Petersburg, hãy tóm lấy chúng!” - Hàn Giang nói như đinh đóng cột.

“Đúng là phải tóm chúng, nhưng không phải ở đây. Hiện giờ bọn chúng không quay lại đây nữa đâu!” - Yelena phán đoán.

Makarov gật gù: “Yelena nói đúng đấy, kệ tranh ngọc hiện giờ đang ở trong tay chúng ta, bọn chúng đã không thể ở lại Saint Petersburg được nữa, chúng nhất định sẽ đem đầu pho tượng phật rời khỏi Saint Petersburg.”

“Đúng thế, vậy nên kế hoạch ngày hôm nay là phải tăng cường giám sát khống chế sân bay, bến xe, đường bộ và cả ga tàu hỏa nữa, đề phòng bọn chúng tháo chạy!”

- Yelena nói.

“Em cho rằng làm như vậy là có thể tóm được bọn chúng sao?” - Hàn Giang chất vấn.  

“Vậy anh nói xem phải làm thế nào bây giờ?” - Yelena tức tối nhìn Hàn Giang.

“Đợi đã!” - Đường Phong bỗng nhiên ngắt lời Hàn Giang và Yelena, “Yelena, ban nãy cô vừa nhắc đến sân bay, đường bộ, bến xe, ga tàu hỏa, nhưng... nhưng cô đã quên mất một địa điểm, Saint Petersburg là thành phố nằm cạnh biển...”

“Ý anh là vẫn còn bến cảng! Sao tôi lại quên mất bến cảng nhỉ!” - Yelena ngạc nhiên.

“Không chỉ là bến cảng mà bất cứ lúc nào bọn chúng cũng có thể tiến ra biển từ một bãi biển nào đó.” “Được rồi! Tôi sẽ lập tức ra lệnh phong tỏa tất cả các cảng biển, kiểm tra bến tàu thủy.”

“Dĩ nhiên, chúng có rất nhiều chiêu, bọn chúng có thể thử nghiệm đủ mọi cách thức. Tôi thấy thế này nhé, tôi và Hàn Giang sẽ đến bến tàu thủy xem sao. Lương Vỉện, cô và tiến sỹ Từ cùng lão Mã sẽ về khách sạn Astoria nghỉ ngơi. Mọi người luôn phải giữ liên lạc với nhau đấy!” - Đường Phong nói.

Hàn Giang gật đầu: “Hiện giờ cũng chỉ có cách đó. Yelena, cho anh mượn xe của em, anh hứa là sẽ không làm hỏng nó đâu.”

Yelena đưa chìa khóa cho Hàn Giang, dặn dò: “Các anh phải cận thận đấy!”

Hàn Giang nhận chìa khóa, nhìn kệ tranh ngọc vẫn đang đặt trên nền tuyết, anh cầm lên, mặt cố rặn ra một nụ cười khó coi, rồi lại nói với Yelena: “Cái này cũng để anh dùng trước nhé!”

Yelena lườm một cái, hét lên: “Anh đúng là được voi đòi tiên!” - Nói xong, Yelena nhìn nhìn xung quanh, phần lớn cảnh sát và đặc công của Cục an ninh Liên bang đã rút lui, lúc này cô mới yên tâm.

2

Hàn Giang giao kệ tranh ngọc cho Lương Viện để cô cất giữ. Lương Viện và Từ Nhân Vũ, Makarov, ba người mang theo kệ tranh ngọc về khách sạn nghỉ ngơi.

Đường Phong và Hàn Giang, lái chiếc Fiat của Yelena tới bến tàu thủy. Ở đây khá vắng người, chỉ có vài ba mống, cũng có rất ít thuyền ra khơi.

Đường Phong ngồi trong xe, cẩn thận quan sát những người trong bến tàu, anh hỏi Hàn Giang: “Anh đã trông thấy người của Yelena chưa?” - Hàn Giang cũng đang chăm chú quan sát những người trên bến tàu, nghe Đường Phong hỏi vậy, miệng liền lẩm bẩm: “Không nhận ra, có lẽ người của họ nấp ở đâu đó thôi!” - Hàn Giang quét mắt một lượt những người trên bến tàu, nói với Đường Phong: “Hai ngày hôm nay chúng ta chưa nghỉ ngơi rồi, không thể gượng mãi thế này được, ngộ nhỡ Stephen và Tymoshenko mấy hôm không xuất hiện thì chúng ta toi đấy, bởi vậy ta sẽ thay nhau nghỉ ngơi.

Thế nào, tôi nghỉ trước hay là cậu nghỉ trước đây?”

“Anh nghỉ trước đi! Tôi vẫn chịu được!” - Đường Phong khảng khái trả lời. Hàn Giang cũng không nhường, dặn dò Đường Phong mấy điều cần chú ý rồi gục đầu xuống ngủ. Cả ngày, Đường Phong ngồi mãi trong xe, vừa chăm chú quan sát động tĩnh trên bến tàu, vừa chịu đựng tiếng ngáy khò khò của Hàn Giang.

Bốn giờ chiều, sắc tối đã buông xuống, bến tàu thủy đã sáng đèn, Đường Phong quả thực cũng đã mệt oải. Anh ngáp dài một cái, nhìn sang Hàn Giang bên cạnh. Hàn Giang vẫn đang ngáy như sấm, chẳng có ý gì là thay ca cả. Đường Phong chau mày rồi lại nhìn ra ngoài cửa kính ô tô, nhiệt độ bên ngoài đang giảm xuống nhanh chóng, người qua lại trên bến tàu bước đi vội vã, chẳng mấy chốc đã khó mà thấy bóng dáng ai.

Đường Phong nhìn ra ngoài cửa xe, mí mắt đang không ngừng trừng xuống. Từ từ, từ từ, Đường Phong đã khép đôi mắt mệt mỏi cao độ lại. Khoảng hai mươi phút sau, một âm thanh chói tai đã đánh thức Đường Phong, anh vội vàng tỉnh dậy dụi đôi mắt kèm nhèm, nhìn ra ngoài cửa xe. Lúc này anh mới phát hiện ra trời đã về đêm, hơn nữa không biết từ lúc nào, bên ngoài đang mưa dông, cửa kính chiếc Fiat mù mịt hơi nước. Đường Phong thò tay ra lau lau hơi nước trên cửa kính ô tô, rồi lại gạt cần gạt nước lau cửa kính trước, lúc này anh mới trông thấy, trên bến tàu thủy cách đó không xa, đang có một chiếc BMW đỗ ở đó. Anh cố gắng nhớ lại âm thanh nghe thấy ban nãy, “hình như là tiếng phanh xe!” - Đường Phong nghĩ tới đây liền quan sát kỹ chiếc BMW cách đó không xa. Anh đột nhiên phát hiện hình như có một người đang đứng sau chiếc xe BMW lấy thứ gì đó từ trong cốp xe ra. Người đó làm gì đó một lúc, cuối cùng đã đóng cốp xe lại, xách một chiếc hộp hình vuông tiến về phía cây cầu sắt hoen rỉ cạnh chiếc BMW.

“Tymoshenko!” - Đường Phong nhìn thấy chiếc hộp đó liền nhận ngay ra đó chính là chiếc hộp mà Tymoshenko mang ra khỏi cung điện Mùa Đông.

“Ở đâu?” - Đường Phong nói không to nhưng Hàn Giang vẫn bị thức giấc và hỏi.

Đường Phong nhìn nhìn Hàn Giang, cười đau khổ: “Cuối cùng anh cũng tỉnh rồi cơ đấy, tôi còn tưởng anh chuẩn bị ngủ đến sáng mai cơ!”

“Nói ít thôi! Tymoshenko ở đâu?”

Đường Phong chỉ vào bóng người trên cây cầu sắt: “Đó chính là Tymoshenko, trong cái hộp mà anh ta đang xách chắc chắn là đầu pho tượng phật của hoàng hậu Một Tạng.”

Hàn Giang tập trung quan sát xung quanh một hồi, không phát hiện ra điều gì khác thường, anh không khỏi nghi ngờ: “Sao chỉ thấy mỗi Tymoshenko vậy?”

“Khả năng Stephen đang ở quanh đây.”

“Không quan tâm nhiều nữa, tóm lấy hắn rồi tính tiếp!” - Nói xong, Hàn Giang gọi điện cho Yelena. Yelena nghe Hàn Giang báo cáo xong liền nói: “Tạm thời anh cứ chú ý quan sát hắn, đừng hành động vội, em sẽ lập tức dẫn người tới!”

Gọi xong cho Yelena, Hàn Giang lại nhìn Đường Phong: “Đừng hành động vội? Cái này thật không phù hợp với phong cách của tôi!”

“Cũng không phù hợp với phong cách của tôi. Ngộ nhỡ Tymoshenko chạy mất thì sẽ không ổn đâu!” - Đường Phong lúc này nóng lòng muốn tóm được Tymoshenko để xem thử rút cuộc có gì được đựng trong chiếc hộp đó.

“Vậy thì chúng ta còn đợi gì nữa?” - Hàn Giang quẳng luôn lời dặn dò của Yelena sang một bên, rút súng ra, bước xuống xe. Đường Phong cũng xuống theo, hai người tới trước chiếc cầu thang sắt hoen rỉ loang lổ, chiếc cầu thang dẫn tới một chiếc cửa sắt màu xanh lá cây cũng hoen rỉ loang lổ, hai bên cửa sắt là một dãy tường vây bao quanh.

“Bên trong dãy tường vây đó là nơi nào nhỉ?” - Hàn Giang hỏi.

“Không biết, có lẽ là sào huyệt của bọn chúng!” - Đường Phong đáp.

Câu nói của Đường Phong khiến Hàn Giang càng đề cao cảnh giác. Hai người chẳng mấy chốc đã tới trước cánh cửa sắt màu xanh, Hàn Giang khẽ đẩy cửa, cánh cửa cót két một tiếng rồi mở ra. Đường Phong và Hàn Giang lách người qua, cẩn thận rón rén bước vào bên trong.

Trong cánh cửa không có lấy một tia ánh sáng, cũng không thấy tung tích của Tymoshenko, một vùng tối đen im ắng. Đường Phong giương súng từng bước, từng bước chậm rãi dò dẫm tiến lên phía trước. Hai người đều không bật đèn pin, bởi vì như yậy sẽ tự biến mình thành cái bia của đối thủ. Đường Phong lau những giọt nước mưa lạnh buốt trên mặt, tiếp tục tiến lên phía trước, đột nhiên, anh cảm thấy chân mình bỗng nhẹ bẫng, giống như bước hụt khỏi tòa nhà cao tầng cao tới trăm mét. Đường Phong có cảm giác bất an, dưới chân là gì nhỉ? Bẫy hay là vực sâu không đáy? Tuy hoang mang, nhưng theo phản xạ, anh lập tức lùi ngay lại phía sau nhưng vẫn bị ngã xuống. Đúng lúc ngàn cân treo sợi tóc đó, một bàn tay to khỏe đã tóm lấy anh. Đường Phong ngước lên nhìn, là Hàn Giang, Hàn Giang nhoài ra đất tóm chặt lấy anh.

Đường Phong thở hổn hển, tim đập thình thịch. Anh không biết Hàn Giang ở trên đó có thể gắng gượng được bao lâu, vì cảm thấy cơ thể mình vẫn đang trượt xuống. Không thể chỉ trông chờ vào Hàn Giang, bản thân mình cũng phải làm chút gì đó! Nghĩ vậy, Đường Phong cố gắng vươn một cánh tay ra, hướng lên trên, muốn tóm lấy thứ gì đó. Anh đã tóm được rồi, lại là một cánh tay, là một cánh tay khác của Hàn Giang. “Cố gắng lên!” - Hàn Giang vừa cổ vũ Đường Phong, vừa kéo Đường Phong lên từng chút một.

3 

Rút cuộc Đường Phong đã đứng dậy được, anh thở dốc, moi đèn pin trong người ra, bật đèn pin lên, soi xuống dưới chân, anh muốn nhìn xem rút cuộc dưới đó là gì mà xém chút nữa đã lấy mạng mình!

“Đừng soi nữa, phía dưới là hầm tàu!” - Hàn Giang nói.

“Hầm tàu?” - Đường Phong nghi ngờ soi soi xuống phía dưới, quả nhiên là một hầm tàu, một hầm tàu vừa sâu vừa rộng. Trong hầm tàu có vứt rất nhiều sắt đồng phế thải, một đầu hầm tàu thông với đại dương tối đen, lúc này nước biển đang cuốn theo những tảng băng nổi ra sức đập vào mạn hầm, phát ra những âm thanh ầm ầm. Còn đầu kia của hầm tàu lại giống như một công ten nơ bỏ hoang, công ten nơ xây trên hầm tàu, bên trong tối thui, không nhìn thấy lấy một tia sáng.

“Ở đây hóa ra là một xưởng đóng tàu?” - Đường Phong quay lại hỏi Hàn Giang.

“Không sai, là một xưởng đóng tàu, nhưng đã hoang phế từ lâu rồi.”

“Tymoshenko đâu? Có khi nào hắn trốn đi đâu không...” - Nói xong, Đường Phong chỉ chỉ vào công ten nơ tối om trước mặt.

Hàn Giang khẽ gật đầu, hai người lên nòng súng, áp sát công ten nơ tối om. Tấm cửa cuốn to lớn của công ten nơ ri sét loang lổ, một cảnh tượng hoang tàn, rõ ràng ở đây cũng đã bị bỏ hoang từ lâu. Hai người đứng im tại vị trí cách cửa công ten nơ chừng hai mươi mét, Đường Phong nhìn Hàn Giang, sau đó lớn tiếng hét vào bên trong công ten nơ tối đen: “Tymoshenko, tôi biết anh trốn bên trong, anh đã bị bao vây rồi, anh không thoát được đâu, mau đầu hàng đi!”

Công ten nơ tối đen lặng thinh như tờ, một vùng chết chóc, không ai lên tiếng, chỉ có tiếng nước biển cuốn theo băng nổi càng đập mạnh hơn vào hầm tàu. Đường Phong lại nhìn Hàn Giang, không biết tiếp theo nên làm thế nào. Hàn Giang vẫy tay, ý là tiếp tục tiến lên phía trước. Nhưng hai người họ vừa bước được một bước thì từ trong công ten nơ, giọng Tymoshenko đột nhiên vọng ra: “Đường Phong, cậu đừng lừa tôi nữa! Tôi bị bao vây ư? Hừm! Nếu tôi thật sự đã bị bao vây thì các người đã tấn công tôi từ lâu rồi.”

“Đúng là anh đang ở trong đó, đại đội của chúng tôi sẽ lập tức kéo đến, anh tưởng cứ trốn trong đó sẽ thoát được sao?”

“Tôi tự có cách của mình, không khiến anh phải bận tâm!”

“Được rồi, cứ cho rằng chúng ta sắp phải tạm biệt nhau, vậy thì hãy nói cho ra nhẽ được không?”

“Nói cái gì?” - Tymoshenko chất vấn.

“Nói về thầy giáo, giáo sư Boris của anh. Từ lúc tôi gặp anh ở cung điện Mùa Đông, tôi đã muốn hỏi anh về tình hình của giáo sư Boris, nhưng anh toàn lảng tránh, giờ thì tôi đã hiểu ra rồi. Anh nói xem, tại sao anh phải hại giáo sư Boris?”

“Bởi vì ông ta đã biết quá nhiều!” - Tymoshenko gào lên.

“Thế nên anh đã giết ông!”

“Không! Không phải tôi, là Stephen đã giết ông!” “Nói như vậy nghĩa là tất cả những gì anh làm đều là do Stephen điều khiển?”

“Khà khà! Đường Phong, cậu hơi coi thường tôi đấy, tôi bị Stephen điều khiển? Lúc tôi còn làm việc cho ‘tướng quân’ thì Stephen vẫn còn hành nghề trộm cắp văn vật đấy!”

“Tướng quân? Anh có thể nói cho tôi biết tướng quân là ai không?” - Đường Phong hỏi.

“Đường Phong, cậu đã biết không ít rồi đấy, tôi khuyên cậu một câu, các cậu đừng đấu với tướng quân, các cậu không đấu được với ông ta đâu.”

Nghe tới đây, Đường Phong và Hàn Giang bốn mắt nhìn nhau, trong lòng hai người đều có một dấu hỏi to tướng. Đường Phong định thần lại, hỏi tiếp: “Được rồi, tôi vẫn còn một câu hỏi, các anh đã đoạt được kệ tranh ngọc rồi vậy tại sao không sớm rời khỏi Saint Petersburg đi?” Trong công ten nơ hoang phế không có tiếng trả lời. Đường Phong và Hàn Giang chờ đợi hồi lâu, đúng lúc hai người cho rằng Tymoshenko đã chuồn mất thì trong công ten nơ lại vọng ra giọng nói của gã: “Đó là bởi vì tôi vẫn còn một thứ quan trọng vẫn chưa đoạt được, nếu như đoạt được thứ đó, cộng thêm bản đồ phía sau kệ tranh ngọc, thì tôi sẽ có thể tìm thấy Mật Thành Hạn Hải, thành phố ẩn sâu trong sa mạc, chứa đầy báu vật của vương triều Tây Hạ!”

“Còn có thứ gì vậy, có quan trọng bằng kệ tranh ngọc không?” - Đường Phong không hiểu lớn tiếng hỏi.

“Mạng sống của giáo sư Boris! Bởi vì ông đã biết quá nhiều, biết nhiều hơn bất cứ ai khác, còn chúng ta lại biết quá ít!” - Tymoshenko nói ra một câu không đầu không cuối, sau đó lại là sự im lặng kéo dài.

“Nếu tôi đoán không lầm thì thứ đó đang ở trong đầu pho tượng phật phải không?” - Đường Phong không nhịn được, lại phá vỡ sự im lặng.

“Đúng vậy, cho dù cả bốn kệ trong ngọc đều được tìm thấy thì muốn tìm kiếm được Mật Thành Hạn Hải cũng không thuận buồm xuôi gió, cũng vẫn phải đi rất nhiều đường vòng, bởi vì gần 1000 năm rồi, sự biến đổi của lịch sử sẽ thay thế rất nhiều, rất nhiều... Vì thế vẫn cần có một thứ như vậy mới có thể đưa chúng ta tới Mật Thành Hạn Hải một cách thuận lợi. Đây chính là nguyện vọng lớn nhất của tôi trong cuộc đời này!” - Nói xong, Tymoshenko liền bật ra tràng cười khiến người ta khiếp sợ. Cùng với tiếng cười của Tymoshenko, cửa của công ten nơ rỉ sét loang lổ đó bỗng nhiên cũng từ từ cuốn lên. Đường Phong và Hàn Giang mở trừng mắt, họ không biết mình sắp nhìn thấy gì đây.

Một chùm ánh sáng từ trong công ten nơ rọi ra ngoài, lóa tới mức khiến Đường Phong và Hàn Giang không mở được mắt. Đợi tới khi thích nghi được với chùm ánh sáng đó thì lúc này họ mới nhìn ra trong chiếc công ten nơ bỏ hoang lại là một đường băng chuyền dài dằng dặc và đang trôi trên đó là một chiếc ca nô cao tốc. Tymoshenko lúc này đang ở trên chiếc ca nô, mỉm cười với Đường Phong và Hàn Giang.

Đường Phong và Hàn Giang thấy vậy lập tức hiểu ngay tiếp theo đây sẽ xảy ra chuyện gì, nhưng họ chưa kịp phản ứng thì Tymoshenko đã vẫy vẫy tay với hai người rồi dồn sức khởi động chiếc ca nô trên băng chuyền, rồi họ chỉ kịp thấy chiếc ca nô màu trắng vẽ thành một đường vòng cung đẹp đẽ trên không trung, một đầu lao xuống mặt biển tối đen.

4

Khi Đường Phong và Hàn Giang quay lại xưởng đóng thuyền hoang phế, đến bến tàu thì đúng lúc gặp Ivan Pavlov kéo theo cả một đội quân tới. Hàn Giang càu nhàu Ivan Pavlov bằng tiếng Nga bồi: “Sao giờ bọn anh mới tới, Tymoshenko lái ca nô chạy mất rồi”.

Ivan Pavlov đang định mở miệng nói gì đó thì Hàn Giang lại chất vấn tiếp: “Yelena đâu? Sao chỉ có mỗi anh tới?”

“Yelcna có nhiệm vụ quan trọng khác!” – Ivan Pavlov đáp.

Hàn Giang quyết định không đợi Yelena nữa, anh dẫn Đường Phong tìm kiếm một vòng trên bến tàu, rồi nhảy lên một chiếc ca nô đang có người. Chủ nhân của chiếc ca nô không hiểu chuyện gì xảy ra, đang định hỏi Đường Phong thì Ivan Pavlov đã rút thẻ cảnh sát chìa ra trước mặt người đó: “Ca nô của anh hiện được Cục anh ninh Liên bang trưng dụng!”

Chủ nhân của chiếc ca nô chưa kịp hiểu gì thì đã bị đuổi xuống. Ivan Pavlov cũng nhảy lên ca nô, nói với Đường Phong và Hàn Giang: “Các anh ngồi cho chắc vào, cẩn thận bị văng xuống dưới biển.”

Nói xong, Ivan Pavlov điều khiển chiếc ca nô lao như tên bắn tiến thẳng về phía mặt biển tối đen.

Đường Phong và Hàn Giang bám chặt thành ca nô, không dám mở mắt. Nước biển, mưa lạnh, cuồng phong không ngừng quất lên mặt họ, giống như lưỡi dao cứa, cũng giống như bị kim châm. Hàn Giang không ngờ kỹ thuật lái ca nô của Ivan Paulov lại diệu nghệ đến vậy, anh đoán tốc độ của chiếc ca nô hiện giờ ít nhất cũng phải tới 50 cây số trở lên, chỉ cần bất cẩn buông tay ra một cái là sẽ ngã nhào xuống nước, bị mặt biển tối đen nuốt chửng.

Chiếc ca nô sau nửa tiếng nhấp nhô trên biển, Ivan Pavlov đột nhiên hét to một tiếng khiến Đường Phong và Hàn Giang gắng gượng hết sức để mở mắt ra. Lúc này hai người họ mới phát hiện thấy, hóa ra Ivan Pavlov đã đuổi kịp ca nô của Tymoshenko, ca nô của Tymoshenko đang cách chỗ họ khoảng mấy trăm mét, theo đường vòng cung bên trái. Lúc này Tymoshenko cũng đã phát hiện ra ca nô truy đuổi, anh ta tăng tốc định thoát khỏi nhóm  

Hàn Giang, nhưng Ivan Pavlov bám riết không tha, vẫn đuổi sát. Khoảng cách của hai chiếc ca nô càng lúc càng gần, trông như sắp đâm vào nhau đến nơi. Ivan Pavlov đột nhiên quay đầu lại, hét về phía Hàn Giang và Đường Phong: “Hai người cẩn thận, tôi sẽ đâm vào hắn ta.”

“Cái gì? Đâm ư?” - Đường Phong và Hàn Giang nghe thấy và giật thót tim.

Hai người họ chưa kịp phản ứng ra thì đã cảm giác chiếc ca nô lắc mạnh một cái. Hóa ra chiếc ca nô mà Ivan Pavlov lái đã đâm vào chiếc ca nô của Tymoshenko, cơn sóng cuộn lên khiến hai chiếc ca nô chạm vào nhau. Đường Phong và Hàn Giang đã trông thấy Tymoshenko, sự tự tin ban nãy của Tymoshenko giờ đã tiêu tan, gã có chút sợ hãi trước hành động quyết liệt của Ivan Pavlov. Còn Ivan Pavlov ngược lại không chút e sợ, anh nhìn Tymoshenko một cái, rồi lại quay ca nô lại lao thẳng vào ca nô của gã. Ngay sau cú đâm trực diện đó là tiếng ken két chói tai khi hai chiếc ca nô cọ vào nhau.

Hành động điên rồ của Ivan Pavlov đã thực sự kích động sự tức giận của Tymoshenko. Sự hoảng sợ của Tymoshenko lúc nãy dường như đã bị sự tức giận trấn áp, sắc mặt dữ tợn, gã hằn học nhìn Ivan Pavlov ở ca nô bên cạnh, rồi nhìn cả Đường Phong lẫn Hàn Giang. Đột nhiên gã gào to về phía đó: “Chúng mày đã muốn chơi thì tao sẽ chơi đến cùng vói chúng mày!”

Nói xong, Tymoshenko cũng quay ca nô, đâm vào ca nô của Ivan Pavlov. Cú đâm này khiến Đường Phong và Hàn Giang thấy ruột gan mình như bị xốc ngược lộn tung cả lên. Ivan Pavlov cũng không ngờ Tymoshenko còn điên cuồng hơn mình, anh đứng không vững, xém chút nữa là ngã xuống biển. Tymoshenko cũng nhân cơ hội đó tăng tốc, tháo chạy ra biển xa hun hút.

Ivan Pavlov thấy vậy, quay lại nói với Hàn Giang:

“Cậu lên lái đi, để tôi đối phó với tên cứng đầu này!”

Hàn Giang không hiểu ý, nghiêng nghiêng ngả ngả tới đổi lái cho Ivan Pavlov. Chiếc ca nô cao tốc tiếp tục truy đuổi Tymoshenko, khi thấy hai chiếc ca nô sắp kề sát nhau, Ivan Pavlov lớn tiếng gào lên với Hàn Giang:

“Áp sát vào! Áp sát vào!”

Hàn Giang bắt đầu hiểu ý đồ của Ivan Pavlov, anh ấy định nhảy lên ca nô của Tymoshenko, đây quả là một hành động vô cùng nguy hiểm. Với tốc độ cao như vậy, biển lại động, muốn nhảy lên ca nô của Tymoshenko, chẳng khác gì… Hàn Giang không muốn nghĩ tiếp nữa, nhưng hiện giờ, ngoài cách này ra thì còn có thể làm gì được đây?

5

Hàn Giang liếc nhìn Tymoshenko bên cạnh, hai chiếc ca nô đang từ từ ép sát nhau. Hàn Giang cố gắng hết sức lái chiếc ca nô cho vững, nhưng mặt biển sóng vẫn cuồn cuộn, chiếc ca nô nhỏ bé nên không thể giữ được thăng bằng. Pằng! Hai chiếc ca nô lại áp sát vào nhau nhưng ngay lập tức đã bị một con sóng tách ra.

Ivan Pavlov gào lên với Hàn Giang: “Anh không giữ thăng bằng được một lúc sao?”

Hàn Giang cố gắng hết sức giữ bình tĩnh, chiếc ca nô anh lái lại cọ vào ca nô của Týmoshenko lần nữa. Rõ ràng là Tymoshenko đã bị cú va chạm này làm cho nghiêng ngả và ngã bệt xuống ghế dưới. Ivan Pavlov cho rằng đây là cơ hội tuyệt vời, nên lao sang ca nô của Tymoshenko, nhưng đúng lúc này, một cơn sóng to trào tới khiển hai ca nô lại tách nhau ra.

Cú nhảy này của Ivan Pavlov không sang được ca nô của Tymoshenko, mà cả người anh lao xuống biển, chỉ có đôi tay là tóm được mép ca nô. Hàn Giang và Đường Phong thấy vậy hiểu rằng đại sự không ổn. Chỉ thấy Tymoshenko đứng dậy khỏi ghế sau, tiếp tục điều khiển ca nô, lắc trái lắc phải để quăng Ivan Pavlov xuống biển, nhưng Ivan Pavlov vẫn sống chết bám chặt lấy mạn thuyền, bất luận Tymoshenko lắc ca nô thế nào đi chăng nữa anh cũng không chịu buông tay.

Tymoshenko bực dọc tức tối, đột nhiên dừng chiếc ca nô đang lao như bay lại, rút súng ra, bắn một phát về phía Ivan Pavlov. Ivan Pavlov thấy tình thế không ổn đành buông tay ra, lao xuống biển. Tymoshenko vừa la lên hét điên cuồng, vừa giương súng bắn liên tiếp về phía biển. May mà Ivan Pavlov ở dưới nước rất cừ, anh lặn xuống biển, tránh được làn mưa đạn của Tymoshenko. Rút cuộc, Ivan Pavlov đã ngoi lên mặt nước cách đuôi ca nô của Tymoshenko vài mét. Hàn Giang vừa trông thấy Tymoshenko nổi lên, liền vội vàng lái ca nô lới định cứu Ivan Pavlov lên khỏi mặt nước. Đúng lúc này, Tymoshenko cũng nhìn thấy Ivan Pavlov, gã nghiến răng kèn kẹt, không thừa cơ tháo chạy mà lùi ca nô lại, cũng hướng về phía anh.

Đường Phong thấy Tymoshenko đang lùi ca nô về phía Ivan Pavlov liền hốt hoảng, hét lên với Hàn Giang:

“Toi rồi, Tymoshenko định dùng chân vịt phía sau ca nô để tấn công Ivan Pavlov”

Không cần tới Đường Phong nhắc nhở, Hàn Giang đã sớm nhận ra ý đồ hiểm ác của Tymoshenko, nhưng Đường Phong vừa dứt lời, vẫn chưa đợi Hàn Giang kịp lao tới, ca nô của Tymoshenko đã lao về phía Ivan Pavlov trước. Ivan Pavlov vội vàng lặn xuống nước, nhưng tất cả đã quá muộn, chiếc chân vịt quay tít giống như một máy xay thịt đáng sợ lao thẳng vào anh, trong nháy mắt, nước biển bị máu nhuộm đỏ cả một vùng.

Tới khi Hàn Giang và Đường Phong lao tới thì Ivan Pavlov đã máu me đầm đìa, thi thể tan nát nổi lên mặt nước. Đường Phong và Hàn Giang sững sờ nhìn cảnh tượng hãi hùng trước mắt, vừa mới ban nãy thôi anh ấy vẫn còn sống sờ sờ, giờ đã biến thành một đống thịt nát.

Trong lúc hai người họ vẫn chưa tỉnh ra thì Tymoshenko đã định khởi động lại ca nô bỏ chạy, nhưng gã đã nổ máy mấy lần mà động cơ ca nô chỉ phát ra tiếng kêu lớn rồi sau đó bốc khói đen nghi ngút, không khởi động lại được. Tymoshenko hoảng hốt nhìn phía sau ca nô, gã hiểu rằng một cánh tay đứt lìa của Ivan Pavlov đã vướng vào chân vịt. Gã lại thử lần cuối cùng, rút cuộc phải từ bỏ ý định khởi động máy. Bây giờ gã chỉ còn lại hai đường thoát thân, một là cướp được ca nô của Hàn Giang và Đường Phong, hai là lao xuống biển, bơi vào bờ, nhưng đối với hắn mà nói, cả hai cách này đều khó mà thực hiện được.

Một cơn gió lạnh buốt vuốt qua mặt Đường Phong và Hàn Giang, hai người đã tỉnh ra, Tymoshenko định chuồn! Cả hai cùng móc súng nhắm thẳng vào Tymoshenko. Tymoshenko cũng móc súng ra, cứ như vậy, ba người cùng chằm chằm đấu mắt trên sóng biển nhấp nhô, Tymoshenko bắt đầu hiểu ra, lúc này, lựa chọn thứ nhất đã không thể thành hiện thực.

Hàn Giang trợn đôi mắt vằn những tia máu đỏ, muốn bắn ngay một phát để kết liễu cái mạng quèn của Tymoshenko, nhưng Đường Phong lại khẽ nhắc nhở: “Chắc chắn Tymoshenko biết rất nhiều nội tình, chúng ta phải bắt sống hắn!”

Đường Phong nói xong liền hét về phíaTymoshenko: “Anh không thoát được nữa đâu, hạ vũ khí xuống đầu hàng đi!”

“Để tôi nghĩ đã!” - Tymoshenko vừa nói xong,

Mặt biển lại trào sóng lớn, khiến gã xém chút nữa là ngã xuống. Sau một cái loạng choạng, gã vịn vào chiếc hộp bên cạnh, chiếc hộp đựng đầu tượng phật Lư Xá.

Tymoshenko đang ngẫm nghĩ, nhưng không phải nghĩ tới chuyện đầu hàng mà là nghĩ làm thế nào để thoát thân. Sau ba phút tĩnh lặng, mặt biển lại cuộn sóng lớn, Tymoshenko đã hạ quyết tâm, gã gào về phía hai người: “Đường Phong, bọn mày không phải muốn có được tượng phật và kệ tranh ngọc đó sao? Kệ tranh ngọc đã ở trong tay bọn mày rồi, bây giờ tao sẽ đưa nốt pho tượng phật ày, mày hãy thả tao ra!” - Nói xong, Tymoshenko nhấc chiếc hộp đứng lên.

“Không thể! Anh đừng có cố chấp hoang tưởng như vậy, anh chỉ có một con đường duy nhất để lựa chọn, đó là đầu hàng!”

Tymoshenko cười nhạt vài tiếng, sau đó quay đầu nhìn mặt biển đen lạnh giá phía sau: “Khà khà, đầu hàng? Ngoài cách đó ra tao vẫn còn một cách, đó là ôm lấy xương sọ của hoàng hậu Một Tạng chìm xuống đại dương.” - Nói xong, Tymoshenko ngửa người về phía sau, ôm chiếc hộp lao xuống biển.

Pằng! Pằng! Mặt biển vang lên hai tiếng súng nặng nề, Đường Phong và Hàn Giang không thể ngờ Tymoshenko lại hành động điên cuồng như vậy. Đợi tới khi Hàn Giang lên nòng súng thì mọi thứ đã quá muộn, Tymoshenko và chiếc hộp đã chìm trong nước biển.

Đường Phong và Hàn Giang thất vọng nhìn nhau, nhìn máu đỏ loang trên mặt biển tối đen, hai người bất lực không biết nên xử trí thế nào.

6

Phía xa xa trên mặt biển lại vang lên tiếng động cơ rền rĩ, một chiếc ca nô tuần tra đang tiến lại gần, chẳng mấy chốc đã tiếp cận Đường Phong và Hàn Giang, hai người ngước nhìn, là Yelena.

“Xảy ra gì vậy? Ivan Pavlov và Tymoshenko đâu?” - Yelena hét lên với Hàn Giang và Đường Phong.

Hàn Giang không biết phải trả lời thế nào, anh nhìn nhìn Đường Phong, Đường Phong đành phải mở miệng trả lời Yelena: “Ivan Pavlov chết rồi, Tymoshenko cũng ôm chiếc hộp đó nhảy xuống biển.”

Yelena nhìn nước biển nhuộm máu đã hiểu rằng có chuyện xảy ra, nhưng khi nghe thấy Ivan Pavlov đã chết thì Yelena không khỏi rớm lệ.

Yelena kìm nén không để hai hàng nước mắt chảy xuống, cô quay lại nói với Hàn Giang: “Hàn, em đến muộn rồi, nhưng em mang đến cho anh một người.”

Yelena vừa dứt lời thì một người mặc đồ lặn biển chui ra khỏi khoang ca nô tuần tra. Hàn Giang nhận ra ngay người này chính là Triệu Vĩnh, anh vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, nhảy lên ca nô tuần tra, vỗ mạnh vào vai Triệu Vĩnh một cái: “Cậu đến Saint Petersburg lúc nào vậy?”

Triệu Vĩnh oán thán: “Mấy hôm nay các anh không liên lạc gì với ở nhà cả, lo rằng các anh xảy ra chuyện gì rồi nên thủ trưởng đã phái tôi tới đây cứu anh.”

“Chúng tôi thập tử nhất sinh ở Saint Petersburg đấy! Nhưng cậu đến là tốt rồi, nhiệm vụ của cậu bây giờ không phải là cứu chúng tôi mà là phải đi mò cái hộp đó lên.” “Anh nhìn tôi trang bị toàn thân đây, mặc xong từ lâu rồi, Yelena sợ các anh sẽ rơi xuống biển.” 

Đường Phong gặp Triệu Vĩnh cũng rất vui, nhưng anh không tin Triệu Vĩnh sẽ mò được chiếc hộp đó nên chán nản hỏi Triệu Vĩnh: “Hiện giờ sóng to thế này, nước biển lại lạnh thấu xương tủy, anh có thể mò được cái hộp đó không?”

Triệu Vĩnh tự tin nói: “Ban nãy tôi đã kiểm tra hồ sơ thủy văn ở đây, biển ở đây không sâu lắm, chắc không vấn đề gì, đừng quên tôi vốn làm nghề gì nhé!”

Lúc này Đường Phong mới nhớ ra, Triệu Vĩnh trước đây vốn là người nhái của đội hải quân lục chiến, giờ thì anh mới có chút yên tâm. Lúc Triệu Vĩnh đeo mặt nạ oxy lên, Đường Phong đột nhiên nhớ ra điều gì đó, vội dặn dò: “Anh phải cẩn thận, ngộ nhỡ gã Tymoshenko đấy vẫn chưa chết thì nhiệm vụ của anh bắt buộc phải tóm sống hắn ta đấy.”

“Chưa chết? Không thể thế chứ!” - Triệu Vĩnh lắc lắc đầu, “Hắn ta không có trang phục lặn, bao nhiêu lâu như vậy chắc cũng toi rồi!”

“Tôi nói là ngộ nhỡ!” - Đường Phong đính chính.

“Ngộ nhỡ. - Triệu Vĩnh gật gật đầu. “Tôi có cái này” - nói xong Triệu Vĩnh nắm lấy một con dao găm, đeo mặt nạ dưỡng khí lên, nhảy xuống biển lạnh cóng.

Chiếc đèn chiếu sáng trên ca nô tuần tra soi xuống mặt biển chỗ Triệu Vĩnh nhảy xuống, mọi người đều nóng lòng chờ đợi Triệu Vĩnh và cái hộp đó sẽ nổi lên mặt nước, nhưng thời gian từng giây từng phút trôi qua, Triệu Vĩnh vẫn chưa nổi lên.

Cuối cùng Triệu Vĩnh cũng ngoi lên khỏi mặt nước, Đường Phong và Hàn Giang cũng vội vàng kéo anh lên ca nô tuần tra. Chỉ thấy môi Triệu Vĩnh tím tái, toàn thân run rẩy. Hàn Giang vội vàng khoác áo ấm cho Triệu Vĩnh, chờ đợi mãi Triệu Vĩnh mới hồi phục lại, Đường Phong quan tâm hỏi: “Sao rồi? Phát hiện thấy gì?”

Triệu Vĩnh lắc đầu, nói: “Dưới nước lạnh quá, khả năng để nhìn cũng rất kém…”

Mọi người nghe thấy vậy, không ai là không thất vọng. Nhưng sau khi phục hồi thể lực, Triệu Vĩnh lại đòi xuống nước lần nữa. Hàn Giang chần chừ do dự nhưng vẫn đồng ý với yêu cầu của Triệu Vĩnh. Vậy là, Triệu Vĩnh lại lần nữa nhảy xuống mặt biển tối đen và lạnh giá.

Lần này, thời gian Triệu Vĩnh ở dưới nước còn lâu hơn, khiến tim mọi người đều treo ngược hết cả lên. Đường Phong nhìn mặt biển tối đen, chỉ thấy hoa mắt chóng mặt. “Ngộ nhỡ Tymoshenko chưa chết, ngộ nhỡ dưới nước có người của Stephen, thì Triệu Vĩnh...” - Đúng lúc Đường Phong đang suy nghĩ vẩn vơ thì mặt nước xao động. Trên mặt biển, chỗ được đèn chiếu rọi, một vật bỗng nhiên nổi lên mặt nước. “Cái gì vậy?” - Đường Phong nhoài người ra lan can ca nô tuần tra để nhìn, đó là... đó là một người! Không, là một cái xác! Đường Phong đột nhiên trợn trừng mắt, anh nhận ra rồi, trên người cái xác đó chính là quần áo của Tymoshenko, nhưng anh không nhìn rõ mặt người đó.

“Em yên tâm, chỉ cần có anh ở cạnh, cha em nhất định không xảy ra chuyện gì cả!” - Hàn Giang cam đoan.

“Còn nữa, kệ tranh ngọc và cuốn sổ ghi chép của Misha các anh hãy mang theo, còn pho tượng phật vỡ nát và cả xương sọ của hoàng hậu Một Tạng các anh không thể đem đi như vậy, vì không thể qua được an ninh sân bay. Đợi tới khi mọi người về nước, em sẽ gửi cho, bao gồm cả bộ hài cốt đó nữa. Em có đường bưu điện chuyên dụng, không thể có người kiểm tra bưu kiện của em, chỉ cần các anh bên đó không xảy ra chuyện gì thì chắc chắn sẽ nhận được. Nhưng anh phải cho em một địa chỉ đáng tin cậy!” - Yelena nói với Hàn Giang.

Hàn Giang không ngờ Yelena lại nghĩ chu đáo đến vậy, thay anh cân nhắc mọi thứ. Anh ngẫm nghĩ một lúc, cuối cùng ghi lại địa chỉ mà anh cho rằng đáng tin cậy lên một tấm danh thiếp cho Yelena, sau đó Hàn Giang để Từ Nhân Vũ dịch địa chỉ đó ra tiếng Nga rồi mới đưa cho cô. Yelena nhìn thật kĩ, Hàn Giang để lại một địa chỉ tại Bắc Kinh, người nhận là “Giáo sư Trần Tử Kiến?” - Yelena khẽ đọc cái tên này lên.

Hàn Giang giải thích: “Giáo sư Trần Tử Kiến là nhà nhân loại học nổi tiếng của nước anh, trước đây anh có quen biết ông, ông rất đáng tin cậy, em gửi đồ cho ông là được, trước khi gửi đừng quên thông báo với anh một tiếng.”

Yelena cất danh thiếp đi, nói: “Được rồi, anh yên tâm, chắc là không có vấn đề gì đâu. Những việc tiếp theo sẽ do em sắp xếp, mọi người cứ đợi ở đây, nhất định đừng bước ra khỏi cánh cửa này, đợi tôi quay lại.”

- Yelena nói xong liền vội vàng rời khỏi phòng khách.

11

Khi trời chiều chạng vạng, Yelena lại trở về phòng khách trona khách sạn Astoria, cầm theo sáu chiếc vé máy bay, hai vé tối nay từ Saint Petersburg bay về Hồng Kông đưa cho Triệu Vĩnh và Lương Viện, bốn vé chiều mai bay về Bắc Kinh.

Hàn Giang dặn dò Triệu Vĩnh hồi lâu, rồi quay lại nhìn thấy Lương Viện vẫn đang anh anh em em với Đường Phong, như kiểu tâm sự không hết chuyện. Hàn Giang ho khan vài tiếng: “Khẩn trương đi thôi, thời gian không còn sớm nữa. Sau khi về Hồng Kông giúp tôi gửi lời hỏi thăm cha cô, ngoài ra Triệu Vĩnh có vài chuyện muốn thỉnh giáo ông.”

Lương Viện gật đầu, lúc này mới cùng Triệu Vĩnh lên đường. Yelena âm thầm hộ tống hai người lên máy bay, mãi cho tới khi trông thấy máy bay cất cánh mới thở phào nhẹ nhõm. Lúc rời khỏi sân bay, Yelena còn phát hiện ra người của Ilyushin, cô không khỏi lo lắng cho Hàn Giang và Đường Phong ngày mai lên đường.

Đường Phong và Hàn Giang trằn trọc cả đêm không ngủ, rồi lại bồn chồn cả buổi sáng, khi cùng Makarov, Từ Nhân Vũ lên một chiếc tắc xi, lao thẳng tới sân bay. Hàn Giang ngồi cạnh ghế lái, không ngừng quan sát gương chiếu hậu. Anh muốn phát hiện ra bóng dáng của Yelena trong dòng xe hối hả phía sau, anh biết chắc chắn Yelena đang ở gần đây, âm thầm bảo vệ họ, nhưng anh lại luôn cảm thấy phía sau hình như có một đôi mắt không thân thiện đang nhìn họ chằm chằm.

Đột nhiên, điện thoại của Hàn Giang vang lên, là Yelena gọi: “Đừng đến sân bay, đến ga tàu hỏa đi chuyến quốc tế!” - Yelena nói xong câu này liền ngắt máy. Hàn Giang không hiểu, nhưng anh nghĩ ngay tới Ilyushin và quyết định làm theo những gì Yelena dặn dò. Vậy là anh vội vàng quay lại nói với Từ Nhân Vũ: “Bảo tài xế không đến sân bay nữa, đến ga tàu hỏa.”

Từ Nhân Vũ cũng không hiểu đầu đuôi ra sao, chỉ làm theo đúng như thế. Vậy là chiếc tắc xi lượn một vòng, lại chuyển hướng tới ga tàu hỏa.

Bốn người hòa trong dòng người đông đúc ở nhà ga, đến trước thềm ga tàu. Hàn Giang không ngừng ngó nghiêng ngang dọc, vừa là để đề phòng Ilyushin xuất hiện, vừa để phòng ngừa bị Stephen tấn công và càng mong được nhìn thấy bóng dáng của Yelena.

Bốn người bị dòng người xô tới một góc khuất trên thềm ga, Makarov quan sát ở đây, người qua lại không đông, càng dễ quan sát, hơn nữa lại có một chiếc ghế dài, ông nhìn Hàn Giang gật gật đầu, vậy là bốn người liền ngồi xuống. Đường Phong, Hàn Giang, Từ Nhân Vũ và Makarov căng thẳng quan sát xung quanh, đột nhiên Hàn Giang liếc thấy cách thềm ga không xa có một quầy bán thuốc lá và nước giải khát, liền đi đến đó, chỉ vào bao thuốc Marlboro, chủ sạp ra hiệu một cái, sau đó nói giá bằng giọng tiếng Anh lơ lớ. Lúc Hàn Giang đang trả tiền thì bên cạnh xuất hiện một cô gái xinh đẹp ăn mặc sành điệu, trang điểm đậm, cũng đến mua thuốc. Hàn Giang quay lại nhìn cô gái, cô ta đeo một chiếc kính râm to che hơn nửa mặt, nhưng Hàn Giang vẫn nhận ngay ra đấy chính là Yelena. Anh đang định cất lời thì Yelena đã gỡ kính xuống, nháy mắt với anh. Hàn Giang hiểu ý, đợi Yelena bỏ đi, anh châm một điếu thuốc, nhìn xung quanh, không thấy ai khả nghi, lúc này mới đi theo cô đến một góc khuất trong nhà ga.

Hàn Giang vừa trông thấy Yelena liền hớn hở nói: “Anh chưa từng nhìn thấy em trang điểm như vậy đâu đấy, thật giống một minh tinh nào đó!”

“Còn giống người tình của một nhân vật cỡ bự nào đó hơn, anh nghĩ như vậy hả?” - Yelena không chút hòa khí lườm Hàn Giang.

“Không, anh không nghĩ như vậy, trong lòng anh em mãi mãi là hóa thân của cái đẹp…”

“Thôi đi, những câu đại loại kiểu này Ilyushin và Ivan Pavlov cũng từng nói với em.”

“Được thôi, nói chuyện nghiêm túc nào, sao em lại bảo anh tới ga tàu hỏa?”

“Bởi vì Ilyushin đang đưa người tới sân bay chứ sao! ”

“Ồ, xem ra bọn anh không dễ đi nhỉ!”

“Đây là bốn vé tàu về Bắc Kinh, mọi người yên tâm, chỉ cần bọn anh rời khỏi Saint Petersburg thì Ilyushin không làm gì bọn anh được đâu, hắn không dám báo cáo với tổng bộ kiểm tra các anh giữa đường!” - Nói xong,

Yelena đưa bốn tấm vé cho Hàn Giang.

“Vậy thì tốt! Chúng ta luôn giữ liên lạc với nhau nhé, vé tàu và vé máy bay anh sẽ thanh toán cho em, khà khà!” - Hàn Giang cười, nói.

“Ai cần anh trả tiền chứ, đừng có nhăn nhăn nhở nhở, anh phải nhớ rằng, em giúp mọi người chặn Ilyushin, nhưng sau đó tất cả đều phải dựa vào chính bản thân các anh đấy!”

“Em lo lắng bọn Stephen?”

“Đúng vậy, mấy hôm nay bọn em lục soát khắp thành phố nhưng không tóm được chúng. Sau khi lộ diện trong cung điện Mùa Đông, bọn chúng đã biến mất, giống như bốc hơi vậy, nhưng em nghĩ bọn chúng không cam chịu dừng tay vậy đâu!”

“Anh hiểu rồi, việc anh nhờ, em nhớ đừng quên đấy!” “Đương nhiên không thể quên, nếu không có việc gì thì em đi đây, em không thể ở đây lâu được!”

Yelena nói xong liền bỏ đi, nhưng cô vừa bước được mấy bước thì Hàn Giang đã gọi lại. Yelena quay đầu, nhìn Hàn Giang hỏi: “Còn việc gì không?”

Hàn Giang bước vội đến, đứng trước Yelena, ôm lấy eo cô, nói rất tình cảm: “Không có việc gì cả, anh chỉ có… có một việc muốn nói với em, bữa tối mà em chuẩn bị trong đêm tất niên là bữa tối mà anh cảm thấy ý nghĩa nhất tại Saint Petersburg. Anh hy vọng vẫn còn cơ hội được thưởng thức những món ăn của em!”

“Nhất định còn cơ hội!” - Yelena nhìn Hàn Giang, khẽ nói. Nói xong, hai người ôm chặt lấy nhau hôn thắm thiết.
 

hoahongden12

Active Member

Nhiệm vụ của anh là hướng tới Mông cổ, điều trarõ lai lịch của những người này. Nếu trong số những người này quả thực có nhân viên tình bảo Trung Quốc thì anh phải tìm hiểu rõ ý đồ của họ, báo cáo với tôi ngay lập tức; ngoài ra, nếu có khả năng, chúng ta cũng có thể phát triển người của mình trong nhóm bọn họ, sau đó lại phải về Trung Quốc...

1

Hàn Giang quay lại chỗ mọi người, họ trông thấy vết son trên môi Hàn Giang thì đều hiểu ngay chuyện gì xảy ra. Hàn Giang vội vàng lau vết son, sau đó phát vé tàu ọi người. Đường Phong nhìn vé tàu, bốn giờ 15 phút chiều, hiện giờ vẫn còn sớm. Vậy là bốn người đành phải ngồi ở ghế, chờ đợi chuyến tàu vào bến.

Đường Phong cảm thấy thời gian trôi qua quá chậm chạp, chốc chốc anh lại nhìn đồng hồ, rồi lại sờ sờ kệ tranh ngọc và cuốn sổ ghi chép của Misha đi trong ba lô.

Nơi họ đang ngồi không có mấy người đi qua, chỉ thỉnh thoảng có vài ba hành khách ra khỏi ga bằng cửa phụ mới qua đây.  

Đúng lúc bốn người đang nhàm chán uể oải thỉ từ đầu bên kia ga tàu bỗng có một ông người Nga to béo tiến về phía họ. Đường Phong và Hàn Giang đều để ý nhìn, trông ông ta cũng xấp xỉ tuổi Makarov nhưng mặt mày hồng hào, tươi tắn, nhìn cách ăn mặc là biết ngay người thành đạt.

Ông người Nga kéo theo một chiếc va li, chậm rãi tiến về phía nhóm Đường Phong. Hình như ông ta cũng đã để ý tới Đường Phong và mọi người, nên ánh mắt lần lượt lướt qua bốn người trên ghế. Khi ánh mắt ông ta chạm phải ánh mắt Hàn Giang, anh liền giật thót tim, “Ánh mắt này chắc chắn không phải người thường!” - Hàn Giang âm thầm suy luận, và lập tức cảnh giác. Cuối cùng người đó dừng ánh mắt trước Makarov, rồi bước chân ông ta chậm dần, chậm dần, cuối cùng dừng lại hẳn trước mặt Makarov. Makarov cũng chăm chú nhìn ông già trước mặt mình, rồi đột nhiên, ông già người Nga trước mặt ngạc nhiên reo lên: “Ivan, anh là Ivan phải không? Còn nhớ tôi chứ?”

“Ông là...”

“Tôi là Pavel đây!”

“Ồ, Pavel... Mông Cổ!”

“Đúng rồi, chúng ta từng làm việc với nhau tại Mông Cổ, bao năm không gặp rồi, anh không thay đổi nhiều lắm, tôi vừa nhìn thấy là nhận ra anh ngay!”

“Ngược lại anh thay đổi nhiều quá đấy, trông anh ăn diện này, phát tài ở đâu rồi hả!” 

“Khà khà!” - người này bật cười, “Phải rồi, chúng ta cả đời làm việc cho KGB, kết quả hai bàn tay trắng.

Sau khi KGB giải thể, tôi đã tự làm ăn, trước tiên là bán chút tình báo thương nghiệp, sau đó mở một công ty tư vấn, vừa mới từ Matxcơva về.”

“Xem ra anh vẫn hành nghề cũ hả!”

“Không thể để mất nghiệp vụ mà! Mà anh đi đâu đấy? Mấy cậu này là ai?”

“Ồ, tôi chuẩn bị đưa mấy người bạn Trung Quốc đến Matxcơva du lịch một chuyến!” - Makarov nói dối.

Pavel lại nhìn Đường Phong, Hàn Giang và Từ Nhân Vũ, sau đó đột nhiên thay đổi sắc mặt, khuôn mặt tươi cười ban nãy bỗng chốc đanh lại. Pavel kéo Marokov nép vào một góc khuất, ở đó thì thầm to nhỏ với ông. Hàn Giang nghi ngờ nhìn Makarov và Pavel, rồi quay lại hỏi Đường Phong và Từ Nhân Vũ: “Hai người họ lúc nãy rì rầm gì vậy? Người đó là ai?”

“Hình như trước đây cũng xuất thân từ KGB, tôi nghe không rõ lắm, để tiến sỹ Từ nói đi!” - Đường Phong tra lời.

Từ Nhân Vũ liếc nhìn Makarov và người đàn ông cách đó không xa, nói: “Nếu tôi nghe không nhầm thì người ban nãy là đồng nghiệp trước đây của Makarov, đã nhiều năm họ chưa gặp nhau, hỏi thăm nhau vài câu. Nhưng sau đó ông ấy nói với Makarov là ‘Anh có còn nhớ mấy người Trung Quốc ở khu căn cứ năm nào không, sau đó sắc mặt của Makarov cũng biến đổi, tôi cũng không biết họ đang nói về cái gì.”  

Đường Phong và Hàn Giang nghe Từ Nhân Vũ nói xong, quay đầu lại nhìn Makarov và người đàn ông kia, họ vẫn chưa nói chuyện xong. Chỉ thấy người đó càng nói càng hăng, sắc mặt Makarov càng lúc càng căng thẳng, mãi cho tới khi người đàn ông đó bỏ đi, Makarov mới mặt mày lầm lì quay lại cạnh Đường Phong. Anh thấy Makarov mặt mày cau có, sắc mặt thật khó coi liền quan tâm hỏi ông: “Lão Mã, bác sao thế, sắc mặt bác sao..

Makarov xua xua tay với Đường Phong, ngồi xuống, thẫn thờ nhìn về đường ray phía xa xăm, mãi một lúc sau, mới chậm rãi nói: “Người ban nãy là đồng nghiệp của tôi trước đây ở KGB, ông ấy nhắc đến một chuyện cũ, một chuyện cũ đáng sợ! Sao tôi lại gặp ông ta ở đây nhỉ, đúng là số phận!”

“Chuyện cũ đáng sợ? Rút cuộc là chuyện gì vậy?” Makarov nhìn Đường Phong, hình như đang suy nghĩ xem có nên kể chuyện này ra hay không, cuối cùng ông thở dài một tiếng, đáp: “Vậy thì phải bắt đầu kể lại từ lần đầu tiên tôi đến số 11 quảng trường Lubyanka.” “Số 11 quảng trường Lubyanka, tổng bộ KGB!” - Đường Phong lập tức cảm thấy hứng thú.

“Đúng vậy..- Makarov nặng nề tựa vào ghế, ông hồi tưởng lại những năm tháng xưa cũ của mấy chục năm trước trong KGB.

2

Shelepin thất thế trên mặt trận chính trị khiến Makarov ngày đêm bất an, nhưng anh không thể ngờ rằng trong lúc anh đang quẩn quanh không biết làm cách nào thì một tờ thông lệnh từ Matxcơva đã đưa anh tới số 11 quảng trường Lubyanka.

Giống như lần đầu tiên tới quảng trường Lubyanka, lần này, Makarov cảm thấy khủng hoảng như chưa bao giờ từng khủng hoảng bởi bất an và áp lực. Anh được đưa vào phòng làm việc của chủ tịch mới nhậm chức Yuri Vladimirovich Andropov. Đây là một phòng làm việc rộng rãi hào nhoáng, nằm trên tầng ba của tòa nhà tổng bộ KGB, có thể từ đây quan sát toàn bộ quảng trường phía dưới. Trên bàn làm việc rộng rãi có đặt một dãy điện thoại, có máy nối thẳng với Cục chính trị, có máy nối với Bộ quốc phòng, có máy nối với các bộ phận cấp dưới của KGB, dĩ nhiên, quan trọng nhất vẫn là máy kết nối trực tiếp với cung điện.

Khi Makarov lần đầu tiên nhìn thấy Andropov, anh vẫn không thể ngờ khuôn mặt đằng sau cặp kính to đùng đó lại có ngày có thể ngồi trên đỉnh cao, làm chủ tịch KGB. Lúc này trong mắt Makarov, Andropov mặc bộ lê đen từ đầu đến chân, đeo kính gọng to, trông giống một vị giáo sư đại học hoặc là một kỹ sư của công trường nào đó hơn là chủ tịch một cơ quan an ninh.

Andropov đang đọc một văn kiện được gửi tới, ông nhấc nhẹ gọng kính trên mũi, nhìn Makarov trước mặt một cái, bình tĩnh nói: “Đồng chí Makarov, mời ngồi!”.

Andropov không có đôi mắt sắc lẹm như Shelepin, hoặc ít nhất là cũng không thể hiện trước mặt Makarov. Giọng điệu ông ta hòa nhã, ánh mắt hiền từ, đây có lẽ là ấn tượng khác nhau về hai nhân vật lớn và danh tiếng trên đài chính trị để lại trong Makarov.

Trong lòng Makarov vẫn thấp thỏm không yên, trán anh lấm tấm mồ hôi, anh không hiểu rốt cuộc là có chuyện gì quan trọng mà chủ tịch KGB trong lúc bận rộn nhường vậy, vẫn đích thân triệu mình tới. Andropov đọc xong trang văn kiện cuối cùng liền ngẩng đầu nhìn Makarov, quan sát kĩ lưỡng một hồi, sau đó gọi thẳng cả họ cả tên của Makarov: “Đồng chí Ivan Petrovich, đồng chí có biết tại sao lại được gọi tới đây không?”

Makarov giật thót tim, xem ra nhân vật tầm cỡ trước mặt này đã biết rất rõ về mình, anh định thần lại, trả lời bằng giọng quân nhân: “Không biết!”

Andropov nhìn thấy sự lo lắng trong lòng Makarov, miệng hé cười: “Ivan Petrovich, không phải căng thẳng, thư giãn chút đi. Trước khi anh tới, tôi đã xem qua toàn bộ hồ sơ của anh, trong hồ sơ của anh có hai điểm thu hút sự chú ý của tôi. Thứ nhất, anh quả thực rất xuất sắc, năng lực trên các phương diện đều nổi trội, điều này rất tốt; thứ hai, trước khi anh gia nhập với chúng tôi, thì đã từng phục vụ trong tập đoàn 39 của khu quân đội Baikal, lại còn từng tới Mông cổ và Trung Quốc, điều này càng thu hút tôi. Tôi nghĩ rằng cũng chính hai điều này đã thu hút đồng chí Shelepin đảm nhiệm trước tôi.”

Khi Andropov nhắc tới cái tên Shelepin, Makarov bất giác toàn thân run rẩy, ban nãy anh còn ra sức suy đoán xem Andropov triệu anh tới đây làm gì, giờ thì đầu óc lại trống rỗng. Những biến đổi sắc thái rất nhỏ của Makarov không lọt qua được mắt Andropov. Ông ta thu lại nụ cười, mặt không chút cảm xúc nói: “Đừng trách tôi nói thẳng, Ivan Petrovich, gần đây tôi nhận được rất nhiều lời đàm tiếu và tố giác không có lợi cho anh...”, mới nghe tới đây, toàn thân Makarov đã cứng đơ, anh đã không còn nghe rõ những gì Andropov nói sau đó, bởi lúc này anh lại đang nghĩ tới những oan hồn chết trong đợt “đại gột rửa” tại Lubyanka những năm 30.

3

Đúng lúc Makarov nghĩ rằng vận đen đang giáng xuống đầu mình thì Andropov lại đột nhiên đứng dậy khỏi ghế sau bàn làm việc. Makarov giật bắn mình, cũng đứng ngay dậy. Andropov nói tiếp: “Tuy những đàm tiếu và tố cáo này rất bất lợi cho anh, nhưng tôi chưa từng tin như vậy, anh hoàn toàn có thể yên tâm. Tất cả những lời đàm tiếu và tố giác bất lợi cho anh đến chỗ tôi đây thì coi như đã đến điểm kết thúc”. Andropov ngừng lại một lúc, sau đó bước tới cạnh tấm bản đồ to treo trên tường, chăm chú nhìn tấm bản đồ hồi lâu rồi đột nhiên quay lại hỏi Makarov: “Anh có muốn đến phương Đông một chuyến nữa không?”

“Phương Đông?” - Makarov mụ mị hết cả đầu óc. “Đúng! Phương Đông, Baikal, Tuva, Mông cổ và cả Trung Quốc nữa!”

“Trung Quốc? Hiện giờ không phải quan hệ giữa chúng ta và Trung Quốc rất căng thẳng sao? Lẽ nào muốn tôi bí mật đột nhập vào Trung Quốc?” - Makarov trở nên căng thẳng.

“Không, tôi vẫn chưa có kế hoạch đó, ý của tôi chỉ là có thể sẽ như vậy thôi. Chắc là anh cũng biết được một chút nội tình của Trung Quốc, ở đấy hiện đang tiến hành một đợt... nói theo cách nói của người Trung Quốc thì gọi là ‘đại cách mạng văn hóa chưa từng có trong lịch sử’, họ phòng vệ rất nghiêm ngặt, anh căn bản không thể có cơ hội xâm nhập vào Trung Quốc được.”

Makarov đã bắt đầu bình tĩnh lại, Andropov chỉ lên biên giới Trung Quốc - Mông cổ trên bản đồ, nói: “Sự tình là thế này, mấy tháng trước, lính biên phòng Mông cổ liên tục báo cáo với nhân viên tình báo của chúng ta là ở đó mấy tháng nay liên tiếp có những người vượt biên bất hợp pháp từ biên giới Trung Quốc sang.”

“Những người vượt biên bất hợp pháp? Là dân du mục ở biên giới sao?” “Không, không chỉ là dân du mục mà còn có không ít những người được gọi là thanh niên trí thức.”

“Thanh niên trí thức? Tôi đã từng biết đến, nghe nói rằng đó đều là những sinh viên trẻ tuổi thành phố!” 

“Đúng vậy, họ không phải là người bản địa, bởi vậy... bởi vậy rất khả nghi.”

“Ngài sợ là trong số những người này có cả nhân viên tình báo Trung Quốc trà trộn trong đó?”

“Ừm, hoàn toàn có khả năng này, nhưng trực giác nói với tôi rằng, sự việc này không đơn giản như vậy.”

“Vậy nhiệm vụ của tôi là..”

“Nhiệm vụ của anh sẽ là tới vùng biên giới Mông Cổ, điều tra rõ tung tích của những người này. Nếu như trong số những người này quả thực có nhân viên tình báo Trung Quốc thì anh phải tìm hiểu rõ ý đồ của họ, rồi ngay lập tức báo cáo với tôi. Ngoài ra, nếu có điều kiện thuận lợi, chúng ta cũng có thể phát triển người của mình trong số những người này, sau đó lại phái họ quay về Trung Quốc. Ivan Petrovich thân mến, anh cũng biết rồi đấy, kể từ khi quan hệ giữa chúng ta và Trung Quốc rạn nứt đến nay, nhân viên tình báo của chúng ta rất khó xâm nhập vào Trung Quốc. Bởi vậy, anh nhất định phải nhớ rằng, sau khi tìm hiểu rõ tung tích của những người này, thì phải phát triển người của chúng ta trong số những người đó, điều này rất quan trọng.”

Makarov đại khái đã hiểu ra nhiệm vụ của mình, nhưng vừa mới kịp tĩnh tâm trở lại thì anh đã thấy ngay rằng, phái mình tới Mông cổ xa xôi, từ Leningrad đến Mông Cổ, nghìn dặm xa cách, đây rõ ràng là tách mình đến nơi xa tít mù khơi, mà nào có phải là nhiệm vụ gì quan trọng, chẳng qua chỉ là biến tướng của một cách đi đầy mà thôi. Anh hiểu rằng, mình đã thực sự bị thất sủng ở KGB rồi, nếu như nhiệm vụ lần này khiến cho lãnh đạo của anh không hài lòng, vậy thì chờ đợi anh sẽ là hậu quả còn nghiêm trọng hơn.

Nghĩ thấu đáo mọi thứ xong xuôi, Makarov lòng nặng trĩu đứng nghiêm rồi đáp lễ Andropov: “Xin lãnh đạo yên tâm, tôi hứa sẽ hoàn thành nhiệm vụ.”

Andropov hài lòng gật gù, sau đó nhấc điện thoại dặn dò thư kí ở đầu dây bên kia: “Gọi Kennedy Branch vào đây!” - “Kennedy Branch?” Makarov tò mò, “Kennedy Branch này là người thế nào.”

Chẳng mấy chốc, cửa phòng chủ tịch KGB đã mở ra, một người đàn ông cao gầy mặc quân phục thượng tá xuất hiện trước cửa.

4

Andropov chỉ vào thượng tá vừa mới xuất hiện, giới thiệu với Makarov: “Đây là đồng chí Kennedy Branch, cậu ấy sẽ là trợ thủ của anh, cùng anh phối hợp hành động.” “Sao cơ? Xin lỗi, đồng chí chủ tịch, tôi không nghe lầm chứ, quân hàm của tôi chỉ là thiếu tá!” – Để một thượng tá làm trợ thủ cho thiếu tá, sắp xếp như vậy khiến Makarov không hiểu ra làm sao. “Không, không sai, tuy quân hàm của đồng chí Kennedy Branch cao hơn anh, nhưng lần này anh ấy lấy công chuộc tội, bởi vậy do anh phụ trách nhiệm vụ lần này, đồng chí Kennedy Branch sẽ dốc hết sức giúp đỡ.” 

“Lấy công chuộc tội?” - Makarov lại lần nữa ngạc nhiên.

“Đúng vậy, lần này là tôi lấy công chuộc tội, đồng chí Makarov, rất vui lòng cùng anh thực thi nhiệm vụ lần này”, nói xong, Kennedy Branch thân thiện đưa tay về phía Makarov, tự mình giới thiệu: “Boolean Kennedy Branch.”

“Ivan Petrovich Makarov” - Makarov cũng đưa tay ra. Tuy Kennedy Branch nói rất khách sáo nhưng Makarov lại nhận thấy chút lạnh lẽo từ đôi bàn tay băng giá của anh ta.

Không để Makarov kịp nghĩ ngợi nhiều, Andropov lại nói: “Một vài hạng mục cụ thể, đồng chí Branch sẽ nói với anh, hy vọng rằng lần hành động này của chúng ta sẽ thành công.”

Makarov và Branch đứng nghiêm, đáp lễ, rồi sau đó hai người lui ra khỏi văn phòng của Andropov.

Xuyên qua những dãy hành lang rối rắm trong tòa nhà của tổng bộ KGB, Branch bước đi như bay, Makarov hấp tấp đi theo. Hai người đều không ai nói gì, trong lòng Makarov vẫn rối bời suy nghĩ, vị thượng tá Kennedy Branch này rốt cuộc là người thế nào? Lấy công chuộc tội ư, rốt cuộc anh ta đã làm gì sai?

Hai người cứ im lặng như vậy cho đến khi tới trước một chiếc Volga màu trắng dưới lầu, lúc này Branch mới mở lời trước: “Sao vậy? Có chuyện gì không? Nếu không có gì thì đi cùng tôi tới một nơi.”

“Nơi nào?” - Makarov hỏi lại.

“Núi Lênin”

“Núi Lênin?” - Makarov chần chừ một lúc. Branch giải thích: “Chính là Đại học Matxcơva.”

“Đến Đại học Matxcơva làm gì?” - Makarov mụ mị hết cả đầu óc.

“Không phải là cần đến Mông cổ sao? Tôi muốn mượn chút sách và tài liệu về nơi đó, ngoài ra, tôi vẫn còn vài vấn đề muốn thỉnh giáo giáo sư của Đại học Matxcơva.” - Lời giải thích của Branch khiến Makarov cảm thấy người này làm việc rất cẩn trọng, khác xa với những đặc công bình thường.

Hai người lên xe, Branch vừa lái xe vừa nhìn Makarov mặt mày lầm lì qua gương chiếu hậu: “Hình như cậu có vẻ không vui?”

“Đúng là có đôi chút. Nghĩ tới việc phải đến nơi xa xôi như thế..- Makarov ngập ngừng không nói.

“Khà khà, nhìn cậu là biết ngay chỉ suốt ngày ngồi trong phòng làm việc, làm một chuyến đi xa... sao vậy, không nỡ xa vợ con?”

“Tôi vẫn chưa có con.”

“Khà khà, vậy thì không nỡ xa vợ đẹp rồi. Trước đây cậu ở bộ phận nào vậy?”

“Bộ phận phản gián của Leningrad.”.

“Đúng như tôi nói, quả nhiên là ngồi văn phòng.

Nhưng như vậy thì kỳ lạ nhỉ, làm việc ở Leningrad tốt như thế, vậy tại sao tổng bộ lại phái cậu đi thực thi nhiệm vụ đó nhỉ?” 

“Bởi vì trước khi gia nhập KGB tôi đã từng phục vụ tại tập đoàn thứ 39 của quân khu Baikal, và còn từng tới Trung Quốc. Dĩ nhiên đây đều chỉ là những biểu hiện bên ngoài, còn nguyên nhân thực sự thì chỉ có thủ trưởng mới biết, có thể là do tôi đã đắc tội với ai đó.

“Ồ, cậu đã từng đến Trung Quốc cơ à?” - Branch ngắt lời Makarov hỏi.

“Đúng vậy, nhưng đó là việc trước đây rất lâu rồi, một đoạn kí ức đau khổ và khủng khiếp.” - Makarov chau mày.

“Kí ức đau khổ và khủng khiếp? Là như thế nào?” - Branch tò mò hỏi.

Branch vừa hỏi một cái, Makarov liền đột nhiên có phần manh động muốn trả lời, muốn kể lại cho người đồng nghiệp vừa mới quen này những bất ngờ mà anh đã gặp phải tại Trung Quốc. Nhưng bên tai anh ngay tức khắc đã vang lên lời cảnh cáo của Shelepin, nên anh nói: “Không, tôi không thể nói, bởi đó là cơ mật quốc gia.” “Ồ, nếu là cơ mật thì tôi sẽ không hỏi nữa.” Trong xe lại chìm trong im lặng.

5

Sau một hồi im lặng đến ngột ngạt, Makarov đã phá vỡ bầu không khí này: “Vậy anh ở bộ phận nào?”

Branch vừa nghe thấy Makarov hỏi mình liền đột nhiên cười nhạt, cười tới mức khiến Makarov cảm thấy mất tự nhiên. Cười xong, chỉ nghe thấy Branch nói: “Cậu hỏi tôi? Hừm hừm! Tôi từng ở rất nhiều nơi, lên lên xuống xuống. Đầu tiên là tôi phục vụ tại Tổng cục biên phòng trực thuộc quân chủng biên phòng, nói ra thì rất gần với nơi mà cậu phục vụ.”

“Baikal?”

“Đúng vậy! Siberia, Baikal hoang sơ lạnh lẽo, từ thời cổ xưa đã là những nơi lưu đày phạm nhân rồi, nhưng chỗ chúng tôi thì còn gần biên giới hơn.”

“Sau đó thì sao?”

“Sau đó, tôi lập được công và được cất nhắc đến Tổng cục biên phòng, rồi lại do một lần sai sót nên bị tổng bộ đá ra ngoài, và thế là tôi bị điều tới Cục thứ 13.”

“Cục 13, tôi vào mấy năm rồi mà chưa từng nghe thấy dưới KGB có Cục thứ 13.”

“Đúng vậy! Dĩ nhiên là cậu chưa từng nghe thấy, bởi vì Cục thứ 13 này đã bị xóa bỏ rồi.”

“Xóa bỏ rồi?”

“ừm, Cục đã bị xóa bỏ rồi, đồng nghĩa với việc tôi bị đá ra ngoài, sau đó tôi đã vào Sở 10.”

“Sở 10 phụ trách quản lý hồ sơ và văn kiện?”

“Không sai, đây chính là nơi quái quỷ được người, ta gọi là Sở hồ sơ, ngày ngày làm bạn với đống hồ sơ ngả vàng, tôi làm ở đó ba năm, vừa đúng ba năm đấy, ôi tuổi trẻ quý giá!” - Branch không ngừng than thở.

“Xem ra anh không hơn tôi vài tuổi vậy mà không ngờ kinh nghiệm lại phong phú nhường vậy!” 

“Không chỉ có thế thôi đâu, hai năm trước tôi lại được điều từ Sở 10 về Tổng cục 1”

Makarov nghe vậy ngạc nhiên: “Tổng cục 1, đó chính là nơi tìm kiếm thu thập tình báo đối ngoại, anh bị phái ra nước ngoài sao?”

“Hừm, thì bị cử ra nước ngoài, nhưng không giống như kinh đô gián điệp như Vienna, Paris, Luân Đôn mà cậu tưởng tượng đâu, mà là ở tận Mông cổ xa xôi hẻo lánh. Không có vũ hội hoành tráng, mỹ nữ như tiên, cũng không có đầu mối bí mật, xe bay truy đuổi như cậu tưởng tượng, càng không có tình báo gì có giá trị. Lập công lĩnh thưởng không bao giờ đến lượt tôi. Bầu bạn với tôi chỉ có sa mạc Gobi, thảo nguyên và gió cát và một vài tin tức tình báo vô vị, không có chút giá trị nào cả.” - Giọng Branch chứa đầy sự oán thán.

“Thảo nào lần này họ để hai chúng ta đi cùng nhau, tôi bắt đầu hiểu ra rồi, thứ nhất là chúng ta đã từng ở đó, thông thuộc tình hình ở đó, đây rõ ràng là lí do rất chính đáng; hai là chúng ta đều là những người bị xếp ra ngoài hàng ngũ, tôi nghĩ đây mới chính là lí do thật sự!” - Makarov bỗng nhiên có cảm giác đã gặp người tri kỷ.

“Khà khà, cậu nói quá chuẩn, đã bóc trần được bản chất của chuyện này rồi. Nhưng có một điều có lẽ cậu vẫn chưa nghĩ tới.”

“Điều gì?”

“Tôi vốn dĩ không tin rằng chuyến đi Mông cổ lần này sẽ thu hoạch được gì, càng khỏi nói tới việc phái người của chúng ta tới Trung Quốc.”

“Đúng vậy! Theo như tôi biết, biên giới Trung Quốc phòng thủ rất chặt chẽ.”

“Bởi vậy lần này chắc là chúng ta sẽ trở về tay không. Như vậy cũng được coi là tốt rồi đấy, nếu như chúng ta có gì sơ suất, thì… hừm, thì chẳng có gì để lấy công chuộc tội cả!”

“Ban nãy thủ trưởng nói anh lần này là lập công chuộc tội, vậy rốt cuộc anh làm sai gì vậy?” - Makarov nhớ lại những lời Andropov nói với mình trong phòng chủ tịch.

Branch nhìn nhìn Makarov, giải thích: “Việc này nói ra thì rất dài, dăm ba câu nói không hết được, nhưng cậu sống với tôi lâu rồi dần dần sẽ biết.”

Xem ra Branch không hề muốn nhắc đến việc này, Makarov không hỏi nhiều nữa. Chẳng mấy chốc chiếc Volga đã tới trước tòa nhà chính của Đại học Matxcơva trên núi Lênin.

6

Branch đến Học viện Á Phi Đại học Matxcơva nhưng không may là vị giáo sư mà anh muốn gặp đã ra nước ngoài công tác. Có chút thiểu não, Branch cùng Makarov đến thư viện Gorky. Tại đây, anh mượn vài cuốn sách liên quan tới Mông cổ và lịch sử Trung Quốc, trong đó có cả hai cuốn bằng tiếng Trung. Makarov tò mò hỏi: “Anh đọc được tiếng Trung Quốc?”

“Trước đây tôi có học qua một chút, lần này có lẽ dùng được, nhưng hiện giờ tôi quên gần hết rồi!”

“Thật khâm phục đấy, anh không những có kinh nghiệm phong phú, mà học thức cũng rất uyên thâm, quân hàm cũng cao hơn tôi, lần này không biết chúng ta ai chỉ huy ai đây?” - Makarov nửa đùa nửa thật nói.

“Dĩ nhiên là nghe cậu chỉ huy, tôi chỉ là lấy công chuộc tội thôi!” - Branch trả lời thẳng thắn.

Makarov đi dạo trong thư viện Gorky rộng thênh thang, anh tiện tay lật giở một cuốn sách tiếng Trung, đây là cuốn “Tư Trị Thông Giám”. Nhìn những chữ xa lạ hình vuông vuông, Makarov đột nhiên có cảm giác rất quen thuộc, anh lại nhớ đến người bạn Trung Quốc của mình, Lương Vân Kiệt, không biết hiện giờ anh ấy thế nào, sau cái đêm đáng sợ đó...

Makarov gập sách, nhắm mắt lại, cũng kể từ lúc đó, Makarov quyết tâm bắt đầu học tiếng Trung Quốc một cách bài bản. Khi mở mắt, đột nhiên anh nhớ ra, Branch đâu? Anh ấy chạy đi đâu rồi?

Makarov đi xuyên qua từng dãy từng dãy giá sách đồ sộ để tìm kiếm Branch. Đi đến hành lang bên ngoài, anh phát hiện Branch đang đứng trò chuyện với một người đàn ông lạ phía cuối hành lang. Người đàn ông đó trạc tuổi Makarov, mặc lê giày bốt, râu quai nón cắt tỉa cẩn thận, đeo kính, trông giống một học giả. Makarov ngẫm nghĩ: người đàn ông này cỏ lẽ là bạn của Branch.

Anh đi về phía Branch và người đàn ông đó. Branch thấy Makarov đi đến liền thân thiện vẫy vẫy tay, nhưng người đàn ông đó lại cúi đầu, đi lướt qua Makarov, mất hút trong hành lang. Makarov nghi ngờ hỏi Branch: “Ai vậy?” “Một lưu học sinh.”

“Người nước ngoài?”

“Đúng! Người Mỹ, cậu ấy tính cách hướng nội, rất nhạy cảm, không muốn giao lưu với nhiều người, bởi vậy, ban nãy..

“Vậy sao anh lại quen cậu ta?”

“Khà khà, nói ra thì việc này giờ cũng không cần coi là cơ mật gì nữa, có thể kể cho cậu. Năm đó tôi ở trong Cục 13 đen đủi, đã bị dỡ đó, và từng giám sát cậu lưu học sinh người Mỹ này, cấp trên nghi ngờ cậu ta là gián điệp được Mỹ cử tới để xâm nhập…”

“Đợi đã, nếu tôi không lầm thì công việc đó là do bộ phận phản gián của chúng tôi làm mà, sao lại…” - Makarov không hiểu nên cắt rời.

Branch cười nhạt vài tiếng, đáp: “Không sai, công việc này thông thường là do bộ phận phản gián làm, nhưng giám sát lưu học sinh người Mỹ này lại phù hợp với phạm trù công việc của Cục 13, lúc đó có còn bộ phận nào khác tham gia vào nữa hay không thì tôi không biết.”

“Vậy rốt cuộc Cục 13 đó là đơn vị thế nào?”

“Việc này tôi không nói được, bởi vì nó vẫn là cơ mật.”

“Còn thần bí thế cơ à? Xem ra chúng ta đều có những việc cần giữ bí mật với đối phương.”

“Không sai, kể từ ngày gia nhập vào KGB, chúng ta đều có vô số những cơ mật cần phải giữ kín, nếu chưa đến ngày giải mã chúng thì đều không được nói với bạn bè, người nhà. Nhưng thực ra bí mật mà chúng ta biết được, cũng chẳng qua chỉ là một góc nhỏ của núi băng mà thôi, chúng ta vĩnh viễn không thể biết được tất cả bí mật của KGB, không ai làm được điều đó.”

Nghe Branch nói vậy, Makarov gật đầu lia lịa:

“Vậy sau đó thế nào?”

“Sau đó chúng tôi điều tra mãi, chứng minh lưu học sinh này chẳng có vấn đề gì cả, vậy là xóa bỏ sự giám sát với cậu ta. Bởi vì trong quá trình điều tra, tôi đã cố tình tiếp cận cậu ta, bởi vậy chúng tôi cũng được coi là biết nhau. Dĩ nhiên, thân phận mà tôi công khai với cậu ta là một thầy giáo trung học.”

“Thầy giáo trung học? Khà khà, có lẽ đến giờ cậu ta vẫn chưa biết mình đã từng bị anh điều tra đâu nhỉ!”

“Đúng vậy, đây chính là công việc của chúng ta.

Cuộc sống của chúng ta, hư hư thực thực, nhiều lúc đến bản thân tôi cũng không rõ nữa!” - Trong lúc nói chuyện, hai người đã đi ra khỏi Đại học Matxcơva. Đứng trên núi Lênin nhìn xuống cả thành phố Matxcơva, suy nghĩ của họ đã bay tới phương Đông xa xôi, chỉ cỏ điều họ không biết chuyến đi này là họa hay là phúc.

Tiếng còi tàu đã cắt ngang hồi ức của Makarov, họ phải lên tàu rồi. Vậy là, bốn người vội vàng thu dọn hành lý, bước lên chuyến tàu quốc tế hướng tới phương Đông. Còn Ilyushin lúc này vẫn ngu ngốc dẫn theo người chờ đợi ở sân bay.
 

hoahongden12

Active Member

Khi Makarov và Branch lái xe tới nơi, máu tươi trên cổ người Trung Quốc đó vẫn đang tuôn ra lênh láng, chảy trên sa mạc Gobi hoang vắng. Toàn thân co rút, nhưng anh ta vẫn chưa chết, đôi mắt đỏ ngầu đang trợn lên nhìn Makarov và Branch, giống như bị chết oan uổng, cũng giống như đang cầu nguyện điều gì đó...

1

Trên chuyến tàu quốc tế hướng về phương Đông này, Đường Phong, Hàn Giang, Từ Nhân Vũ và Makarov bốn người vừa vặn đủ một khoang giường nằm. Sau khi đoàn tàu ra khỏi Saint Petersburg, Đường Phong đóng cửa phòng lại rồi tiếp tục hỏi Makarov về chuyến đi tới Mông Cổ của ông, ký ức của Makarov đã thực sự hấp dẫn Đường Phong. Makarov nhìn ra bên ngoài cửa sổ, thảo nguyên mênh mông bị băng tuyết bao phủ, kí ức của ông bất giác lại quay về chuyến đi cùng Branch tới Mông cổ năm nào.

Một chiếc máy bay vận chuyển AN-24 đã đưa Makarov và Branch tới sân bay quân dụng Irkutsk. Xuống máy bay, Branch phóng tầm mắt ra xa, lập tức cảm thán quá lời: “Ồ, Siberia rộng lớn! Ồ, Siberia hoang sơ! Ồ, tại sao mày không chịu buông tha cho tao! Tao nào có phải là những người tháng chạp đâu, mà tại sao cũng bị mày ôm lấy?”

Makarov không hứng thú với những lời cảm thán của Branch, anh đứng trên sân bay cũng nhìn ra xung quanh, không có người đến đón họ, không có quân đội, cũng chẳng có KGB. Makarov chau mày: “Không có người tới đón chúng ta sao?”

Branch vừa nghe thấy vậy liền cười nói: “Thôi đi, cậu lại còn hy vọng có người đến đón, mang theo cho cậu cả muối và bánh mì? Không phải hôm qua cậu đã nói rằng đây là bị đi đày trá hình sao? Này, cậu nhìn bên kia...”

Vừa nói, Branch vừa chỉ về phía bãi đỗ của sân bay phía cuối đường băng. Makarov nhìn theo hướng tay Branch chỉ, đó là một chiếc trực thăng Mi 8 già nua phủ đầy bụi. Lúc này, Branch lại nói: “Không phải cậu hỏi rằng ai đến đón chúng ta sao? Chính là nó đấy!” 

Makarov và Branch đeo hành lý, đi tới chiếc trực thăng Mi 8. Branch gõ cửa sổ ghế lái, hai phi công đang ngủ gật mắt nhắm mắt mở kéo cửa ra, liếc hai người một cái, hỏi: “Các anh là thượng tá Kenedy Branch và thiếu tá Makarov?”

Hai người gật đầu, Makarov lấy thẻ ra, chủ động đưa cho người phi công. Nhưng viên phi công đó lại nhìn Makarov cười, không buồn xem thẻ của anh, mà chỉ nói một câu: “Hai vị ngồi chắc nhé, chúng ta cất cánh ngay đây!”

Makarov vội vàng hỏi: “Bây giờ chúng ta bay tới đâu?” “Các anh không phải tới Mông cổ sao?” - Viên phi công hỏi lại.

“Đúng vậy! Đến Ulan Bator phải không?” - Makarov hỏi.

Viên phi công mỉm cười, đáp: “Không phải, chứng ta đến thẳng biên giới Mông cổ.”

“Á! Nhanh vậy sao?” - Makarov và Branch đều ngạc nhiên. Ngồi xuống ghế, Branch chửi rủa còn Makarov lại cảm thấy trong lòng nặng trĩu nên không nói nửa lời.

Cứ như vậy, chiếc trực thăng Mi 8 đầy bụi bặm, cũ kĩ khởi hành ừong tiếng chửi rủa của Branch.

Hoàng hôn buông xuống, chiếc trực thăng Mi 8 nặng nề hạ cánh xuống một vùng sa mạc hoang vu, cánh quạt cuốn tung bụi đất vàng khè mù mịt đất trời, Makarov và Branch đã ngủ gà ngủ gật mấy tiếng đồng hồ giờ bỗng bừng tỉnh.

“Đây là đâu?” - Hai người nhìn ra ngoài cửa sổ, cảnh vật bên ngoài khiến họ sững sờ. 

“Hai vị, chúng ta đến rồi!” - Cửa trực thăng đã mở ra, viên phi công cười, nói với hai người.

Makarov và Branch bị cảnh vật bên ngoài làm cho sững sờ tới nỗi không thốt nên lời, chỉ thẫn thờ nhìn viên phi công. Viên phi công nhún vai, cười khan vài tiếng, giải thích: “Đáng lẽ chúng tôi đưa thẳng các anh tới một căn cứ quân sự gần biên giới Trung - Mông, nhưng ở đó đang có bão cát. Các anh đã thấy bao giờ chưa? Bão cát đáng sợ!” - Nói xong, viên phi công lấy tay ra hiệu một cách khoa trương rồi giải thích tiếp: “Bởi vậy chúng ta phải hạ cánh ở đây, vị trí chúng ta đang ở là một góc sân bay gần thủ phủ Dalanzadgad, phía nam tỉnh Gobi nước Cộng hòa nhân dân Mông cổ. Chúng tôi đã thông báo với quân đội thường trú địa phương, chẳng mấy chốc họ sẽ cử xe đến đón các anh.”

Makarov và Branch hiểu rằng đã đến lúc họ phải xuống. Hai người xách hành lý, rời khỏi máy bay. Chưa kịp đợi họ đứng vững, động cơ trực thăng đã lại khởi động, cánh quạt lớn thổi bụi vàng mù mịt đất trời, những hạt cát bé xíu chui thẳng vào trong cổ áo, lỗ mũi, lỗ tai hai người.

Branch tức tối đang định chửi rủa hai viên phi công chết tiệt đó thì cát vàng đã lập tức chui tọt vào miệng, anh vội vàng lấy tay bịt miệng lại.

2

Chiếc trực thăng đã bay đi xa, sa mạc lại yên tĩnh trở lại, Makarov và Branch đứng như trời trồng giữa sa mạc hoang vu, lúc này đây không biết phải làm thế nào. Hai người ngồi lên hành lý, nhìn mặt trời lặn. Khi tia nắng cuối cùng vẫn còn sau đường chân trời, xe tới đón họ vẫn chưa thấy xuất hiện, Branch chửi rủa: “Bọn chó chết này!”

Makarov rầu rĩ nói: “Trên sa mạc này ban đêm nhiệt độ sẽ hạ xuống nhanh chóng, còn có cả sói nữa, nếu như đêm nay không có ai đón chúng ta, tôi thật sự không dám tưởng tượng…”

Makarov vẫn chưa nói xong nỗi lo sợ, thì có tiếng động cơ của chiếc Mazda ở phía xa xa rồi bụi bay lên mù mịt trong sa mạc hoang vu. Makarov và Branch đứng dậy, chiếc xe mà họ mòn mỏi chờ đợi rốt cuộc đã xuất hiện.

Một chiếc xe Jeep quân dụng đỗ trước mặt hai người, lái xe là một thượng úy, anh ta mở lời: “Thiếu tá Makarov, thượng tá Branch, xin thứ lỗi, chúng tôi đến muộn, mời các anh đi theo chúng tôi.”

Branch nhìn viên thượng úy đó, ra vẻ của một thủ trưởng, nghiêm giọng nói: “Căn cứ của các anh cách đây xa không?”

“Không xa lắm, ngồi xe khoảng một tiếng đồng hồ” - Viên thượng úy đáp.

Một tiếng đồng hồ, nhưng chỉ cần một tiếng đồng hồ này cũng đã khiến cặp mông của Makarov và Branch ê ẩm bầm dập. Cả đoạn đường toàn là sa mạc hoang vu, bốn bề tối đen, không thấy bất cứ cảnh vật nào khác, khi 

hai người họ trông thấy những đốm đèn sáng phía trước thì cả hai đều biết rằng, cuối cùng họ cũng đã đến nơi.

Đây là một căn cứ bí mật được KGB xây dựng bên phía Mông cổ của biên giới Trung - Mông. Nói là căn cứ bí mật nhưng thực ra chỉ là mấy gian nhà mái tôn, tất cả nhân viên đêu tập trung tại đây, tổng cộng cũng chỉ có 13 người. Bình thường thượng úy chính là người chỉ huy ở đây, Makarov và Branch được tổng bộ phái tới, quân hàm cũng cao hơn viên thượng úy, nên dĩ nhiên trở thành lãnh đạo ở đây.

Makarov hỏi thượng úy: “Bình thường nhiệm vụ chủ yếu của các anh là gì?”

Thượng úy đáp: “Chỗ chúng tôi đây chỉ cách biên giới mấy chục cây số, chứng tôi được cử đến đây để trợ giúp biên phòng Mông cổ kiểm tra giám định, điều tra những người Trung Quốc vượt biên trái phép. Những người vượt biên bị quân biên phòng bắt được đều bị đưa tới đây, sau khi kiểm tra chúng tôi sẽ đưa những người có giá trị tới Irkutsk. Anh cũng biết rồi đấy, hiện giờ quan hệ giữa hai nước rất căng thẳng, bởi vậy gần đây..

Makarov gật gù, không hỏi gì nữa. Cả ngày mệt lả, cộng thêm tâm lý nặng nề, anh chỉ muốn nhanh chóng đi ngủ. Thượng úy sắp xếp cho anh và Branch ở trong một căn buồng mái tôn, vì hai người đã quá mệt nên đổ ra giường là ngủ ngay.

Cả đêm không có chuyện gì xảy ra. Bình minh lên, khi Makarov và Branch vẫn đang ngáy khò khò thì đột nhiên bên ngoài căn buồng mái tôn vang lên tiếng huyên náo, hai người gần như cùng lúc cảnh giác ngồi dậy. Makarov nắm chặt súng, bước nhanh ra khỏi buồng thì trông thấy viên thượng úy đang vội vàng đi tới.

“Việc gì vậy?” - Makarov nghiêm giọng hỏi.

“Chúng tôi bắt được hai người Trung Quốc vượt biên sang!” - Thượng úy báo cáo.

“Trùng hợp vậy sao, chúng tôi vừa mới đến mà đã có người tự động chui đầu vào rọ? Tôi đang muốn gặp họ đây!” - Branch cũng đi tới, nói.

Viên thượng úy đưa Makarov và Branch đi về phía căn buồng mái tôn giam người vượt biên, vừa đi vừa giới thiệu: “Lần này kỳ lạ thật đấy, từ trước đến nay toàn là quân biên phòng Mông cổ tóm được người thì dẫn đến đây cho chúng ta, lần này lại đích thân chúng ta tự tay tóm được hai người. Hai người này không những vượt qua biên giới, mà còn đi xuyên qua mấy chục cây số trên sa mạc, chắc là họ tưởng lầm chúng ta là dân du mục địa phương, định đến xin ngụm nước uống, khà khà, không ngờ lại tự chui đầu vào rọ!” - Viên thượng úy không khỏi có chút đắc ý.

Đây là một căn buồng mái tôn không có cửa sổ, chuyên dùng để giam người. Branch đạp vào làm cửa mở ra, một chùm nắng ban sớm soi vào gian phòng tối đen. Trong góc của căn buồng, hai người Trung Quốc mặc bộ đồ Tôn Trung Sơn bằng vải thô đang co ro trong đó, một người có thân hình gày gò, người còn lại còn tạm được 

coi là cao to. Mặt mũi đầu tóc hai người đều bê bết bẩn thỉu, xem ra không nhiều tuổi, cũng chỉ trên dưới hai mươi. Branch để ý thấy, khi anh đạp cửa xông vào, người Trung Quốc gày gò run bắn lên một cái, rõ ràng anh ta vô cùng sợ hãi, còn người Trung Quốc cao to lại không chút phản ứng. Khi Branch bước tới trước mặt họ, người đó thậm chí còn ngẩng đầu nhìn Branch một cái. Khi hai người mắt đối mắt, Branch giật bắn mình, đây là một đôi mắt đầy lòng trắng, vằn vện những tia máu, có thể nhận ra người này lâu lắm rồi không được nghỉ ngơi. Nhưng trong đôi mắt này, Branch lại nhìn ra một nghị lực, nghị lực chống chọi với số phận.

Branch nhìn xong, cùng Makarov ngồi xuống bên trong chiếc bàn, bắt đầu thẩm vấn hai người vượt biên trái phép. Thông qua phiên dịch tiếng Trung, Makarov theo thường lệ hỏi họ tên và tuổi tác cùng thông tin cơ bản của hai người này, nhưng bất luận Makarov hỏi thế nào đi chăng nữa, họ cũng không hé răng nói một lời. Makarov không khỏi tức tối, anh bắt đâu nghi ngờ hay là họ này có vấn đề về khả năng nghe nói. Nhưng Branch lại không nóng vội, cứ ngồi cạnh lạnh lùng quan sát, vì trong lòng anh biết rõ, nhiệm vụ lần này không thể nhanh chóng kết thúc như vậy, bởi vậy anh không nóng vội như Makarov.

Makarov thấy hai người không có bất cử phản ứng gì, đang định ra lệnh cho quân y kiểm tra cho họ thì Branch vỗ vào vai Makarov, nói nhỏ: “Hôm nay tạm thời tới đây, muốn họ mở miệng thì phải tiêu diệt tính khí ngang ngạnh của họ đã, hôm nay nhốt họ trong này, không cho ăn, ngày mai thẩm vấn tiếp.”

Makarov bó tay, đành phải gật đầu đồng ý. Branch sai người dùng dây thừng trói hai người úp lưng vào nhau lại rồi định bỏ đi. Nhưng khi họ vừa bước tới cửa, người Trung Quốc có thân hình cao to đột nhiên nói bằng tiếng Nga: “Xin hãy đưa chúng tôi về nước, chúng tôi chỉ bất cẩn vượt biên mà thôi.”

Tất cả mọi người đều giật mình, Makarov lập tức hỏi: “Hóa ra anh biết nói, lại còn biết nói cả tiếng Nga.” Người Trung Quốc nói xong câu đó liền ngậm kín miệng. Branch cười nhạt, ngồi xổm xuống, ghé vào tai người Trung Quốc đó, dùng tiếng Trung không được sõi lắm thốt ra từng từ từng từ một: “Anh cho rằng tôi sễ tin những câu nói ma quỷ của anh sao? Tôi khuyên anh nên thật thà một chút, nếu muốn nói thì có thể tìm tôi bất cứ lúc nào.”

Nói xong, Branch đứng dậy, đi thẳng ra khỏi căn buồng mái tôn bức bí.

3

Trước đó Makarov vốn không biết rằng, Branch còn là một chuyên gia ẩm thực. Cả một buổi chiều, Branch lục tung các kệ tủ, tìm ra tất cả những thứ có thể ăn được trong căn cứ, rồi sau đó tự tay dùng đậu đỏ, hành tây, rau cải thảo, củ cải, thịt bò nấu một nồi súp ngon tuyệt. Makarov không biết, là rốt cuộc anh ấy đã bỏ bao nhiêu nguyên liệu vào trong đó, anh chỉ thấy Branch đã đổ không ít rượu vodka vào trong súp. Anh cũng không biết tại sao trong căn cứ lại có vật phẩm bị cấm như rượu vodka này, nhưng chẳng ai muốn đi truy hỏi, bởi ở cái nơi quái quỷ đến cỏ cũng không mọc nổi này, thì rượu vodka có lẽ là người bạn tốt nhất.

Makarov nếm một miếng to món súp mà Branch nấu, chỉ đúng một miếng thôi mà đã vô cùng tuyệt vời. Vậy là cũng không buồn đợi đến giờ cơm, tất cả mọi người đều ngồi quây lại, thưởng thức món ngon hiếm có này.

Trong lúc mọi người đều đang say sưa với món súp ngon tuyệt thì bên ngoài đột nhiên vang lên tiếng động cơ đánh lửa. Makarov nhận ra đây là tiếng khởi động của xe Jeep, ai đang ở ngoài vậy? Makarov cảnh giác nhìn mọi người xung quanh, những người khác lúc này cũng cảm giác có gì không bình thường, mọi người mở to mắt nhìn nhau. Makarov tức tốc đếm một lượt những người mà mình nhìn thấy, 13 người vốn có của căn cứ, cộng thêm anh và Branch, tổng cộng 15 người, lúc này đều đang có mặt ở đây, vậy... vậy người khởi động xe bên ngoài là ai? Nghĩ tới đây, Makarov bỗng thấy lạnh toát sống lưng.

Bên ngoài, chiếc xe Jeep vẫn chưa khởi động xong, Makaxov rút súng, lên nòng, lao ra khỏi cửa trước tiên, những người khác cũng lao ra theo. Trên bãi đỗ xe cạnh khu nhà mái tôn, đang có hai người ra sức khởi động chiếc xe Jeep quân dụng. Makarov nhận ngay ra trên xe chính là hai người Trung Quốc mới bị bắt ban sáng. Họ bị trói rất chặt, lại bị nhốt trong căn phòng không có cửa sổ, sao lại có thể... Makarov không dám nghĩ tiếp, anh lên nòng súng, bắn lên trời một phát để cảnh cáo. Hai người Trung Quốc rõ ràng là không thạo dùng đồ của Nga nên mất cả nửa ngày cũng không khởi động được chiếc xe Jeep. Lúc này, hai người họ đã bị phát hiện, biết không thể lái xe tháo chạy, vậy là họ nhảy xuống xe, lao như bay về phía biên giới.

Makarov lại bắn thêm hai phát lên trời, nhưng hai người Trung Quốc đó không chút phản ứng, vẫn chạy như bay về phía sa mạc hoang vu. Makarov không còn cách nào khác đành phải nhảy lên xe Jeep, khởi động máy, nhưng chiếc xe Jeep đáng chết không tài nào khởi động nổi. Mãi một hồi lâu, rồi cũng khởi động được chiếc xe già cỗi, lúc này, Branch mang theo một khẩu súng săn cũng nhảy lên xe.

Chiếc xe Jeep lao như tên bắn, phi ra khỏi căn cứ. Trên sa mạc hoang vu, đây là một cuộc rượt đuổi không cân sức, một cuộc rượt đuổi bi tráng, giống như vùng đất thần kỳ này, trong lịch sử đã từng nhiều lần diễn ra như vậy, những kỵ binh của thảo nguyên Âu Á đang truy đuổi hai con cừu non.

Nhưng đây lại là hai con cừu thông minh, hoặc có thể nói là xảo quyệt. Chiếc xe Jeep đuổi được một đoạn, 

hai người Trung Quốc vốn đang chạy cạnh nhau bỗng đột nhiên một người chạy hướng tây nam, một người chạy hướng đông tây. “Đuổi theo ai đây?” - Makarov tức thời không biết phải làm thế nào đành giảm tốc độ xe.

Branch phóng tầm mắt về phía trước, mắt anh nhíu lại thành một đường, im lặng không nói. Makarov dừng xe, tiếp tục bắn lên trời một phát nữa, đồng thời hét lên với Branch: “Tiếp tục đuổi, sắp đến đường biên giới rồi!”

Branch nổi nóng: “Tiết kiệm đạn của cậu chút đi!”

- Nói xong, Branch nhảy xuống xe, giương khẩu súng săn lên, bắn một phát về phía người Trung Quốc gầy gò.

Người đó lập tức quỵ ngã. Tất cả chỉ xảy ra trong vòng vài giây ngắn ngủi, Makarov vô cùng kinh ngạc trước hành động bộc phát của Branch, kinh ngạc hơn trước tay súng quá chuẩn của Branch, và còn kinh ngạc hơn trước sự lạnh lùng quyết đoán bắn hạ của Branch. Anh trông thấy người Trung Quốc đó ngã xuống sa mạc, xem ra vẫn còn chút sức, người đó muốn đứng dậy những đã hết sức, cuối cùng, cả người đổ xuống sa mạc, không ngừng co giật…

4

Branch bỗng biến thành tay thợ săn dũng mãnh, bắn giết xong một “con cừu” lại tiếp tục chỉnh nòng súng nhắm chuẩn vào “con cừu” khác đang tháo chạy. Ngón tay anh nắm lấy cò súng, mắt nhíu lại thành một đường chỉ, mục tiêu đã xác định, chỉ cần bóp nhẹ cò súng... nhưng Branch lần này lại chần chừ do dự, ngón tay nắm vào cò súng, bóp vào rồi lại nhả ra, rồi lại bóp vào, nhắm chuẩn, lại nhắm chuẩn. Chính xác, anh cần phải chính xác tuyệt đối. Trong ống kính nhắm chuẩn của Branch, anh đã nhìn thấy đầu người đó. Anh tin rằng đây nhất định là một cái bia bắn tốt. Rút cuộc, anh hạ quyết tâm, bóp nòng súng. Tiếng súng rền vang xé nát sự yên tĩnh của sa mạc thẳm sâu...

Sau khi tiếng súng vang lên, người Trung Quốc có thân hình kiện tráng đó quỳ gối trên sa mạc rồi cơ thể anh ta nặng nề đổ xuống. Qua ống kính nhắm chuẩn, Branch đã nhìn rõ mọi thứ, anh giật thót tim, tay vẫn giương súng săn đứng sừng sững tại chỗ. Mãi một lúc sau, Branch mới từ từ hạ khẩu súng săn trên tay xuống, nhảy lên chiếc xe Jeep, nói với Makarov giống như đánh trống lảng vậy: “Giờ thì cậu đã biết tại sao tôi đến đây lập công chuộc tội rồi chứ?”

Makarov đã hồi tỉnh lại im lặng không nói gì, bình tình nổ máy chiếc xe Jeep, lái về phía người Trung Quốc ban nãy ngã xuống. Xe chậm rãi đỗ lại cạnh người đó. “Anh ta chết rồi chăng?” - Makarov ngồi trên xe lạnh lùng hỏi. Branch nhảy xuống xe trước, rút súng trong người ra, lên nòng, cẩn thận bước tới bên cạnh người Trung Quốc đó. Anh thò chân phải đá người này một cái, nhưng anh ta không hề phản ứng. Branch lòng nặng trĩu, không trông thấy vết thương trên người anh ta, cũng không thấy máu chảy. Anh và Makarov vất vả lật người đó lại, vẫn không có bất cứ vết thương hay vết máu nào. Branch lại tỉ mỉ quan sát người Trung Quốc, và anh lại kinh ngạc một lần nữa: khuôn mặt chữ điền, lông mày rậm rạp, xem ra tuổi tác chắc là không quá hai mươi, nhưng trên khuôn mặt này lại toát lên vẻ già nua hoàn toàn không tương xứng với tuổi tác.

“Sao lại không có vết thương?” - Makarov nghi ngờ hỏi.

“Hừm! Bởi vì anh ta vốn không chết, chẳng qua là anh ta lâu lắm rồi không nghỉ ngơi, không ăn uống gì nên cơ thể suy nhược nặng, cộng thêm ban nãy chạy thục mạng nên mệt ngất ra đấy!” - Branch giải thích.

“Nhưng phát súng ban nãy của anh…” - Makarov hỏi.

“Phát súng đó của tôi không bắn trúng nhưng đã bắn tan chút ý chí cuối cùng của anh ta, anh ta biết rằng có chạy nữa cũng vô ích, bởi vậy mới ngã ra đây…”

“Nhưng tay súng của anh rất ổn mà, sao lại bắn không trúng?” - Makarov vẫn truy hỏi.

Branch lộ ra nụ cười khó hiểu, lắc đầu, không nói thêm gì nữa. “Vậy bây giờ chúng ta làm thế nào?” - Makarov thỉnh giáo Branch.

Branch chau mày, nói: “Đem người này lên xe trước đã, sau đó thi đến xem cái gã chết tiệt kia.”

Makarov và Branch tốn bao công sức mới khiêng được người này lên xe, sau đó lái xe đến chồ người Trung Quốc đang hấp hối. Khi họ tới nơi, một vũng máu to  

đang chảy lênh láng trên sa mạc, máu tươi trên cổ người đó vẫn đang tuôn ra ngoài, toàn thân anh ta không ngừng co rút. Nhưng người này vẫn chưa chết, đôi mắt của anh ta đỏ ngầu đang trợn lên nhìn Makarov và Branch giống như chết không nhắm mắt vậy, cũng lại giống như đang cầu khấn điều gì đó...

Branch từ từ rút khẩu súng ngắn ra, lên nòng, nhắm chuẩn vào đầu người Trung Quốc đó. Makarov kinh ngạc nhìn Branch, lớn tiếng hét lên với anh ta: “Anh định làm gì vậy? Anh ta vẫn chưa chết mà!”

“Để tôi giúp anh ta bớt đau khổ!” - Branch kiên nghị trả lời.

“Không! Điều này không phù hợp chủ nghĩa nhân đạo!” - Makarov giải thích.

“Giúp anh ta bớt đau khổ chính là chủ nghĩa nhân đạo lớn nhất! Anh ta đã không cứu được nữa rồi!” - Branch cũng lớn tiếng hét lên với Makarov, đồng thời bóp cò.

Cơ thể người đó rốt cuộc đã ngừng co rút, nhưng đôi mắt vẫn không chịu khép lại. “Có lẽ do chết oan ức!”

- Makarov nghĩ thầm rồi giúp người đó vuốt mắt.

Trên đường trở về căn cứ, Makarov và Branch đều không ai nói năng gì. Makarov không ngờ rằng, nhiệm vụ lần này tưởng chừng như vớ vẩn, vậy mà lại mở đầu máu me như vây.

Về tới căn cứ, Makarov dẫn viên thượng úy cùng những người khác mang theo công cụ quay trở lại chỗ người Trung Quốc đã chết, rồi chôn anh ta trên sa mạc. Không có bia mộ, không có bất cứ thứ gì để đánh dấu, giống như ở đó chưa từng xảy ra chuyện gì, giống như trên thế gian này chưa từng có một sinh mệnh trẻ tuổi đó.

5

Thế nhưng Makarov lại cảm thấy mình không đủ sức để đối diện với cái chết đó, anh trở lại căn cứ, khiêng người Trung Quốc hôn mê vào trong một căn buồng mái tôn, giao cho quân y kiểm tra. Kết quả kiểm tra của quân y giống hệt như phán đoán của Branch: lao lực quá độ, bị khủng hoảng nặng dẫn đến hôn mê, cần phải nghỉ dưỡng.

Makarov định bón cho anh ta chút thức ăn nhưng người đó không tài nào ăn được, quân y đành phải truyền dung dịch Glucose cho anh ta. Trọn một đêm, hiện hữu trước mắt Makarov là hình ảnh khủng khiếp của người Trung Quốc trước khi chết. Anh nằm trên giường, không tài nào ngủ được. Anh không biết Branch làm như vậy có đúng không. Phát súng cuối cùng mà Branch bắn, đã phá hủy hoàn toàn nhân sinh quan hình thành trong anh mấy chục năm qua, có lúc anh cảm thấy Branch là một tay đao phủ, có lúc anh lại cảm thấy anh ta làm như vậy là đúng. Bởi vì anh cũng không biết, có còn cách nào khác có thể cứu được mạng sống của người Trung Quốc đó trong hoàn cảnh như vậy!

Makarov mất ngủ, từng chuyện từng chuyện cứ hiện lên trước mắt anh... Lúc bình minh, bên ngoài vẫn là một vùng tối đen, anh quyết định ngồi dậy, đi ra ngoài. Gió thổi mạnh trên sa mạc hoang vu, gió to cuốn theo những viên đá to nhỏ và cát vàng, quét sạch mọi thứ, rồi đập vào những căn buồng mái tôn phát ra những âm thanh đáng sợ. Makarov đột nhiên muốn tới căn buồng tối qua giam giữ hai người Trung Quốc xem sao, có lẽ sẽ phát hiện điều gì đó ở đấy. Anh mở cửa căn buồng không có cửa sổ đó ra, nhìn khắp phòng một lượt, lúc đó hai người bị trói áp lưng lại với nhau bằng một sợi dây thừng to, vậy họ thoát ra ngoài bằng cách nào? Makarov bắt đầu tỉ mỉ quan sát, anh phát hiện, hóa ra một sợi dây thừng vẫn còn nguyên vẹn, còn một sợi dây đã bị cắt ngang khúc giữa, từ vết bị cắt đứt cho thấy có vết tích của vật cứng mài qua mài lại, là gì nhỉ? - Là xẻng sắt, một chiếc xẻng sắt, thậm chí lưỡi xẻng còn hơi cùn. “Lẽ nào chính là chiếc xẻng này?” - Makarov nghĩ tới đây, miệng tự lẩm bẩm.

“Đúng vậy, chính là chiếc xẻng rất bình thường này!” - Một giọng nói cất lên sau lưng Makarov.

Makarov quay ngoắt người lại thì thấy một người đứng sừng sững trước cửa buồng, chính là Branch. Branch bước đến, nhấc đoạn dây thừng bị đứt lên, nói: “Tối qua tôi đã đến kiểm tra. Hai sợi dây thừng, một sợi nguyên vẹn, còn sợi kia bị đứt ở giữa, chỉ có thể nói lên một khả năng, trong số hai người, có một người đã cắt đứt được sợi dây trói mình sau đó giúp người kia cởi trói.

Cậu nghĩ xem, trong số hai người họ thì ai là người cắt đứt sợi dây trước?”

“Tôi cho rằng là gã Trung Ọuốc có thân hình cao to. Makarov nói.

“Không sai! Tôi cũng nghĩ giống cậu. Hôm qua lúc tôi hỏi gã đó thì đã thử được năng lực của người này. Để tôi phân tích một chút về gã này. Trước tiên gã ta dùng lưỡi xẻng sắt không được sắc lắm cứa đứt sợi dây thừng, cho thấy nghị lực đáng kinh ngạc của hắn, chỉ cần có một tia hy vọng là hắn ta tuyệt đối không bỏ qua. Thứ hai, người này cơ thể kiện tráng, khỏe kinh người, cậu có để ý thấy không, hắn ta không hoàn toàn chỉ dựa vào xẻng sắt để cứa đứt sợi dây thừng, nếu chỉ dựa vào lưỡi xẻng để cứa đứt dây thừng thì e rằng hắn phải ngồi cứa đến tận bây giờ cũng chưa chắc sẽ cứa đứt được nó. Rút cuộc cứa đứt được sợi dây thừng là hoàn toàn dựa vào sức lực của đôi tay hắn, điều đó cho thấy đôi tay người này khỏe kinh người, nên trong tình trạng hai tay bị trói như vậy mà vẫn có thể thoát ra được. Hơn nữa người này còn rất giỏi ngụy trang, sáng hôm qua cứ cách một tiếng đồng hồ là vệ binh lại vào kiểm tra, nhưng anh ta đã qua mặt được vệ binh. Cuối cùng, gã này còn là một cao thủ mở khóa, sau khi anh ta thoát được sợi dây thừng, thì chẳng mấy chốc đã phá được khóa cửa!” - Branch phân tích từ đầu đến cuối.

Makarov rùng mình một cái: “Lẽ nào anh ta chính là đặc công do Trung Quốc phái tới?”

Branch lắc lắc đầu: “Chỉ dựa vào những thứ này vẫn rất khó để phán đoán. Ngoài ra người này còn biết nói tiếng Nga trôi chảy, còn biết lái xe, nếu không thì hắn cũng không biết lượng sức mình mà đi nổ máy chiếc xe Jeep của chúng ta.”

Makarov gật đầu, đáp: “Xem ra lai lịch của người này không thường đâu!”

Hai người đang phân tích trong phòng thì đột nhiên, một vệ binh chạy đến báo cáo: “Người Trung Quốc đó tỉnh lại rồi.”

Makarov và Branch nghe thấy vậy liền lập tức đến đó. Lúc này người Trung Quốc đã tỉnh dậy, nhưng xem ra vẫn còn rất yếu. Người đó nhìn thấy Makarov liền thay đổi ngay thái độ hôm qua, mở miệng nói trước, vẫn nói bằng tiếng Nga trôi chảy: “Xin cho tôi ăn!”

Thái độ biến đổi của người Trung Quốc này khiến Makarov và Branch đều có chút kinh ngạc, họ không ngừng đưa mắt nhìn nhau.

6

Makarov sai người đưa tới hai chiếc bánh mì to và cả một bát canh thịt bò. Người này quả thực đói sắp chết, ăn uống thục mạng, nhét gọn hai chiếc bánh mì và bát canh vào bụng. Ăn uống no nê xong, người đó tựa lưng vào giường, bình tĩnh nói: “Các anh muốn biết gì thì hỏi đi!” 

Branch nghiêm giọng nói: “Họ tên?”

“Lý Quốc Văn.”

“Tuổi.”

“19 tuổi.”

“Ở Trung Quốc anh làm gì?”

“Thanh niên trí thức.”

“Thanh niên trí thức?” - Rõ ràng Branch không hiểu lắm về thanh niên trí thức.

“Thì là thanh niên trí thức… lên núi về quê, anh biết không?” - Người thanh niên tên là Lý Quốc Văn giải thích.

Branch hình như nhớ ra điều gì đó, do liên quan đến công việc nên bình thường anh rất quan tâm đến mọi biến động của phía Trung Quốc. Anh từng đọc những bài viết nói về thanh niên trí thức đến các vùng quê trên báo, mà nội bộ KGB đặt mua. Anh gật gù, nói: “Tôi hiểu rồi, người Trung Quốc đi cùng anh tên là gì?”.

Lý Quốc Văn bỗng sững sờ rồi lập tức hỏi lại: “Cậu ấy giờ sao rồi? Chết rồi ư?”

Branch gật đầu: “Đúng vậy, anh ta chết rồi, coi như anh mạng lớn. Anh vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi.”

Sau khi nghe tin bạn mình đã chết, Lý Quốc Văn hai hàng nước mắt chảy dài, anh đau khổ nhắm mắt lại.

Mãi một lúc sau, khi Branch sắp hết kiên nhẫn thì Lý Quốc Văn lại mở mắt, trả lời: “Cậu ấy tên là Vương Quân.”

“Cậu ta cũng là thanh niên trí thức?”

“Đúng vậy, giống tôi, đều là thanh niên trí thức từ Bắc Kinh đến Nội Mông hoặc về các vùng quê.”

“Các cậu từ Bắc Kinh đến?” - Branch truy hỏi. “ừm, đúng vậy! Sự việc đã đến nước này rồi, tôi cũng không còn gì phải giấu!” - sắc mặt Lý Quốc Văn vô cùng bình tĩnh.

Dựa vào kinh nghiệm nhiều năm làm đặc công của mình, Branch đoán định chắc chắn Lý Quốc Văn không nói dối. Anh gật gật đầu rồi lại hỏi: “Vậy cậu hãy nói xem hôm qua các cậu làm thế nào mà tháo chạy được?” Lý Quốc Văn nhìn Branch, rồi lại nhìn Makarov, khóe miệng khẽ rung lên, sau đó thở dài, đứt quãng kể lại sự tình hôm qua tháo chạy. Những gì Lý Quốc Văn nói quả nhiên giống hệt như Branch dự đoán trước đó. Makarov không khỏi kinh ngạc nhìn người thanh niên Trung Quốc trước mặt, đồng thời cũng không thể không thán phục Branch, dù sao anh ấy cũng đã lăn lộn trong KGB hơn anh mấy năm!

Branch nghe Lý Quốc Văn tường thuật xong liền hài lòng gật gù, lộ ra nụ cười hiếm hoi. Nhưng rồi nụ cười trên môi anh lập tức tắt ngóm, lại chất vấn Lý Quốc Văn bằng giọng điệu cũ: “Bây giờ hãy nói về vấn đề chủ chốt, cũng là vấn đề mà tôi quan tâm nhất, tại sao các anh phải vượt biên trái phép? Đừng có nói lại với tôi là vô tình vượt biên này nọ, đó là những câu nói vớ vẩn để lừa gạt trẻ con!” 

“Bởi vì xuất thân của chúng tôi không tốt, bởi vì chúng tôi hy vọng có thể nếm trải một cuộc sống khác.” - Lý Quốc Văn trả lời, từng chữ, từng chữ một xuyên qua kẽ răng bật ra.

“Xuất thân?” - Makarov không hiểu. Nhưng Branch lại bất ngờ gật gật đầu, đáp: “ừm! Tôi có thể hiểu, tôi rất hài lòng với câu trả lời của cậu!”

“Cảm ơn sự thấu hiểu của anh!” - Lý Quốc Văn đáp.

Branch đứng dậy, an ủi Lý Quốc Văn: “Cậu ở đây nghỉ ngơi cho tốt, chú ý giữ sức khỏe. cần gì thì có thể nói với tôi. Cậu yên tâm, ở đây an toàn tuyệt đối, cuộc sống mới mà cậu hy vọng đã bắt đầu rồi đấy!” - Nói xong Branch nháy mắt với Makarov một cái, hai người cùng ra khỏi căn buồng mái tôn.

Makarov không hiểu liền hỏi Branch: “Sao anh lại dễ dàng tin lời người Trung Quốc đó vậy, lễ nào anh đã loại trừ khả năng cậu ta là đặc công Trung Quốc?”

Branch cười, đáp: “Cậu trông anh ta giống không?” Makarov không hiểu.

“Cậu nên nghiên cứu thêm về Trung Quốc đi, lịch sử của Trung Quốc, hiện tại của Trang Quốc, và cả tương lai của Trung Quốc. Dĩ nhiên, cậu không hiểu cũng rất bình thường, những ông lão Matxcơva cũng không hiểu nhưng họ lại chỉ giỏi khoa chân múa tay.” - Branch nói một tràng không đầu không cuối với Makarov, rồi lại bồi tiến một câu: “Nếu cậu không yên tâm thì có thể thẩm vấn anh ta lần nữa, tôi nghĩ cậu sẽ không thu hoạch thêm được gì đâu.”  

Makarov không yên tâm, cùng viên thượng úy thẩm tra Lý Quốc Văn lần nữa. Quả nhiên giống như Branch nói, anh không có bất cứ thu hoạch nào mới. Makarov bắt đầu tin những lời người Trung Quốc nói. Vậy là anh cùng Branch viết bản báo cáo đầu tiên về sự việc này. Chẳng bao lâu sau họ đã nhận được trả lời của tổng bộ. Thư gửi lại chỉ có duy nhất một câu thế này: Dốc hết sức sử dụng người này để sau này phục vụ cho chúng ta.

7

Makarov đang hồi tưởng tới đây thì đột nhiên cửa buồng bị ai đó mở toang ra, rồi một thanh niên trẻ tuổi cao gầy thò đầu nhìn vào trong buồng họ. Đường Phong, Hàn Giang, Makarov đều ngạc nhiên, chỉ mỗi Từ Nhân Vũ là hỏi ngay một câu: “Anh tìm ai?”

Người thanh niên này hỏi lại bằng tiếng Nga: “Alexander có đây không?” - Nhưng vẫn chưa kịp đợi Từ Nhân Vũ trả lời, người thanh niên đó liền lập tức rặn ra nụ cười, tự đánh trống lảng: “Xem ra tôi đi nhầm rồi, xin lỗi, làm phiền các anh nghỉ ngơi.”

Nói xong người thanh niên đó lui ra rồi đóng cửa lại. Đường Phong, Hàn Giang, Makarov và Từ Nhân Vũ nhìn nhau, cả bốn người đều ngạc nhiên trước vị khách không mời lại đột ngột xuất hiện này. Bỗng Makarov nhớ ra chuyện gì đó, nói với mọi người: “Không đúng, người ban nãy có vấn đề!” 

“Sao?” - Hàn Giang vội hỏi.

“Ban nãy tôi thấy người đó nói tiếng Nga giọng rất kỳ lạ, lúc này nghĩ lại ánh mắt của anh ta và cả hành

động thất lễ...” - Makarov nói tới đây, Từ Nhân Vũ cũng giật mình nói: “Anh ta nói tiếng Nga rất kỳ lạ, không phải là khẩu âm Saint Petersburg, cũng không phải khẩu. âm Matxcơva, mà lại giống… giống người Mỹ nói tiếng Nga, một người Mỹ bạn tôi biết nói tiếng Nga cũng giống cái giọng đó.”

“Khẩu âm của người Mỹ nói tiếng Nga?” - Hàn Giang nghe tới đây liền lập tức bật dậy, mở cửa đuổi theo, nhìn về hai đầu hành lang, đã không thấy bóng dáng người thanh niên đó đâu nữa. Anh quay lại nói với Từ Nhân Vũ: “Tiến sỹ, chúng ta cũng dùng chiêu ấy xem sao!”

“Anh muốn tôi xông vào buồng người khác?”

“Nếu gần buồng chúng ta quả thực có người tên là Alexander thì người đó không vấn đề gì, nếu không thì...”

Từ Nhân Vũ gật đầu, vậy là hai người liền một lúc xông vào mấy phòng gần đó, Từ Nhân Vũ tìm người, Hàn Giang đi theo quan sát. Kết quả, hai người bận rộn một vòng mà cả mấy buồng gần đó đều không có lấy một ai tên là Alexander. Hàn Giang càng cảm thấy bên trong việc này có vấn đề, nên lập tức kéo Đường Phong theo, rồi hai người chia nhau tìm hai đầu khác nhau. Khi hai người gặp nhau tại toa nhà ăn thì sự thất vọng đều hiện rõ trên mặt. Hai người chán nản ngồi trong toa nhà ăn, Đường Phong nghi ngờ hỏi Hàn Giang: “Anh nghi ngờ người đó là Stephen...”

“Suỵt!...” - Hàn Giang vội vàng lấy tay ra hiệu cho Đường Phong, ý là Đường Phong nói nhỏ một chút, sau đó, anh mới nói: “Tôi cũng không thể khẳng định, nhưng cử chỉ hành vi của người đó rất khả nghi.”

Đường Phong đang định nói gì đó thì đôi mắt của Hàn Giang đang ngồi đối diện bỗng trợn trừng lên. Đường Phong vẫn chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì Hàn Giang đã đứng phắt dậy, chạy thục mạng về phía toa tàu phía sau Đường Phong. Đường Phong thấy vậy chỉ biết đuổi theo. Hai người lao như bay, vùn vụt xuyên qua từng toa tàu. Hành lang trong toa tàu rất hẹp nên, Đường Phong không trông thấy được phía trước Hàn Giang, mãi cho tới khi hai người tới trước một cánh cửa, Hàn Giang mới dừng lại, anh ra sức vặn cánh cửa sắt trước mặt nhưng không được.

“Đừng vặn nữa, đây là toa cuối cùng rồi!” - Đường Phong thở hổn hển, nói.

Lúc này Hàn Giang mới nhận ra mình đã tới toa cuối cùng. Anh sờ sờ người mình, chỉ có một con dao quân dụng bình thường của Thụy Sỹ, những vũ khí khác đều đã đưa cho Yelena trước khi đi, hiện giờ, đây chính là vũ khí duy nhất, nếu có gặp nguy hiểm gì... Hàn Giang không dám nghĩ tiếp nữa, anh quay người lại nhìn dãy hành lang hun hút phía sau, rồi lại nhìn dãy cánh cửa đóng im ỉm bên cạnh hành lang, bỗng nhiên cảm thấy trong từng cánh cửa đó là từng căn mê cung mịt mù sương khói. Kẻ thù của anh đang ở sau những cánh cửa đó, là kẻ thù hiểm ác được trang bị vũ khí hiện đại, hay là mãnh thú khát máu?... “Ban nãy anh nhìn thấy gì vậy?” - Hàn Giang bỗng nghe tiếng Đường Phong khẽ hỏi.

Hàn Giang nghe thấy Đường Phong hỏi liền lắc mạnh đầu, sực tỉnh lại. Anh kéo Đường Phong ra đoạn nối giữa hai toa tàu, khẽ nói: “Ban nãy tôi lại nhìn thấy người đó, nhưng khi tôi đuổi tới thì không biết hắn đã biến mất ở trong toa tàu nào nữa.”

“Anh không thể kiểm tra từng toa tàu một như vậy!”

“Đúng, bởi vậy mà tôi mới cảm nhận được nguy hiểm!”

“Nguy hiểm? Có lẽ do anh mệt quá, hãy nghỉ ngơi cho ổn đã, quay về còn rất nhiều việc để làm.”

“Đúng vậy, quay về còn rất nhiều việc để làm.

Triệu Vĩnh đến Hồng Kông, Yelena tại Saint Petersburg tiếp tục điều tra, chúng ta về Bắc Kinh, giáo sư La phải nghiên cứu kệ tranh ngọc, rồi còn phải mời giáo sư Trần Tử Kiến khám nghiệm bộ hài cốt đó, đúng rồi, còn cả cuốn sổ ghi chép của Misha nữa.”

“Anh điều Triệu Vĩnh đến Hồng Kông có phải là vì không yên tâm về Lương Dũng Tuyền không?”

“Tôi chỉ để Triệu Vĩnh đến hỏi Lương Dũng Tuyền một số vấn đề nhỏ, cậu đừng đa nghi.”

“Vậy phía Yelena thì sao? Anh có cho rằng phía cô ấy nhiều hy vọng không?”

Hàn Giang lắc lắc đầu: “Bên phía cô ấy không thể đặt nhiều hy vọng, rút cuộc cũng bao nhiêu năm qua đi rồi, cũng chẳng còn tung tích gì cả đâu.”

“Nói vậy có nghĩa là chỗ chúng ta đây là hy vọng lớn nhất!”

“ừm, tất nhiên là vậy. Nhưng hiện giờ tôi lo lắng nhất là Stephen, hắn có ở trên tàu không đây?” - Nghĩ tới đây, Hàn Giang không dám đứng lại lâu, anh vội vàng cùng Đường Phong quay lại buồng của họ. vẫn may, chỗ Makarov và Từ Nhân Vũ đây mọi việc đều bình thường. Đường Phong nhìn ra ngoài cửa sổ, tàu hỏa đang lao vun vút trên thảo nguyên Âu Á, băng qua từng thành phố, rồi lại băng qua từng con sông, xem ra mọi việc đều rất bình thường.
 

hoahongden12

Active Member

Ngọn lửa trên xác chiếc máy bay trực thăng đã tàn lụi dần dần, Makarov vừa dùng bình xịt cứu hỏa dập tắt những đám lửa còn sót lại, vừa kiểm tra tình hình của xác máy bay. Mùi khét và khói đặc, sộc thẳng vào khoang mũi của Makarov, trong làm khói đó còn kèm theo có rất nhiều khí độc hại, nên anh vội vàng đeo mặt nạ chống độc lên...

1

Một đường hầm tối đen sâu hun hút, Makarov cầm bó đuốc một mình tiến vào trong đó. Ông không biết đường hầm này sẽ dẫn tới đâu, ông cũng không biết tại sao mình lại tới đây, đến để thám hiểm tìm kiếm văn minh đã mất hay là để đoạt được kho báu của Alibaba.

Cứ như vậy, ông tiến về phía trước, đột nhiên, một u hồn màu trắng vụt lên phía trước, chặn đứng đường đi của Makarov. Makarov vô cùng kinh ngạc, lùi lại phía sau vài bước, đứng im, quan sát lại u hồn màu trắng trước mặt lần nữa, miệng không ngừng thốt lên tên gọi: Misha.

u hồn Misha nhìn Makarov, rồi nói với ông bằng giọng trầm trầm khàn đặc: “Đi theo tôi!”. Nói xong, Misha quay người tiếp tục tiến vào sâu trong đường hầm. Makarov không hiểu Misha muốn gì, chỉ thấy bước chân Misha thoăn thoắt nhẹ nhàng bước nhanh về phía trước, nên ông đành phải bám sát phía sau. Nhưng Misha càng đi càng nhanh, Makarov dốc hết sức nhưng vẫn không theo kịp bước chân của Misha. Ông muốn gọi Misha, nhưng đã cố há miệng mà vẫn không tài nào thốt nên lời. Rút cuộc, sau khi Misha đi vào một ngã rẽ thì biến mất.

Xung quanh yên tĩnh trở lại. Makarov dừng bước, lặng lẽ quan sát xung quanh, đây là điểm cuối cùng của đường hầm, phía trước không còn đường nữa rồi. “Misha đâu? Sao không thấy đâu nữa?” - Makarov nghi ngờ bước tới cuối đường hầm, dùng bó đuốc soi sáng vách đá trước mặt, đột nhiên ông phát hiện ra trên vách đá phía nơi đường hầm có những đường vân kỳ lạ, còn có cả chút màu sắc sót lại. Ông áp sát vách đá, dưới ánh đuốc, ông mở to mắt, rồi... ông lại nhìn thấy hình bản đồ đáng sợ đó.

“Không!... Không!” - Makarov hét lên một tiếng, rốt cuộc đã tỉnh dậy. Đường Phong bên cạnh vội vàng bật đèn, quan tâm hỏi Makarov: “Lão Mã, bác lại nằm mơ thấy ác mộng ư?”

“Không! Đó không phải là mơ, nó... nó quá chân thực.” Makarov ngồi dậy, trong đầu không ngừng hiện lên cảnh tượng ban nãy. Lúc này, Hàn Giang và Từ Nhân Vũ cũng đã bị tỉnh giấc. 

Makarov nhìn mấy người bạn Trung Quốc trước mặt, rồi lại khẽ kéo rèm cửa sổ ra. Bên ngoài cửa sổ là một vùng tối đen, là khu rừng nguyên sơ Siberia rậm rạp hun hút. Lúc này Makarov mới nhớ ra, họ đã vượt qua đỉnh núi Ural từ lâu và đã tiến vào Siberia. Ông không nhớ rõ họ đã di chuyển bao nhiêu ngày trên vùng đất rộng lớn mênh mông, tất cả hành khách trên tàu cũng đã bắt đầu tê mỏi, bắt đầu chán ngấy chuyến đi dài đằng đẵng này. “Sao mình lại nằm mơ thấy nhiều ác mộng vậy nhỉ?” - Makarov nhìn ra ngoài cửa sổ và chìm trong suy tư.

“Xem ra, ngày mai là chúng ta đã về đến lãnh thổ nước mình rồi, cuối cùng cũng về nhà rồi.” - Hàn Giang nhìn ra ngoài cửa sổ tối đen rồi lẩm bẩm.

Makarov nghe thấy Hàn Giang nói mới bừng tỉnh, quay lại nói với mọi người: “Xin lỗi, tôi đã làm mọi người bị tỉnh giấc.”

Đường Phong rộng lượng nói: “Lão Mã, thực ra chúng cháu mấy hôm nay ngủ cũng đủ rồi, bởi vậy bác không phải áy náy đâu. Hơn nữa, trời cũng sắp sáng rồi, đằng nào mọi người cũng dậy, hay là bác kể tiếp cho chúng cháu nghe về chuyến đi tới Mông cổ đó đi.”

Makarov lại nhớ về sa mạc Gobi giáp biên giới Trung - Mông và cả căn cứ bí mật trên sa mạc hoang vu đó.

2

Thời gian giống như cát bụi trên sa mạc, cuốn đi theo gió, Makarov và Branch đã tới khu căn cứ này gần nửa năm. Trong nửa năm đó, sức khỏe Lý Quốc Văn đã hoàn toàn bình phục. Quân biên phòng cũng lần lượt giao nộp hơn chục người vượt biên trái phép, trong số những người này, có thanh niên trí thức, cũng có cả dân du mục địa phương. Makarov và Branch lần lượt tiến hành thẩm vấn, phân loại họ, cuối cùng giữ lại chín người, trong số đó bao gồm cả Lý Quốc Văn.

Một buổi tối, trên sa mạc bỗng đổ một cơn mưa tầm tã, cuồng phong cuốn theo những giọt nước nặng trĩu đập vào dãy nhà mái tôn, bật ra những âm thanh đáng sợ. Trong một căn buồng mái tôn to nhất, bao trùm không khí nặng nề, u ám, Branch, Makarov và chín người vượt biên trái phép, mà họ tuyển chọn đang tập trang trong căn buồng này.

Branch và Makarov đưa mắt nhìn nhau, đương nhiên đôi mắt chim ưng của Branch đảo quanh một lượt, rồi khi ánh mắt của anh dừng lại trước Lý Quốc Văn, anh nói bằng thứ tiếng Trung lơ lớ: “Các anh, những ngày qua, chắc là các anh đã biết được thân phận của chúng tôi, còn tôi cũng đã nắm được tình hình của các anh. Bởi vậy, tôi tin rằng ngày hôm nay tại đây, chúng ta có thể thẳng thắn nói chuyện với nhau. Tôi đã từng hỏi các anh, từng người một, là tại sao các anh lại vượt biên đến đây. Tuy mỗi người đều đưa ra một lý do khác nhau, nhưng có một điều có thể khẳng định, các anh không hài lòng với cuộc sống trước đây và hy vọng có thể bắt đầu một cuộc sống mới.” 

Nói tới đây, Branch ngừng lời, nhìn lại chín người trong phòng lần nữa, sau đó mới tiếp tục: “Nhưng các anh phải biết rằng, là những kẻ vượt biên trái phép, các anh không thể bắt đầu một cuộc sống mới giống như những người bĩnh thường khác, vì các anh không có thân phận, không có kĩ năng, bởi vậy có thể nói là chẳng có gì cả. Dĩ nhiên tôi biết rằng, các anh đều có một cơ thể kiện tráng, một ý chí kiên định và một cái đầu thông minh, nhưng chỉ có những điều này thôi thì vẫn chưa đù, vĩnh viễn chưa đủ! Bởi vậy, tôi rất muốn giúp đỡ các anh, để các anh có thể có được một cuộc sống mới, nên chúng ta bắt buộc phải hợp tác với nhau.”

Branch dừng lại lần nữa, nhìn mọi người xung quanh, thấy không có ý kiến gì khác liền nói tiếp: “Nội dung hợp tác rất đơn giản, cũng rất công bằng, các anh làm việc cho chúng tôi, đổi lại các anh sẽ có được thân phận hợp pháp và thù lao nhất định. Trước tiên, chúng tôi sẽ huấn luyện các anh, sau đó, các anh làm việc cho chúng tôi. Khi đã đạt đến số năm giới hạn, thường thì ít nhất cũng phải làm việc cho chúng tôi từ năm năm trở lên, chúng tôi mới có thể cho các anh thân phận hợp pháp, bao gồm hộ chiếu, thậm chí là cả một khoản đô la đáng kể. Đến lúc đó, các anh có thể lựa chọn, là ở lại tiếp tục làm việc cho chúng tôi hay là bỏ đi. Nếu như lựa chọn bỏ đi, chúng tôi có thể đưa các anh đến bất kỳ quốc gia nào trên thế giới này. Tóm lại, chỉ cần các anh làm việc cho chúng tôi, các anh sẽ có một thân phận mới, bắt đầu một cuộc sống mới. Thế nào, các anh, hợp tác như vậy rất công bằng phải không?”

Branch vừa nói dứt lời, Lý Quốc Văn liền đứng dậy đầu tiên, thể hiện thái độ: “Tôi đồng ý làm việc cho các anh.”

Branch nhìn Lý Quốc Văn, hài lòng gật gù. Sau đó, di chuyển ánh mắt đến những người khác. Những người khác vẫn đang do dự, nhưng trong lòng Branch đã chắc mẩm trăm phần trăm, anh biết rằng, những người này kể từ ngày họ vượt biên đó đã không còn sự lựa chọn nào khác.

3

Hai ngày sau, đúng như Branch dự đoán, cả chín người đều đã kí tên lên hồ sơ liên quan. Makarov và Branch cầm chín bộ hồ sơ này trở về phòng họ, bắt đầu viết một bản báo cáo. Đây là phần tài liệu quan trọng, là bản tổng kết trong nửa năm công tác gần đây của họ. Makarov vừa ghi chép tài liệu, vừa tỉ mỉ đọc chín bộ hồ sơ này, không khỏi than thở: “Chín bộ hồ sơ này thật không khác gì văn tự bán thân!”

“Nhưng đối với họ mà nói lại là văn tự bán thân rất công bằng!” - Branch nói.

Makarov chán nản lắc đầu, tiếp tục cắm cúi viết báo cáo. Sau khi báo cáo được đưa lên, chẳng máy chốc tổng bộ đã trả lời. Tổng bộ rất hài lòng với những gì mà họ làm được trước đó, đồng thời ra lệnh cho họ lấy đó làm cơ sở để thành lập một trại tập huấn và đặt tên cho trại tập huấn này là “Căn cứ Tiền Tiến”. Bên cạnh đó, tổng bộ còn ủy quyền cho Makarov và Branch có thể tuyển chọn nhân viên từ khu vực Mông cổ và Viễn Đông, Siberia để tham gia huấn luyện. Họ chỉ có một mục đích duy nhất, đó là huấn luyện được ngày càng nhiều đặc công có thể thực thi nhiệm vụ xâm nhập vào Trung Quốc.

Điều khiến Branch phấn khởi không chỉ có những việc này, bởi vì trại tập huấn được mở rộng, tổng bộ cung cấp thêm kinh phí cho căn cứ, nhân viên được bố trí tăng hẳn lên, hơn nữa còn tăng cường cho cả một chiếc máy bay trực thăng. Thế nhưng, điều duy nhất khiến Branch không hài lòng là ở chỗ, chiếc trực thăng này chính là chiếc Mi 8 già cỗi đã đón họ lúc đến đây.

Có tiền rồi, có người rồi, lại được tổng bộ ghi nhận,Branch dốc sức làm việc, bắt đầu kế hoạch huấn luyện vô cùng ráo riết và nghiêm ngặt của mình. Theo kế hoạch của anh, bất luận giá lạnh hay nắng hạn, mỗi sáng mọi người đều phải thức dậy lúc 5 giờ, chạy hai tiếng đồng hồ trên sa mạc. Branch còn đặt một cái tên rất kêu cho công cuộc chạy bộ này là: Dã chiến trên Gobi. Ăn sáng xong sẽ đến giờ luyện bắn súng, huấn luyện viên sẽ dạy cho các học viên cách sử dụng các loại súng ống. Tiếp theo đó huấn luyện viên lại hướng dẫn cho các kỹ năng đặc công chuyên nghiệp, bao gồm: nghe lén, phát lệnh, ngụy trang, tung thuốc nổ…Buổi chiều là tập huấn quật ngã đối phương. Trước bữa tối lại là buổi tập thể lực với cường độ cao. Tập huấn buổi sáng xong rồi vẫn chưa hết, buổi tối vẫn còn tập huấn tri thức văn hóa, bao gồm giảng dạy các ngôn ngữ và căn cứ vào đặc điểm của từng người để xác định một vài kiến thức chuyên ngành phù hợp.

Nhiệt huyết trong trại tập huấn ngùn ngụt ngất trời, Branch thường lấy danh nghĩa là người sáng lập nên trại tập huấn để dẫn dắt các học viên. Ví dụ, mỗi buổi sáng, khi Makarov vẫn còn đang say ngủ thì Branch đã đưa học viên đi chạy bộ trên sa mạc mênh mông. Loáng một cái đã hơn một năm trôi qua. Trong hơn một năm qua, Makarov luôn có một cảm giác mơ hồ rằng: lãnh đạo cao nhất của căn cứ này là Branch hay là mình? Hồi tưởng lại mọi chuyện xảy ra ở đây kể từ khi họ đến, Makarov bỗng cảm thấy tất cả tiến trình này hình như đều do một mình Branch làm, còn bản thân mình thôi chỉ đóng vai phụ, chỉ là chân lon ton, viết báo cáo gửi tổng bộ. Makarov khẽ thở dài, điều này cũng không thể trách Branch được, bởi vốn do năng lực của anh ta, những việc từng trải, những người từng gặp đều nhiều hơn mình, nếu như không phải vì cái gọi là lập công chuộc tội thì e rằng vị trí lãnh đạo cao nhất của căn cứ này không thể không thuộc về Branch.

Makarov lại nhớ về Leningrad, nhớ người vợ dịu dàng, đã gần hai năm rồi, cô ấy hiện giờ thế nào nhỉ? Để bảo mật, trong khu căn cứ này, ngoài việc liên lạc với tổng bộ ra thì đều bị cấm liên lạc với thế giới bên ngoài. Lần gần nhất Makarov nghe thấy giọng vợ qua điện thoại cũng là nửa năm trước, lúc tới thực thi nhiệm vụ tại Irkutsk phải lén gọi điện cho vợ, sau đó thì anh cũng không còn nhận được tin tức gi của vợ nữa.

4

Makarov không biết bao lâu nữa mới được rời khỏi sa mạc hoang vu này trở về. Một hôm, tổng bộ đột nhiên phái tới một vị đại tá, đây là lần đầu tiên căn cứ có cấp trên đến thị sát. Vị đại tá vốn quen ngồi văn phòng trong tổng bộ này rõ ràng là khó mà thích nghi được với thời tiết khắc nghiệt ở đây, nên vội vàng thị sát căn cứ một lượt, cũng không triệu tập hết tất cả mọi người đến, mà đã tới thẳng trước mặt Makarov, Branch cùng vài cấp trên khác và bắt đầu thực thi sứ mệnh của hai của ông ta: tuyên bố lệnh khen thưởng, khen thưởng tất cả những nhân viên có công, đồng thời thăng chức cho Makarov lên trung tá.

Trước việc bất ngờ được thăng chức, Makarov cảm thấy có chút lúng túng. Bản thân mình được thăng chức nhanh hơn rất nhiều so với những đồng nghiệp khác, trước đây là do sự ưu ái của Shelepin, còn bây giờ thì sao? Là bởi vì... bởi vì năng lực của chính mình? Makarov tiễn vị đại tá trong nỗi hoài nghi. Trước khi biết tin mình được thăng chức trung tá, anh đang định hỏi vị đại tá là bao giờ mình được điều đi, nhưng cái quân hàm trung tá này đã khiến anh phải nuốt lại câu hỏi mà mình đã chuẩn bị xong xuôi.

Sau khi đại tá đi, Makarov bỗng nhiên nhớ ra một chuyện, hình như tất cả mọi người đều được lĩnh thưởng, bản thân mình còn được thăng chức trung tá, nhưng Branch thì sao? Không những không được thăng chức, không nằm trong danh sách khen thưởng, mà thậm chí còn không ai nhắc tới anh ấy. Vậy là thế nào?

Anh an ủi Branch: “Có lẽ lệnh thăng chức của anh sẽ đến nhanh thôi!”

Branch cười đau khổ lắc đầu: “Tôi không tham vọng được thăng chức, tôi đã là thượng tá rồi, nếu thăng chức tiếp, lẽ nào lại cho tôi làm đại tá? Khà khà!”

“Nhưng trong lệnh khen thưởng cũng nên nhắc tới anh chứ nhỉ?” - Makarov thật sự cảm thấy bất công cho Branch.

Branch không trả lời câu hỏi của Makarov, anh nằm trên giường, nhìn chằm chằm lên mái nhà, im lặng không nói...

Makarov tưởng rằng Branch không được khen thưởng sẽ không còn tích cực như trước, nhưng anh đã sai. Buổi sáng hôm sau, khi trời vẫn chưa sáng, màn đêm vẫn bao trùm sa mạc Gobi, chỉ có hai chiếc đèn cao áp của căn cứ vẫn còn sáng chói mắt thì dưới ánh đèn cao áp là một bóng người sừng sững, là Branch. Cùng với tiếng huýt còi của anh, tất cả học viên trong căn cứ đều tập họp đầy đủ rồi ngay sau đó, Branch dẫn các học viên bắt đầu luyện tập trên sa mạc.

Makarov ngạc nhiên đến sững sờ, anh không thể không khâm phục ý chí của Branch. Ngày hôm nay, anh cũng gia nhập vào đội ngũ “Dã chiến trên Gobi” của anh ấy.

Kế hoạch huấn luyện ma quỷ của Branch vô cùng tàn khốc, rất nhiều học viên sau đó đều bị đào thải thảm hại. Những học viên bị đào thải đều có kết cục bi thảm.

Theo như những gì Branch nói, thì đó gọi là: “Từ đâu tới thì quay trở về đó”. Những người tự nguyện đến ghi tên chiêu mộ thì còn khá hơn một chút, thảm nhất là những người vượt biên bất hợp pháp, kết cục của họ chỉ có duy nhất một là bị bắt giam trở lại.

Tất cả mọi người đều biết rõ kết cục này, bởi vậy những người vượt biên rất dốc sức luyện tập, còn những người tự nguyện ghi tên thì đa số đều bị đào thải. Căn cứ đã tiễn biệt vài tốp học viên tình nguyện ghi tên, còn hiện tại trong căn cứ vẫn còn 12 người vượt biên trái phép bị đào thải ở lại, vẫn chưa được đưa đi. Chờ đợi họ sẽ là kết cục tàn khốc, nên Makarov động lòng thương, vẫn muốn cho họ thêm một cơ hội.

Branch sau khi duyệt qua hồ sơ liên quan, nói với Makarov: “12 người vượt biên trái phép bị đào thải, nếu vẫn tiếp tục ở lại căn cứ sẽ rất nguy hiểm. Tuy họ bị đào thải nhưng dù gì cũng đã từng được huấn luyện qua, có phần nào năng lực quân sự, nếu họ cấu kết với những học viên khác thì hậu quả sẽ khôn lường đấy.”

Makarov cúi đầu im lặng, mãi một lúc sau mới ngẩng đầu lên hỏi Branch: “Vậy anh cho rằng nên xử lý họ thế nào đây?”

“Đến từ đâu thì quay trở lại đó. Đây là nguyên tắc của chúng ta từ trước tới nay.” - Branch trả lời nhẹ tênh. “Ý anh là giam họ vào nhà lao?”

“Đúng vậy. Trong số những người này, có những người vốn được chúng ta chọn từ trong nhà giam ra, còn một vài người vượt biên bất hợp pháp đáng nhẽ cũng phải ngồi tù.”

“Nhưng anh đã bao giờ nghĩ cho tương lai của họ chưa? Sau khi họ quay trở vào đó thì sẽ thế nào?”

“Đây không phải là việc tôi cần phải nghĩ. Tôi chỉ biết rằng họ đã bị đào thải, nếu họ còn tiếp tục ở trong căn cứ thì sẽ là nhân tố bất ổn định và là gánh nặng của căn cứ mà thôi!” - Branch lạnh lùng trả lời.

Makarov bất lực lắc đầu, anh cũng không còn cách nào khác, đành phải hỏi ý kiến tổng bộ. Rất nhanh, mệnh lệnh của tổng bộ đã tới: cử những sỹ quan có năng lực và đáng tin cậy áp giải 12 người này tới Irkutsk.

5

Chiếc trực thăng Mi 8 cũ kĩ cứ trên sa mạc bên ngoài căn cứ, 12 người bị đào thải lần lượt bị trói tay, áp giải lên máy bay. Để đề phòng bất trắc, Branch quyết đinh chuyến đi này do anh đích thân áp giải. Makarov vốn định đích thân áp giải, nhưng thấy thái độ Branch kiên quyết nên không nói thêm nữa. Hai người lặng lẽ bước tới dưới trực thăng, bắt tay từ biệt, Makarov bỗng thấy hơi thương Branch. Người đàn ông này vốn dĩ đã cao gầy, vậy mà hai năm sinh sống gian khổ trên sa mạc khiến anh còn gầy hơn.

Makarov cuối cùng đã buông tay Branch ra. Lúc này anh vẫn không biết rằng, lần từ biệt này lại là lần vĩnh biệt của hai người. Bởi vì sau khi khởi hành được năm phút, trong cuối tầm mắt của Makarov, một quả cầu lửa khổng lồ bỗng xuất hiện trên sa mạc, ngay sau đó là một tiếng nổ lớn. Tiếng nổ này khiến cả sa mạc cũng rung chuyển theo, chiếc trực thăng Mi 8 chở Branch và 12 người bị đào thải đã rơi xuống nơi thẳm sâu trong sa mạc.

Lửa bốc đỏ rực cả bầu trời. Tất cả mọi người trong căn cứ đều tròn mắt kinh ngạc. Makarov sững sờ đứng nguyên một chỗ hồi lâu mới kịp có phản xạ: mau chóng cứu người. Anh lo lắng nhìn những học viên trong căn cứ đang nhốn nháo bất an, trong lòng nhanh chóng loại ra nhóm người này. Anh vẫn không yên tâm về họ, nên lại lệnh, ột sỹ quan ở lại canh gác, phụ trách an ninh căn cứ, sau đó còn lệnh cho thượng úy tập hợp hơn chục người mang theo công cụ cứu hỏa cùng mình tới nơi máy bay rơi.

Khi chiếc xe Jeep chở họ chuẩn bị lao ra khỏi căn cứ, thì đột nhiên có một người lao ra từ trong đám người nhốn nháo đó, chặn đứng trước đầu xe. Makarov chăm chú nhìn, người này chính là Lý Quốc Văn. Trước đó, trong trại huấn luyện, Lý Quốc Văn luôn biểu hiện tốt, đứng đầu tất cả các hạng mục sát hạch, hơn nữa lại phục tùng mệnh lệnh, chưa từng có hành vi cãi lời huấn luyện viên. Nhưng lúc này đây, anh ta nhảy ra, không biết định làm gì. Makarov tức tối hét lên: “Cậu làm trò gì thế hả?” “Xin hãy đưa tôi đi cùng!” - Ánh mắt Lý Quốc Văn toát lên sự kiên định, nhìn thẳng Makarov không rời mắt.

Trong đầu Makarov nhanh chóng phán đoán xem Lý Quốc Văn định làm gì. Có lẽ cậu ta muốn gặp mặt lần cuối người đã thay đổi cuộc đời mình, tuy người đó phần lớn chắc là đã chết rồi. Nghĩ tới đây, Makarov gật đầu. Lý Quốc Văn lập tức nhảy lên một chiếc xe Jeep khác, đội xe lúc này mới tức tốc lên đường.

Hai chiếc xe Jeep lao như bay trên sa mạc, nhưng rõ ràng vị trí chiếc trực thăng rơi xa hơn nhiều so với tưởng tượng của họ, nên phải mất gần 20 phút, sau khi vượt qua một ngọn núi đá dăm không cao lắm, họ mới phát hiện ra xác chiếc trực thăng Mi 8 trên sa mạc.

Ngọn lửa trên xác chiếc máy bay trực thăng đã dần dần tàn lụi, Makarov vừa dùng bình xịt cứu hỏa dập tắt những đám lừa còn sót lại, vừa kiểm tra tình hình của xác máy bay. Mùi khét và khói đặc xộc vào mũi vào họng, xộc thẳng lên tận khoang mũi của Makarov, trong làn khói đó còn kèm theo rất nhiều khí độc hại, nên anh vội vàng đeo mặt nạ chống độc lên.

Từng xác người bị cháy xém biến dạng được khiêng ra, thượng úy báo cáo: “Đã phát hiện thấy 17 thi thể, không phát hiện được ai còn sống sót.”

Đúng vậy! Dựa vào mức độ bị cháy hủy của chiếc trực thăng cho thấy, không thể còn người sống sót.

Nhưng 17 cái xác? Trên máy bay có 12 người bị đào thải, cộng thêm Branch phụ trách áp giải và 3 sỹ quan khác, thêm cả 2 viên phi công thì phải có 18 người, sao lại thiếu mất một?

Makarov nghĩ tới đây liền tiếp tục tìm kiếm trong xác máy bay. Lại thêm một thi thể bị đốt cháy biến dạng xuất hiện trước mắt anh, qua mặt nạ chống độc, Makarov nhìn từ trên xuống dưới, cẩn thận kiểm tra thi thể này. Đột nhiên, đôi mắt Makarov dừng lại, đồng tử của anh đang giãn nở cao độ, bởi anh đã nhìn thấy cảnh tượng khủng khiếp: cánh tay phải của cái xác đã bị thiêu cháy chỉ còn trơ lại xương và trên bàn tay trái dưới khung xương đó lại đang nắm chặt một khẩu súng. Makarov từ từ gỡ mặt nạ chống độc ra, cúi người xuống, cẩn thận quan sát. Đây là khẩu súng ngắn TT-33, là súng của Branch và Branch lại là người thuận tay trái. Nhìn thấy vậy, Makarov liền nhắm mắt lại, anh không nỡ nhìn thi thể của Branch như vậy. Bởi vì rõ ràng thi thể này bị thiêu rụi quá khủng khiếp, hoàn toàn không còn nhận ra được diện mạo vốn dĩ của anh ấy, nếu dùng từ mặt mũi ghê sợ để hình dung cũng không quá lời chút nào.

6

Xác của Branch được khiêng ra, tổng cộng là mười tám thi thể, tất cả đều được tìm thấy. Mười tám thi thể được xếp hàng ngang trên sa mạc, phơi bày trước mắt mọi người. Thượng úy đột nhiên ghé sát tai Makarov, khẽ báo cáo: “Lẽ nào anh không cảm thấy có chút kỳ lạ sao, tại sao thượng tá trước lúc chết lại nắm chặt súng trong tay?”

Makarov nghe thấy vậy người run bắn lên. Đúng vậy! Tại sao trước lúc chết Branch lại nắm chặt khẩu súng như vậy? Trong đầu Makarov lập tức nghĩ tới, lẽ nào trên máy bay đã xảy ra xung đột? Anh kiểm tra kĩ lại thi thể lần nữa, nhất là 12 người bị đào thải. Đây là một cảnh tượng kinh hoàng, 12 thi thể bị cháy xém vẫn giữ nguyên tư thế bị trói, trong giây phút cuối cùng của cuộc đời, họ cũng không được tự do. Mười hai người này vẫn bị trói như vậy thì sao có thể xảy ra xung đột trên máy bay được? Hơn nữa, trên người tất cả các thi thể đều không phát hiện thấy đạn, điều đó cho thấy không hề xảy ra nổ súng.

Makarov kiểm tra xong tất cả thi thể liền đứng dậy, khẽ hỏi lại thượng úy: “Cậu cảm thấy 12 phạm nhân bị trói này có khả năng phản kháng không?”

Thượng úy lắc đầu, đáp: “Thượng tá nắm chặt súng chỉ có thể giải thích rằng: sau khi máy bay xảy ra sự cố, để đề phòng, thượng tá đã rút súng ra còn thực tế vốn không xảy ra bất cứ xung đột nào.”

“Điều này hoàn toàn phù hợp với thói quen của thượng tá, cũng chỉ có thể giải thích vậy thôi. Nếu cần kiểm tra toàn diện hơn thì hãy mời các chuyên gia đến!” - Makarov nói.

Makarov nói xong, quay lại liếc thấy Lý Quốc Văn.

Sau khi đến hiện trường, Lý Quốc Văn im lặng không nói năng gì, lúc này, anh ta đang nhoài người bên thi thể của Branch, tỉ mỉ quan sát. Makarov hỏi Lý Quốc Văn:

“Cậu có ý kiến gì không?” - Makarov biết rằng với tố chất bẩm sinh, cộng thêm hơn hai năm được huấn luyện, anh ta đã là một đặc công đúng nghĩa, thậm chí có thể nói là xuất sắc.

Nhưng khi Lý Quốc Văn xem xét hiện trường xong, chỉ lạnh lùng trả lời: “Hãy cứ đợi chuyên gia ở trên đến, chúng ta chỉ cần làm tốt những việc của chúng ta là được rồi.”

Ba ngày sau, một nhóm chuyên gia từ tổng bộ Matxcơva đến căn cứ Tiền Tiến, họ cũng không thích nghi được với môi trường khắc nghiệt ở đây, nên các chuyên gia nhanh chóng kết luận cuộc điều tra. Kết luận của họ hoàn toàn trùng với quan điểm của Makarov, sau khi trực thăng cất cánh, không hề xảy ra xung đột. Máy bay trực thăng rơi chủ yếu là do động cơ máy bay hút vào lượng lớn cát bụi, đá sỏi dẫn đến xảy ra sự cố.

Makarov đã viết xong báo cáo rồi gửi cho tổng bộ gần như cùng lúc với nhóm chuyên gia. Tổng bộ nhanh chóng cử một trung tá tên là Pavel thay thế vị trí của Branch. Ở căn cứ Tiền Tiến gần như mọi thứ đã trở lại bình thường, cuộc sống của Makarov cũng trở lại bình thường, ngày ngày anh ngồi trong căn buồng lợp mái tôn chờ đợi tờ giấy thông lệnh đó.

Nửa năm sau, tờ thông lệnh đó rút cuộc cũng đã tới. Đã ba năm tròn, cuối cùng Makarov cững được rời khỏi đây, anh không hề tỏ ra phấn khởi. Sau khi bàn giao công việc cho trung tá Pavel đó, anh bình thản đáp chuyến bay về Maxcơva, kết thúc chuyến đi tới Mông cổ vốn chẳng chút vui vẻ gì.



Kết thúc những hồi ức về chuyến đi tới Mông cổ, Makarov nhìn ra ngoài cửa sổ, ngoài đó mặt trời buổi sớm đã lên, ánh nắng rạng ngời, họ đã tới biên giới rồi, cuộc đời ông lại lần nữa đến với phương Đông. Makarov điều chỉnh lại tâm trạng, xua tan những âm u bao trùm trong lòng mấy ngày nay, ông hy vọng chuyến đi tới phương Đông lần này mọi chuyện sẽ đều thuận lợi.
 

hoahongden12

Active Member

Đêm qua, một mình tôi ở đây tiếp tục khảm nghiệmbộ hài côt này, kêt quả, tôi đã cỏ được một kêt luận mà Mạ chỉnh bản thăn cũng không thể ngờ tới. Phần thân của bộ hài cốt này đúng như những gì hôm qua tôi nói với các bạn, khoảng độ trên dưới 40 tuổi, còn chiếc xương sọ này tuổi tác khám nghiệm ra lại chỉ khoảng trên dưới 30 tuổi, chênh lệch từ 8 đến 10 tuổi...

1

Một giảng đường có thể chứa hơn hai trăm người, giáo sư Trần Tử Kiến đang giảng bài cho sinh viên của ông trên bục giảng. Đường Phong và Hàn Giang tiến vào từ cửa sau giảng đường, hai người không muốn làm phiền giáo sư Trần khi ông đang giảng bài, nên đã rón rén khẽ khàng tìm hai chỗ trống tại hàng ghế cuối cùng rồi ngồi xuống.

Giáo sư Trần Tử Kiến là nhà nhân loại học nổi tiếng trong nước, bởi ông có những kiến giải độc đáo về con người thời cổ đại. Giáo sư Trần Tử Kiến đứng trên bục giảng đeo cặp kính màu xanh không gọng, mặc lê, đi giày da, tuổi tác chắc không tới 50 tuổi. Ông giảng bài trôi chảy lưu loát, thần thái đĩnh đạc.

Mười lăm phút sau, giáo sư Trần Tử Kiến đã kết thúc sớm bài giảng của mình. Đợi học sinh rời khỏi giảng đường, giáo sư Trần mới thu dọn tài liệu, bước về phía Đường Phong và Hàn Giang. Chưa kịp đợi Hàn Giang cất lời, giáo sư Trần đã nói trước: “Bưu kiện mà cậu nhờ người ta gửi từ Saint Petersburg về tôi đã nhận được rồi!”

“Vậy thì phải làm phiền thầy rồi!” - Hàn Giang vội vàng nhờ vả.

Giáo sư Trần tựa vào cạnh một chiếc bàn học, nhìn Hàn Giang, rồi lại nhìn Đường Phong bên cạnh. Hàn Giang vội vàng giới thiệu Đường Phong với giáo sư Trần và nói: “Những vấn đề liên quan tới lai lịch và phương diện lịch sử thầy có thể hỏi cậu ấy.”

“Vậy được, hiện giờ tôi có vài câu hỏi.” - Giáo sư Trần hỏi thẳng Đường Phong: “Theo như những gì các cậu nói thì bộ hài cốt này là từ thời Tây Hạ?”

“Đúng! Chúng tôi cho rằng là từ thời đầu Tây Hạ.” - Đường Phong nói.

“Không sai, sau khi nhận được bộ hài cốt này, tôi đã làm trắc nghiệm về tuổi xương, chứng thực bộ hài cốt này quả thật là của thể kỷ thứ XI, nói chính xác hơn một chút thì là giữa thế kỷ XI, phù hợp với thời kỳ đầu Tây Hạ mà cậu nói. Ngoài ra, chúng tôi cũng đã tiến hành phán định nhân chủng học đối với bộ xương này, giống như phán đoán của chuyên gia người Nga trước đây, chủ nhân của bộ hài cốt này thuộc nhân chủng Tây Tạng - Aryan - Mông cổ trên dưới 40 tuổi.”

“Chỉ có vậy thôi sao?” - Đường Phong không khỏi thất vọng hỏi lại.

Giáo sư Trần nhìn vào Đường Phong, nói thẳng: “Đây chỉ là kết quả kiểm nghiệm bước đầu, báo cáo cụ thể phải đợi vài ngày nữa. Đương nhiên, các cậu cũng đừng hy vọng tôi sẽ nói cho các cậu biết chủ nhân đích xác của bộ hài cốt này là ai, tôi không có tài cán lớn đến vậy đâu.”

Nói xong, giáo sư Trần liền bỏ ra ngoài giảng đường. Đường Phong và Hàn Giang vội vàng đi theo.

Khi bước tới cửa giảng đường, giáo sư Trần lại quay lại nói với hai người: “Thế này nhé, báo cáo xét nghiệm cụ thể mấy hôm nữa tôi sẽ đưa cho các cậu, còn nữa... bộ hài cốt đó để lại chỗ tôi thêm một thời gian nữa, cậu không ý kiến gì chứ?”

“Đương nhiên không ý kiến, nhưng... nhưng thầy nhất định phải cẩn thận, ngộ nhỡ.. - Đường Phong do dự nhìn giáo sư Trần, dáng vẻ rụt rè như có điều muốn nói.

“Cẩn thận gì vậy?” - Giáo sư Trần không hiểu ý Đường Phong, lên giọng hỏi.

“Cẩn thận ngộ nhỡ làm mất nó!”

“Làm mất nó?”- Giáo sư Trần chau mày, “Sao tôi lại có thể làm mất nó chứ! Nếu cậu không yên tâm thì có thể tìm người khác!”

Rõ ràng giáo sư Trần đã hiểu lầm ý Đường Phong, anh vội vàng giải thích: “Không phải tôi không yên tâm thầy, ý tôi là bộ hài cốt này rất quan trọng, có thể là người khác cũng hứng thú với nó.”

“Ồ! Lần đầu tiên tôi nghe thấy vậy đấy, ai cần bộ hài cốt này để làm gì nhỉ? Được rồi, tôi hiểu ý cậu, tôi sẽ cẩn thận, tôi sẽ để nó trong két sắt, nói xong, Trần Tử Kiến bỏ mặc Đường Phong, tiến thẳng ra khỏi giảng đường.

Đường Phong nhìn theo bóng dáng của Trần Tử Kiến, rồi đến cạnh Hàn Giang, nói: “Người này thật khó giao lưu.”

“Chẳng sao đâu, người này tốt tính chỉ có điều tính khí hơi ngang ngạnh chút thôi, những người có tài đều như vậy cả.”

“Những người có tài đều như vậy? Giáo sư La có giống như vậy đâu!”

“Giáo sư La?” - Hàn Giang nghe Đường Phong nhắc đến giáo sư La liền lập tức quay lại hỏi Đường Phong: “Đường Phong, phía cậu và giáo sư La cũng phải cẩn thận đó.”

2

Khi Đường Phong và Hàn Giang quay trở về Tổng bộ thì Triệu Vĩnh cũng vừa từ Hồng Kông về. Hàn Giang vừa trông thấy Triệu Vĩnh liền bực mình hỏi anh: “Sao giờ cậu mới về vậy?”

“Hây dà! Đừng nhắc đến nữa, tôi và Lương Viện đến Hồng Kông, kết quả Lương Dũng Tuyền không có nhà, đợi cả một tuần ông ấy mới từ nước ngoài về.”

Hàn Giang hạ giọng xuống một chút, lại hỏi Triệu Vĩnh: “Cậu đã hỏi Lương Dũng Tuyền chưa?”

“Theo lời dặn của anh, tôi đã hỏi những gì cần hỏi rồi, đồng thời theo như anh gợi ý, tôi đã gắn một một chiếc camera nhỏ lên cổ áo để ghi âm lại những gì tôi hỏi Lương Dũng Tuyền.”

“Tốt, làm rất tốt!”

Chẳng mấy chốc trên màn hình máy tính đã hiện lên hình ảnh của Lương Dũng Tuyền, Đường Phong nhận ra đây chính là phòng đọc sách của Lương Dũng Tuyền...

Sau khi vừa ngồi xuống, chưa kịp đợi Triệu Vĩnh mở miệng ông ta đã cảm ơn trước: “Cám ơn các cậu đã bảo vệ con gái tôi, nó rất ngang ngạnh, tôi cũng hết cách với nó, suốt ngày điên điên khùng khùng. Hồi học bên Mỹ, nó thích đi lung tung khắp nơi trên thế giới, giờ lại mọc ra cái cậu Đường Phong đó càng làm nó không thích ở nhà.”

“Đó đều là những việc chúng tôi phải làm, chúng tôi cũng phải cảm ơn ông đã cho chúng tôi mượn kệ tranh ngọc!” - Triệu Vĩnh nói.

Lương Dũng Tuyền bật cười: “Cái thứ đó tặng các cậu luôn, tôi cũng không quan tâm.”

“Tại sao?”

“Bởi đó là thứ rước họa vào thân, để ở chỗ tôi làm đêm tôi mất cả ngủ.”

“Ồ! Đến nỗi thế sao? Hình như ông đã biết chuyện gì đó?”

Lương Dũng Tuyền nghiêm mặt lại: “Cái này rành rành ra đấy, cha tôi chết trên cái kệ tranh ngọc đó. Ngoài ra, các cậu cũng đừng cho rằng cái gì tôi cũng không biết, tuy Lương Viện chẳng kể gì mấy với tôi, nhưng tôi cũng nghe ngóng thấy chuyến đi vừa rồi không phải các cậu thập tử nhất sinh sao?”

“Ông còn biết những gì?”

“Nói thẳng ra nhé, tôi biết đám người đó kiên quyết không tha, không chỉ vì muốn đoạt được kệ tranh ngọc, mà còn vì bí mật đằng sau kệ tranh ngọc đó. Tôi nói có đúng không?”

Triệu Vĩnh ngạc nhiên, nhưng nghĩ đến Lương Viện thì việc Lương Dũng Tuyền biết những điều này cũng không có gì lạ, ông ấy còn biết những gì? Triệu Vĩnh lại tiếp tục hỏi: “Ông còn biết những gì? Theo tôi, tốt nhất là nói hết ra còn hơn.”

“Về cơ bản thì hiện giờ tôi chỉ biết ngần ấy, có khi còn không biết nhiều bằng Lương Viện”

“Chỉ biết có ngần ấy, lẽ nào ông không hứng thú với bí mật đằng sau kệ tranh ngọc sao?”

“Không, tôi không muốn biết, tôi cũng hy vọng Lương Viện không biết những thứ đó. Hiện giờ chúng tôi đang sống rất tốt, tại sao lại phải đụng đến những điều thị phi đó?”

“Nhưng ông không muốn báo thù cho cha ông sao? Điều này không giống với phong cách của ông trên thương trường.” - Triệu Vĩnh gạn hỏi.

Lương Dũng Tuyền trầm ngâm hồi lâu rồi nói:

“Hiện giờ tôi mới hiểu ra, chỉ vì muốn bóc gỡ bí mật đằng sau kệ tranh ngọc nên cha tôi mới bị hại, tôi còn biết chuyện cha tôi năm đó tham gia đội thám hiểm Trung - Liên. Báo thù thì đương nhiên là muốn, nhưng đám người đó đến các cậu cũng không tóm được thì tôi biết làm thế nào? Tóm lại gốc rễ gia đình tôi thế nào, năng lực của gia đình tôi thế nào các cậu rõ, trong lòng tôi còn rõ hơn. Lấy trứng chọi đá tôi sẽ không làm đâu, điều này mới phù hợp với tính cách của tôi.”

“Ông quả là một thương nhân tinh tường!” - Giọng điệu Triệu Vĩnh ôn hòa hơn một chút, “Được rồi, chúng ta không nói đến kệ tranh ngọc nữa, tôi còn vài câu hỏi muốn thỉnh giáo ông, chủ yếu là hỏi ông về mấy người.”

“Xin cứ hỏi!”

“Ông có quen biết Tề Ninh không?”

Lương Dũng Tuyền ngẫm nghĩ một lúc, nói:

“Không quen, nhưng hình như đã từng nghe thấy cái tên này ở đâu đó.”

“Ông có quen Vương Khải không?”

“Không quen, chưa từng nghe thấy người này.”

“Vậy ông có quen một người Nga tên là Tymoshenko không?”

“Công ty chúng tôi có chi nhánh ở Nga, nhưng ở đó đều do nhân viên làm, tôi rất ít khi giao lưu với người Nga, càng không quen cái người Tymo... gì gì đó.”

“Makarov thì sao? Cũng là một người Nga?” Lương Dũng Tuyền lắc lắc đầu, Triệu Vĩnh vội vàng bổ sung thêm: “Cha ông quen người này.”

“Cha tôi? Những người cha tôi quen không đồng nghĩa với việc tôi cũng quen!”

“Vậy giáo sư La Trung Bình thì sao? Cha ông và ông ấy hình như rất thân nhau!”

“Ừm, giáo sư La là bạn cũ của cha tôi. Nhưng tôi không thân với ông, chỉ mới gặp có một lần mà thôi.” Nói tới đây, Triệu Vĩnh đã tắt ngóm hy vọng có thể hỏi ra manh mối giá trị nào từ Lương Dũng Tuyền, anh khẽ thở dài, rút cuộc hỏi thêm một câu hỏi cuối cùng.

3

“Vậy ông đã từng nghe thấy một người Mỹ gốc Hoa tên là Stephen chưa?” - Triệu Vĩnh lại hỏi thêm câu hỏi này.

“Anh ta họ Mã phải không?” - Lương Dũng Tuyền đột nhiên hỏi lại.

Mắt Triệu Vĩnh bỗng sáng lên, anh nói: “Đúng, anh ta họ Mã.”

Lương Dũng Tuyền đổ người tựa vào ghế, mắt không nhìn Triệu Vĩnh, hình như đang nhìn lên trần nhà, ông thở dài: “Cái gã này, hiện giờ tôi đang nghi ngờ người giết hại cha tôi chính là hắn, nhưng không chắc chắn.”

“Ồ! Xem ra ông cũng không đợi suông, cũng đã điều tra hung thủ giết hại cha minh!”

“Cũng không hẳn là điều tra, tôi và cha từ trước đến nay đều là công dân tuân thủ pháp luật, trước đây tôi vốn không hề quen biết cái gã Stephen đó. Nhưng cha tôi đã từng nghe người khác nhắc đến Stephen, họ nói rằng chẳng hiểu cái gã này tài giỏi thế nào mà trong tay có một đống người, chuyên buôn lậu văn vật và tác phẩm nghệ thuật quý bị ăn cắp... Rất nhiều thứ đều từ tay hắn mà ra, nhưng cha tôi chỉ là nghe kể và không hề giao lưu với hắn. Sau khi cha tôi vì kệ tranh ngọc đó mà xảy ra chuyện, tôi vốn không hề nghi ngờ Stephen, nếu không thì lúc đó tôi đã nhắc nhở các cậu. Thế nhưng sau đó Đường Phong và Lương Viện bị tập kích, vệ sỹ Hoàng Đại Hổ của tôi bị người ta bắn chết, nên tôi không thể không âm thầm điều tra, kết luận có được chỉ hướng về cái gã tên là Stephen đó. Tôi đã báo với cảnh sát Hồng Kông về kết luận của mình, nhưng không có tiến triển.

Cảnh sát nói rằng bọn người này sau đó không hoạt động tại Hồng Kông nữa; họ nghi ngờ bọn chúng đã bị tấn công mạnh nên rất có khả năng đã rút lui rồi. Chỉ có vậy thôi, còn về Stephen tôi chỉ biết có vậy.”

Triệu Vĩnh không ngờ Lương Dũng Tuyền lại biết tương đối nhiều về Stephen như vậy, anh gật gù: “Những gì ông nói về cơ bản đều khớp với tình hình mà chúng tôi nắm được. Nhưng gã Stephen đó không phải do bị tấn công tại Hồng Kông mà bặt vô âm tín, bởi chúng luôn là kẻ thù lớn nhất của chúng tôi.”

“Ồ, vậy… vậy thì kỳ lạ thật, tên Stephen đó sao lại mạnh đến vậy nhỉ? Theo lẽ thường thì với thực lực của hắn, đừng nói đến gây sự với các cậu, mà chỉ với tôi thôi hắn cũng phải cân nhắc. Sau khi tôi bắt đầu nghi ngờ tên Stephen đó thì không biết thế nào mà lần. Lương gia chúng tôi và bọn chúng gần đây không thù oán, trước đây cũng không hận thù, lại chưa từng quen biết nhau, tại sao hắn lại trở thành kẻ thù của chúng tôi? Lẽ nào là bởi vì kệ tranh ngọc đó? Hình như không đến mức thế đâu!” “Stephen không đến mức gây hấn với Lương gia các ông, nhưng bàn tay phía sau hắn lại không sợ Lương gia đâu.”

“Hả... ý cậu là Stephen không phải là chủ mưu?” - Lương Dũng Tuyền đầy vẻ kinh ngạc.

Triệu Vĩnh khẽ gật đầu, nói tiếp: “về cái chết của Lương lão tiên sinh cũng không chỉ vì mỗi kệ tranh ngọc, mà là bởi vi ông đã biết quá nhiều. ít nhất ông cũng là người may mắn sống sót của đội thám hiểm Liên - Trung năm đó, hơn nữa, ông còn nghiên cứu kệ tranh ngọc một thời gian dài.”

Lương Dũng Tuyền tỏ ra đăm chiêu, gật gù: “Tôi hiểu rồi, đằng sau Stephen còn có kẻ quan trọng hơn, bởi vậy bọn chúng mới mạnh đến vậy. Nhưng phía sau Stephen là ai?”

“Đây cũng là điều mà chúng tôi muốn biết, nếu ông lại nhớ ra điều gì đó thì có thể trực tiếp liên lạc với chúng tôi. Hãy nhớ đừng tìm cảnh sát Hồng Kông hoặc người khác, cũng đừng tự mình điều tra.”

“Được, tôi hiểu rồi!”

Triệu Vĩnh gần như đã hỏi hết những câu hỏi mà Hàn Giang giao phó, anh nhìn đồng hồ rồi đứng dậy nói: “Hôm nay mất không ít thời gian của ông, mong lượng thứ, cảm ơn sự hợp tác của ông.”

“Việc này nên làm. cũng hy vọng, các cậu sớm bắt được hung thủ giết hại cha tôi!” - Lương Dũng Tuyền cũng đứng dậy, bắt tay Triệu Vĩnh. Lúc này, Triệu Vĩnh giống như nhớ ra điều gì đó, lại nói với Lương Dũng Tuyền: “Đúng rồi, có một việc xém chút nữa là quên mất, trước khi đến, Dường Phong đặc biệt dặn tôi hỏi mượn ông một thứ.”

“Ồ, tiểu tử đó hỏi mượn tôi gì vậy?”

“Cậu ấy nói lần trước đến đây có thấy một cuốn sách, một cuốn sách cũ, là ‘Tứ bình ám sự’ của Robert Hans Van Gulik.”

“Sao. cậu ấy hứng thú với cuốn sách đó ư? Đây là cuốn sách mà trước đây cha tôi từng đọc, nếu cậu ấy thích thì cậu mang về cho cậu ấy.” - Nói xong, Lương Dũng Tuyền bước tới trước giá sách, lấy cuốn “Tứ bình ám sự” trên dó xuống, đưa cho Triệu Vĩnh. Triệu Vĩnh đón lấy, lật giở vài trang rồi gập sách lại, nói: “Đúng, chính là cuốn này.”

Nói xong, Triệu Vĩnh liền cáo từ ra về.



4

“Tôi đâu có bảo cậu mượn Lương Dũng Tuyền sách gì đâu!” - Đường Phong xem xong đoạn hình ảnh hét lên với Triêu Vĩnh.

"Là tôi bảo cậu ấy mượn Lương Dũng Tuyền dấy!” - Hàn Giang trả lời thay Triệu Vĩnh.

“Tại sao?’"

“Lần trước không phải cậu rất tò mò về cuốn sách đó sao? Tôi giúp cậu mượn đấy!" - Hàn Giang nói xong nhìn Triệu Vĩnh, Triệu Vĩnh liền vội vàng lấy cuốn sách "Tứ bình ám sự" đã ngả vàng đỏ ra.

Đường Phong đón lấy cuốn sách, lật lật, nói: "‘Cuốn sách này sao vậy?”

“Cái này thì phải hỏi cậu, lúc đó cậu từ Hồng Kông về đã nói với tôi rằng, trong phòng sách của Lươna gia không có cuốn tiểu thuyết nào khác, chỉ có cuốn: ‘Tứ binh ám sự" của Robert Hans Van Gulik này, lúc đó cậu còn cảm thấy kỳ lạ.” - Hàn Giang nói.

“Nhìn từ thời gian cuốn sách này xuất bản và độ cũ kĩ cùa nó đã cho thấy, chắc là Lương Vân Kiệt trước đây đã từng thường xuyên đọc nó. Ban nãy Lương Dũng Tuyền cũng nói là cha ông ấy đọc, điều này có chút kỳ lạ. Nhưns hiện giờ cũng dễ hiểu, tứ bình sơn? Tứ bình phiến? Cuốn sách này cho thấy Lương Vân Kiệt đã biết từ lâu rằng kệ tranh ngọc có bốn bức, ngoài ra thực sự không thấy có ý gì khác.”

Hàn Giang nhìn trang giấy vàng ố trước mặt, lắc đầu, nói: "Quả thật không nhìn ra điều gì, có lẽ là do tôi đa nghi quá!”

“Anh vẫn nghi ngờ Lương gia có vấn đề?” - Đường Phong hỏi.

Hàn Giang gâp cuốn “Tứ bình ám sự” lại, thở dài: “Lương gia đương nhiên là đối tượng nghi ngờ của tôi, bởi dù sao họ cũng rất hứng thú với kệ tranh ngọc, Lương Vân Kiệt còn vì nó mà chết. Tôi đồng ý cho Lương Viện gia nhập với chúng ta cũng là để thử thăm dò Lương Dũng Tuyền. Nếu Lương Viện và Lương Dũng Tuyền có hành vi gì mờ ám thì cũng không thể lọt qua được mắt tôi đâu. Nhưng từ đó cho đến ngày hôm nay, ngoài những gì mà Lương Viện kể cho cha cô ban nãy ra, thì tôi cũng không phát hiện ra Lương Viện và Lương Dũng Tuyền có hành vi nào khác thường.”

Hàn Giang nói tới đây, Triệu Vĩnh lại bổ sung thêm:

“Ngoài ra, tôi cũng luôn điều tra Lương Dũng Tuyền. Lần này đến Hồng Kông, tôi cũng không đợi suông cả tuần giời, mà đã điều tra tường tận về Lương Dũng Tuyền và tập đoàn Tân Sinh. Tập đoàn Tân Sinh được thành lập từ năm 1979, ngay từ ban đầu là kinh doanh thương mại quốc tế, sau đó lại lấn sang bất động sản, mặt bằng kinh doanh và các hạng mục khác, nhưng phát triển đến ngày hôm nay, thì thương mại quốc tế và bất động sản vẫn là hai ngành nghề kinh doanh chính của tập đoàn Tân Sinh.

Từ báo cáo tài chính của tập đoàn Tân Sinh và của những công ty con đã cho thấy, tiền mặt lưu thông dồi dào, các hạng mục đều phát triển bình thường, về cơ bản là vận hành tốt. Còn nữa, tôi còn điều tra mối hệ giữa tập đoàn Tân Sinh và xã hội đen Hồng Kông, không thấy họ có bất cứ dính líu gì tới xã hội đen..”

Hàn Giang đột nhiên ngắt lời Triệu Vĩnh: “Như vậy cũng có nghĩa là Lương gia không thể là bàn tay hắc ám phía đằng sau. Thứ nhất, về tình về lý đều không phù hợp, Lương Vân Kiệt bị giết chết, Lương Viện cùng chúng ta trải qua bao sóng gió nguy hiểm, tất cả những điều này không thể do Lương Dũng Tuyền làm được? Dĩ nhiên, từ trước đến nay tôi đều không tin tình lý gì cả; trước đây, tôi đã từng gặp những tên tội phạm tội ác tày trời, chúng gây nên những vụ án thường đều không phù hợp với tình lý gì cả. Bởi vậy tôi đã để Triệu Vĩnh điều tra tường tận Lương Dũng Tuyền, điều này chứng thực cho điều thứ hai. Lương gia không có thế lực đó, cũng không liên quan gì tới xã hội đen hay tổ chức tội phạm. Tôi tin vào điều thứ hai hơn, thực lực quyết định Lương Dũng Tuyền không thể làm được những việc đó, ông ta không thể là bàn tay hắc ám phía sau.”

“Giờ thì anh đã tin Lương gia vô tội rồi chứ? Lương gia là người bị hại chứ không phải bàn tay hắc ám phía sau nào đó” - Đường Phong nói.

“Vậy cậu nói xem bàn tay hắc ám phía sau đó là ai?” “Cái này thì phải hỏi Stephen rồi. Chỉ cần tóm được hắn thì chúng ta sẽ biết được đó là ai?”

“Phí lời! Cái này thì tôi cũng biết!”

“Còn nữa, phía Yelena bên đó, KGB chắc chắn vẫn còn vấn đề, vẫn còn tình hình mà chúng ta không biết.” - Đường Phong suy đoán.

“Yelena...” - Hàn Giang lẩm bẩm gọi tên Yelena, “Mong rằng phía Yelena bên đó có tiến triển.”

5

Chiều hôm sau, khi trời sắp tối, Đường Phong và Hàn Giang ngồi trong văn phòng phân tích ngọn nguồn đầu đuôi toàn bộ sự tình. Đúng lúc hai người đang chìm trong tư duy rối bời thì điện thoại của Hàn Giang đột ngột đổ chuông, tiếng điện thoại dồn dập đã cắt ngang dòng suy nghĩ của họ. Hàn Giang nghe điện thoại, bên kia vọng lại giọng của giáo sư Trần Tử Kiến: “Hiện giờ các cậu có thể đến đây một lúc không?”

“Bây giờ sao?” - Hàn Giang nhìn ra bầu trời bên ngoài vừa mới sẩm tối lại còn đang có tuyết rơi. Trong lòng nghĩ Trần Tử Kiến giờ này tìm mình chắc chắn là đã có phát hiện gì quan trọng, vậy là, Hàn Giang lập tức nói với Trần Tử Kiến: “Được, chúng tôi đến đó ngay đây, hiện giờ thầy đang ở đâu?”

“Các cậu đến phòng thí nghiệm của tôi đi, cậu biết chỗ đó đấy, trước đây cậu đã từng đến rồi.”

“Được, tôi biết rồi, một tiếng sau gặp lại!”

Hàn Giang ngắt máy, nhìn Đường Phong: “Sao nào, đi cùng tôi chứ? Chỗ giáo sư Trần chắc chắn là có tiến triển”

“Chỗ ông ấy thì có tiến triển gì chứ? Một đống xương thôi mà!” - Đường Phong vốn không hy vọng gì bên chỗ giáo sư Trần.

“Đi rồi sẽ biết!” - Hàn Giang nói xong, cầm áo khoác bước ra khỏi văn phòng. Đường Phong tuy lắc đầu, nhưng cũng đành phải vội vàng theo sau.

Trên đường toàn là những người bước đi vội vã để kịp về nhà sau giờ làm. Đường Phong và Hàn Giang lái xe từ ngoại ô vào thành phố. Đáng lẽ chỉ cần nửa tiếng đồng hồ là tới nơi, nhưng do xe đi lúc nhanh lúc chậm, nên khi hai người tới được phòng thực nghiệm của Trần Tử Kiến thì cũng muộn mất 20 phút so với giờ hẹn, bên ngoài trời đã tối mịt.

Gần kỳ nghỉ, lại vào đúng giờ này nên cả khu giảng đường không thấy lấy một bóng người, chỉ có một ô cửa sổ trên tầng 12 là vẫn sáng đèn, Hàn Giang nhận ra đó chính là phòng thí nghiệm của giáo sư Trần. Đường Phong và Hàn Giang vội vàng lên tầng 12, từng ngọn đèn trong hành lang bật sáng theo tiếng bước chân dồn dập của hai người. Đây là tòa nhà xây đã lâu, đã có hơn 20 năm lịch sử, tuy cũng vài lần được sửa chữa nhưng vôi tường vẫn bong tróc khắp nơi. Ánh đèn đỏ soi lên những bức tường loang lổ, bóng Đường Phong và Hàn Giang chiếu lên trên tường vừa dài vừa mảnh.

Chẳng mấy chốc hai người đã tìm thấy phòng thí nghiệm sáng đèn đó, cửa phòng không khóa, khẻp hờ. Hàn Giang gõ gõ cửa, bên trong không chút động tĩnh. Anh lại gõ cửa lần nữa, nhưng bên trong vẫn không động tĩnh. Hàn Giang giật thót tim, lẽ nào giáo sư Trần không có đây? Hay là...

Trong lúc Hàn Giang đang nghĩ ngợi lung tung thì Đường Phong đã lấy tay đẩy cửa phòng thí nghiệm.

Trong phòng sáng đèn, im phăng phắc. Đường Phong bước vào phòng, thì mới phát hiện ra giáo sư Trần Tử Kiến đang chau mày, một mình ngồi thẫn thờ trên ghế, trên kệ trước mặt ông là dãy kính hiển vi và các loại bình thủy tinh đủ hình đủ dạng, và cả những dụng cụ thí nghiệm mà Đường Phong không biết tên. Đường Phong và Hàn Giang tiến lại gần giáo sư Trần, lúc đó ông mới chú ý đến sự có mặt của hai người, nên có chút giật mình nhìn Đường Phong và Hàn Giang.

Hàn Giang thấy Trần Tử Kiến không có chuyện gì liền vội vàng nói: “Xin lỗi, chúng tôi đến muộn.”

“Ồ!” - Trần Tử Kiến hình như mới nhớ ra chuyện này, vội vàng đứng lên. Ông nhìn Hàn Giang trước mặt, rồi lại nhìn Đường Phong, cặp lông mày vừa mới giãn ra giờ lại chau lại: “Là thế này, hôm qua sau khi các cậu về, tôi đã nghiên cứu mãi bộ hài cốt phụ nữ mà các cậu mang tới, và có một phát hiện vô cùng quan trọng, thậm chí có thể nói là phát hiện đáng kinh ngạc, bởi vậy mới gọi các cậu đến đây.”

“Phát hiện đáng kinh ngạc? Rốt cuộc là gì vậy?” - Đường Phong và Hàn Giang đều phấn khởi hẳn lên.

Nhưng giáo sư Trần lại không vội nói ra ngay phát hiện đáng kinh ngạc của mình, mà chậm rãi nói với Đường Phong: “Trước khi tôi nói ra phát hiện này, tôi còn vài câu hỏi muốn thỉnh giáo cậu.”

“Thỉnh giáo tôi?” - Đường Phong có phần ngạc nhiên.

“Đúng vậy, cậu có thể kể cho tôi biết về lai lịch của bộ hài cốt này không? Từ trước tới giờ các cậu chưa hề nói với tôi về lai lịch của nó.”

“Việc này...” - Đường Phong hơi ngập ngừng. Anh nhìn Hàn Giang, Hàn Giang khẽ gật đầu với anh, lúc này Đường Phong mới nói: “Được thôi! Tôi sẽ kể, bộ hài cốt này được nhà thám hiểm Kozlov người Nga phát hiện trong một ngọn tháp tại Hắc Thủy Thành vào năm 1909. Lúc ông khai quật ra thì bộ xương này ở trong một pho tượng phật rất đẹp, trong bưu kiện gửi thầy chắc là vẫn còn một phần đất đá của pho tượng phật đó sót lại phải không?”

“Đúng vậy, có các mảnh đất đá, hơi giống hình mặt người.”

“Đó chính là phần đầu pho tượng. Sau này, pho tượng phật được Kozlov đưa về Saint Petersburg. Rồi khi chuyên gia người Nga nghiên cứu bộ hài cốt trong pho tượng này, cũng đã rút ra kết luận giống hệt như lần trước thầy nói. Nhưng bộ hài cốt này đã bị thất lạc trong thế chiến thứ hai, chính xác mà nói là tạm thời mất tích. Sau đó, có người đã phát hiện ra đầu pho tượng phật để trong nhà kho của cung điện Mùa Đông, vậy là từ đó pho tượng được trưng bày tại cung điện này. Gần đây, chúng tôi vô tình bất ngờ tìm thấy một bộ hài cốt không đầu ở Saint Petersburg, còn trong đầu pho tượng lại phát hiện thấy một chiếc xương sọ nữ giới. Học giả Nga căn cứ vào một số văn vật lúc khai quật được và bộ hài cốt này, đã phán đoán, chủ nhân của bộ hài cốt trong pho tượng phật chắc là hoàng hậu của hoàng đế Nguyên Hạo sáng lập nên vương triều Tây Hạ - Một Tạng Thị.”

“Hài cốt của hoàng hậu?”

“Ừm, hài cốt của hoàng hậu Một Tạng. Văn vật khai quật được và xét nghiệm của hài cốt này đều cho thấy đây đích thị là hài cốt của hoàng hậu Một Tạng”

“Vậy thì..” - giáo sư Trần ngập ngừng, rồi bỗng nhiên, ông ngẩng đầu lên, ánh mắt nhìn thẳng Đường Phong, hỏi: “Vậy thì các cậu chắc chắn rằng xương sọ của người phụ nữ này và bộ hài cốt là của một người sao?”

“Hả... thầy nói vậy nghĩa là sao?” - Đường Phong hoàn toàn không hiểu Trần Tử Kiến hỏi như vậy là ý gì nên bỗng ngớ người ra.

6

Giáo sư Trần thấy Đường Phong không hiểu lại bổ sung thêm: “Ví dụ như xương sọ của bộ hài cốt mà Kozlov trước đây phát hiện, đã bị đổi thành xương sọ của một người khác, hoặc là phần xương của cơ thể bị tráo thành một bộ xương của người khác, có khả năng vậy không? Vì dù sao trước đó cậu cũng vừa nói rằng bộ hài cốt này đã từng bị thất lạc trong thể chiến thứ hai.”

“Sao cơ? Sao... sao lại như vậy được?!” - Đường Phong kinh ngạc, Hàn Giang cũng vô cùng ngạc nhiên.

“Là thế này nhé, đêm qua, một mình tôi ở đây tiếp tục khám nghiệm bộ hài cốt này, kết quả, tôi đã có được một kết luận mà chính bản thân tôi cũng không thể ngờ tới. Phần thân của bộ hài cốt này đúng như những gì hôm qua tôi nói với các bạn, khoảng độ trên dưới 40 tuổi, còn chiếc xương sọ này tuổi tác khám nghiệm ra lại chỉ khoảng trên dưới 30 tuổi, chênh lệch từ 8 đến 10 tuổi. Lúc đó tôi cảm thấy rất kỳ lạ, nghĩ mãi cũng không hiểu, sau đó xảy ra một chuyện còn kỳ lạ hơn, tôi ngẫm nghĩ rồi ngủ thiếp đi, trong giấc ngủ tôi đã nằm mơ.”

“Mơ?”

“Có lẽ đó không phải là mơ, hoặc có thể nói rằng chưa đến nỗi là mơ. Trong lúc mơ mơ màng màng thì tôi nghe thấy một giọng nói, một giọng phụ nữ gọi bên tai tôi, giọng nói đó lúc xa lúc gần, lúc ẩn lúc hiện, nhưng tôi vẫn nghe rõ giọng nói đó.”

“Giọng nói đó nói gì vậy?” - Đường Phong vội hỏi.

“Giọng nói đó không ngừng gào thét bên tai tôi: đừng đặt đầu của tôi lên cơ thể người phụ nữ đó, đừng đặt đầu của tôi lên cơ thể người phụ nữ đó..- Người luôn nghiêm túc như giáo sư Trần Tử Kiến, đã miêu tả lại câu nói mà ông nghe được hết sức sinh động.

“Đừng đặt đâu của tôi lên cơ thể người phụ nữ đó? Nghĩa là gì?” - Đường Phong chau mày.

“Có lẽ đó chỉ là ảo giác của tôi, từ trước tới nay tôi rất hiếm khi nằm mơ.”

“Tôi thấy cũng giống, có thể hôm qua thầy bận bịu cả ngày nên quá mệt, lại xét nghiệm thấy xương sọ và hài cốt không phải của một người nên đã mơ thấy có người phụ nữ nói vậy với mình.” - Hàn Giang nói.

“Nhưng tôi chắc chắn đã nghe thấy câu nói đó, sau đó thì tôi đã tỉnh dậy, tôi vội vàng chạy tới phòng thí nghiệm bên canh xem sao, bộ hài cốt đó đã được tôi xếp thành hình người đang nằm trên bàn. Đúng lúc tôi đang thẫn thờ nhìn nó thì lại nghe thấy giọng nói đó, chắc chắn lúc đó tôi không ngủ, nếu nói là ảo giác thì vô lý, vì sức khỏe tôi từ trước đến nay rất tốt. Giọng nói đó văng vẳng không dứt, cứ bám riết lấy tôi mãi, cuối cùng không còn cách nào khác, tôi đành phải chuyển bộ hài cốt đó sang bên cạnh, kể ra cũng kì lạ, giọng nói đó cũng biến mất luôn.”

“Sao... sao nghe giống ‘Liêu trai chí dị’ vậy?” - Đường Phong lẩm bẩm.

“Tôi không phải là người biết bịa chuyện, các cậu lại đây xem!” - Nói xong, Trần Tử Kiến dẫn Đường Phong và Hàn Giang đến phòng thí nghiệm bên cạnh. Chính giữa phòng đặt một chiếc bàn to màu xanh đậm. Không, có lẽ là màu đen, tóm lại, dưới ánh đèn trong phòng quả thực không nhìn rõ chiếc bàn đó màu gì. Trên mặt bàn rộng rãi, đúng như giáo sư Trần nói, bộ hài cốt được xếp thành hình người, chỉ có điều xương sọ đã được chuyển đến một chiếc bàn nhỏ bên cạnh.

“Đấy, trông thấy rồi chứ!” - Trần Tử Kiến chỉ chỉ bộ xương trên bàn.

“Hôm nay thầy đã nghe thấy giọng nói đó chưa?” - Đường Phong hỏi.

“Hôm nay tôi lại tiếp tục nghiên cứu bộ hài cốt này, cũng đã đặt xương sọ lên phía trên bộ xương chụp ảnh, trắc nghiệm, quan sát, nhưng không nghe thấy giọng nói đó nữa. Nhưng tôi vẫn hơi lo lắng, lúc không cần đến, tôi vẫn đặt xương sọ sang một bên.”

“Vậy ảnh đâu?” - Hàn Giang đột nhiên hỏi.

Giáo sư Trần lấy vài tấm ảnh trong ngăn kẻo ra, đưa cho Hàn Giang, nói: “Hôm nay trợ lý của tôi vừa mới rửa đấy.”

Đường Phong và Hàn Giang xem mấy tấm ảnh, chẳng có gì khác thường. Hàn Giang chau mày, hỏi lại giáo sư Trần: “Xương sọ và xương người ghép lại rất khớp nhau, với kinh nghiệm nhiều năm làm trinh thám của tôi cho thấy thì rất giống là của một người mà!”

“Tôi không phủ nhận kinh nghiệm trinh sát của cậu, nhưng khoa học là khoa học. Bộ hài cốt này xem ra rất khớp nhau, niên đại thuộc những năm giữa của thế kỷ XI, nhân chủng Tây Tạng - Aryan - Mông cổ, niên đại và nhân chủng đều khớp nhau, không nghiên cứu cẩn thận thì không thể biết được chúng là xương của hai người khác nhau đâu!” - Giáo sư Trần khẳng định.

“Nhưng sao lại như vậy được? Ai lại đi tìm hài cốt của hai người cách đây cả nghìn năm trước rồi ghép lại với nhau nhi? Huống hồ bộ hài cốt này gần cả thế kỷ đều được bảo tồn tại Nga!” – Đường Phong cảm thấy bức bối trong lòng, đầu óc rối tinh cả lên.

“Cái này thì không thuộc phạm vi công việc của tôi rồi. Kết quả xét nghiệm cụ thể vài ngày nữa tôi sẽ chuyển cho các cậu, nhưng tôi có thê chắc chắn xương sọ này và bộ hài cốt thuộc những năm giữa thế kỷ XI và là của hai người phụ nữ phương Đông khác nhau.”

“Lẽ nào trong đó không có phần nào do người cận đại làm giả sao?” - Hàn Giang cả gan suy đoán.

Giáo sư Trần nhìn Hàn Giang một cái, trong ánh mắt hình như có cả chút khinh khỉnh: “Suy nghĩ này của cậu tôi cũng đã nghĩ tới, đồng thời cũng đã kiểm nghiệm. Đêm qua tôi đã phát hiện ra vấn đề của bộ xương này, nhưng tại sao giờ mới gọi các cậu đến? Cả ngày nay tôi đã cùng trợ lý của mình nghiên cứu bộ xương, để sau khi tôi có kết luận chắc chắn mới gọi các cậu đến. Hiện giờ tôi có thể xác nhận một trăm phần trăm rằng, xương sọ và bộ hài cốt này thuộc về hai người phụ nữ khác nhau sống giữa thế kỷ XI, và không tồn tại bất cứ nghi vấn nào.”

Hàn Giang hiểu rằng trên phương diện học thuật nghiêm túc, nếu không có kết luận chính xác, Trần Tử Kiến sẽ không bao giờ nói ra. Anh bó tay nhìn Đường Phong, không biết phải đón nhận hiện thực này thế nào.

Đường Phong lại thẫn thờ nhìn bộ hài cốt trên bàn, giống như đang chìm trong suy tư.

7

Sau khi dặn dò giáo sư Trần Tử Kiến phục chế khuôn mặt của xương sọ xong, anh cùng Đường Phong cáo từ Trần Tử Kiến. Khi bước ra từ phòng thực nghiệm của Trần Tử Kiến là đúng nửa đêm, Đường Phong và Hàn Giang bước trong dãy hành lang tối đen, từng ngọn đèn vụt sáng phản chiếu bóng dáng cao gầy của hai người. Rẽ vào một chỗ ngoặt, phía cuối hành lang trước mặt là thang máy, nhưng Hàn Giang đột nhiên cảm thấy ở đây cỏ chút bất thường. Anh ngẩng đàu lên nhìn, hóa ra đèn cảm ứng ở đây đã mất nhạy. Anh ra sức giậm chân, nhưng đèn cảm ứng trên dãy hành lang vẫn không chút phản ứng.

“Kỳ lạ, tôi nhớ là lúc chúng ta đến, đèn ở đây vẫn tốt mà, sao mới có mấy tiếng đồng hồ mà đèn cảm ứng đã hỏng hết rồi, tổ cha nhà nó, đúng là ma quỷ!” - Hàn Giang chửi rủa, rồi móc điện thoại ra soi đường.

“Có khi nguồn điện hỏng rồi!” - Đường Phong phía sau Hàn Giang từ tốn nói.

“Nguồn điện hỏng? Thế cũng đủ ma quỷ rồi!” - Hàn Giang tiếp tục tiến về phía trước. Đột nhiên, Hàn Giang phát hiện thấy Đường Phong phía sau mình sao chẳng có động tĩnh gì cả, anh quay lại nhìn thì thấy Đường Phong đang đứng trong dãy hành lang tối đen, tay cầm điện thoại, ánh sáng phát ra từ chiếc điện thoại, phản chiếu lên mặt Đường Phong. Hàn Giang thấy trên mặt Đường Phong có chút dị thường, dưới ánh sáng phản chiếu của điện thoại, khuôn mặt anh tối rầm rầm.

“Cậu sao vậy?” - Hàn Giang hẻt về phía Đường Phong.

Đường Phong không trả lời. Hàn Giang bước nhanh vài bước, đến bên cạnh Đường Phong, hỏi tiếp: “Vẫn còn nghĩ chuyện ban nãy à? Đừng nghĩ nữa, tôi nghĩ phần lớn là do Misha và Tymoshenko nhầm thôi.” “Nhầm ư? Sao lại có chuyện trùng hợp như vậy được? Trừ khi Kozlov còn mang về thêm một bộ hài cốt nữa, thậm chí còn là hai bộ hài cốt giống nhau.”

“Biết đâu lại là như vậy.”

“Nhưng trong báo cáo của Kozlov và Y Phụng Các chỉ nhắc đến người đàn bà trong tháp, chưa từng nhắc đến người đàn bà nào khác.”

“Vậy cậu nói xem chuyện này là thể nào?”

Đường Phong bỗng cảm thấy đầu mình bắt đầu đau nhức, khó thở trong lồng ngực: “Tôi không biết, vốn tưởng rằng bộ hài cốt này không còn gì để nghi ngờ nữa, rốt cuộc lại nảy sinh vấn đề mới. Tất cả mọi việc đều quá kỳ lạ, có lẽ quả thực Kozlov còn mang về một bộ hài cốt nữa, có thể sau này Misha đã nhầm lẫn nó với một bộ hài cốt khác trong cung điện Mùa Đông, có thể là giáo sư Trần đã lầm, cũng có thể là ai đó... có người.. ”

Đường Phong nói đến đây, bỗng dừng lại, quay ngoắt người lại, nhìn về phía hành lang tối đen phía sau.

Hàn Giang nhìn bộ dạng này của Đường Phong, giật thót tim, cũng quay lại nhìn dãy hành lang sau lưng, nhưng anh chẳng nhìn thấy gì cả. Hàn Giang nghi ngờ hỏi Đường Phong: “Cậu đang nhìn gì vậy?”

“Ban nãy phía sau tôi có người!”

“Có người? Giờ này thi có ai?”

“Đó chính là u hồn, u hồn của hoàng hậu Một Tạng!” “Cậu đừng có hâm đi, lấy đâu ra u hồn! U hồn chính là Misha. Lẽ nào có u hồn thật, từ cung điện Mùa Đông chạy tới đây?”

“Không! Tôi cảm nhận thấy rồi, bà ấy đang ở quanh đây.”

“Nói linh tinh, tôi thấy cậu giống hệt giáo sư Trần, lại tin là có ma, đi mau lên!”

Nói xong, Hàn Giang kéo Đường Phong tiến thẳng vào thang máy. Cửa thang máy từ từ khép lại, Hàn Giang nhìn chiếc thang mày già cỗi, kêu cót két này mà lòng bỗng có chút lo lắng. Mong rằng nó đừng bị làm sao, trong giờ phút này mà xảy ra chuyện gì thì có mà đủ... Anh lại nhìn sang Đường Phong bên cạnh, thấy Đường Phong đang nhìn chằm chằm vào cửa thang máy, bất động, giống như bị điểm huyệt vậy. “Lẽ nào thật sự có u hồn? Ư hồn của hoàng hậu Một Tạng?” - Hàn Giang cũng bắt đầu suy nghĩ rối bời.

May mà chiếc thang máy cũ kĩ này vẫn vận hành bình thường, nửa phút sau, Hàn Giang kéo Đường Phong bình an ra khỏi thang máy, đến tiền sảnh tầng một. Ở đây có một phòng bảo vệ rất nhỏ, một ông lão bảo vệ đang trực ban. Hàn Giang kéo Đường Phong đi về phía cửa chính. Lúc này Đường Phong đã có vẻ tỉnh táo trở lại, nên anh giằng ra khỏi bàn tay vạm võ của Hàn Giang, rồi bước theo sau Hàn Giang về phía cửa.

Khi hai người đến cửa thì Hàn Giang bông vô tình liếc thấy ông lão trong phòng bảo vệ. Ông lão cũng chú ý đến hai người họ. Vậy là Hàn Giang bước đến chào hỏi ông. Ông lão bảo vệ hỏi Hàn Giang: “Các anh tìm giáo sư Trần?’

“Vâng, chúng tôi tìm giáo sư Trần Tử Kiến có chút việc.”

“Giờ này cũng chỉ có giáo sư Trần ở lại đây thôi!” - Ông lão bảo vệ cảm phục nhận xét.

Nghe xong, Hàn Giang đang định ra về thì Đường Phong bỗng cất lời hỏi ông lão bảo vệ: “Xin hỏi tòa nhà này trước đây có chuyện ma quỷ gì không?”

Ngay sau khi nghe thấy Đường Phong hỏi vậy, không hiểu tại sao, sống lưng Hàn Giang bỗng lạnh toát. Ông lão bảo vệ liền thay đổi thái độ, sầm mặt nhìn chằm chằm Đường Phong. Mãi một lúc sau, ông mới chậm rãi nói: “Cậu thanh niên, đừng có nói linh tinh, tôi trông giữ tòa nhà này hơn hai mươi năm nay rồi, từ trước tới giờ chưa từng gặp ma, cũng chưa từng nghe thấy chuyện có ma.” Hàn Giang chỉ biết ngại ngùng nhìn ông lão cười cười, vội vàng kéo Đường Phong rời khỏi tòa nhà này.
 

hoahongden12

Active Member

Rốt cuộc năm 1964 đã xảy ra chuyện gì? Trung Quốc nổ thành công quả bom nguyên tử đầu tiên, Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Xô Khrushchev bị hạ bệ. Có lẽ vẫn còn gì đó mà chúng ta không biết đã xảy ra...

1

Ngay trong đêm Đường Phong và Hàn Giang từ phòng thí nghiệm trở về, Đường Phong đã bị biết bao nhiêu câu hỏi giày vò tới suy nhược thần kinh, anh chỉ muốn nằm ngay ra giường, nhắm mắt lại, ngủ một giấc ngon lành. Nhưng đời không bao giờ như ý muốn, Đường Phong vừa nằm ra giường thì đã bị Hàn Giang gọi dậy. “Muộn thế này rồi mà còn không để người ta ngủ à? Đừng tưởng rằng anh là sếp mà có thể cướp đoạt quyền ngủ của tôi nhé!” - Nói xong, Đường Phong lại rúc đầu xuống gối.

“Thư của Yelena đến rồi, cậu không muốn đọc sao?” - Hàn Giang ôm chiếc laptop đến hỏi.

“Những lời yêu đương của các người tôi xem làm gì!” - Đường Phong nằm yên ưên giường, hậm hực thốt ra câu này.

“Tôi mong Yelena viêt thêm cho tôi vài câu ngọt ngào mà cô ấy lại viết toàn chuyện về Misha đây này, cậu không xem thì tôi đi đây.”

Chưa kịp đợi Hàn Giang quay đầu đi, Đường Phong đã nhảy khỏi giường: “Tôi xem!” - Lúc này cảm giác buồn ngủ trong anh hình như đã biến mất hoàn toàn.

Hàn Giang mở email mà Yelena gửi từ Saint Petersburg tới, Đường Phong vừa đọc bỗng bật cười, bởi Yelena đặt cho bức thư này một cái tên nghe rất hấp dẫn “Năm 1964 thất lạc”. Đây là một bức email rất dài, còn gửi đính kèm rất nhiều file ảnh, tất cả đều liên quan tới tình hình của những lão đặc công trước đây từng phụ trách bảo hộ Misha năm nào. Mở đầu bức thư được viết như sau:

Để hoàn thành bài tập anh giao, mấy hôm nay em phải chịu đựng sự hoảng hốt, sợ hãi và phiền não không kém gì lúc cùng anh chui xuống cống ngầm. Lúc đó còn có anh, có cha và cả những người bạn bên cạnh, còn hiện giờ chỉ còn lại mình em, dĩ nhiên vẫn còn có cả Ilyushin đáng ghét và chỗ nào cũng thấy mặt, bởi vậy em chỉ còn cách tự mình ứng phó. Đây đều là nhờ hồng phúc của anh, em bỗng cảm thấy mọi việc đang rối tung cả lên, rút cuộc là em chỉ huy anh hay là anh chỉ hưy em đây? Được rồi, anh hãy đọc phần chính của bức thư đi nhé, sau khi đọc xong, em tin rằng đầu óc anh cũng sẽ rối tung.

Yêu anh!

Yelena

Đọc đến đây, Đường Phong nhìn Hàn Giang cười: “Cái này toàn là viết cho anh, người ta là nữ đặc công có khác, viết thư tình không sướt mướt chút nào.”

“Đừng chọc tôi nữa! Đây mà là thư tình à, cậu đọc tiếp đi!” - Hàn Giang gào lên.

Đường Phong thu lại nụ cười, tập trung tinh thần, tiếp tục đọc...

Kể từ sau khi Đường Phong và Hàn Giang rời khỏi Saint Petersburg, Yelena đã tốn rất nhiều công sức mới dẹp được Ilyushin. Sau đám tang của Ivan Pavlov, rốt cuộc Yelena đã có thời gian bắt đầu hoàn thành bài tập mà Hàn Giang trước khi đi đã bố trí.

Yelena tìm lại bộ hồ sơ mà Ivan Pavlov có được, rồi bắt đầu từng bước điều tra những đặc công KGB trước đây từng phụ trách bảo vệ Misha năm nào. Tuy cô không đặt nhiều hy vọng vào cuộc điều to này, nhưng vẫn tiến hành rất cẩn thận. Yelena đều lưu lại họ tên tất cả những đặc công xuất hiện trong báo cáo vào máy tính của mình, sau đó bắt đầu từng bước loại trừ, đây là một công trình không hề đơn giản, tổng cộng có 46 đặc công trước sau tham gia hành động bảo vệ Misha, dĩ nhiên con số này không bao gồm những người của năm 1964.

Theo thói quen của người Nga, thì họ tên của những đặc công này để lại trên báo cáo chỉ có họ là viết đầy đủ, còn tên và tên đệm thì đều được viết tắt bởi một chữ cái đầu tiên, điều này đã khiến cho công cuộc điều tra của Yelena thêm biết bao phiền phức. Cô không biết họ tên đầy đủ của những người này, nếu là người thân, danh nhân hay người quen thì họ tên như vậy rất dễ nhận ra, còn những người này Yelena lại chưa từng quen biết. KGB cũng đã không tồn tại từ lâu, sau nhiều năm qua đi, rất nhiều người trong số những đặc công này không biết đã đi đâu, có người đã chết, có người thì về hưu ở nhà, có người lại định cư ở nước ngoài, cũng có cả người bị nhốt trong tà.

Chỉ có một mình nên Yelena không thể xử lý xong việc này trong thời gian ngắn được. Nhưng cô không muốn kinh động đến nhiều người, vì mọi việc đều phải tiến hành trong bí mật. Mà biết đâu bàn tay hắc ám phía sau chính là một trong số 46 người này... nên cô không thể đánh rắn động cỏ. Chỉ trong trường hợp không còn cách nào khác, cô mới cầu cứu tới Ilyushin. Khi Ilyushin trông thấy Yelena, anh ta cười lạnh lùng nói: “Sao, quý cô vẫn còn việc gì phải đến hỏi tôi vậy?”

“Đúng vậy, dĩ nhiên, dù thế nào thì anh cũng là đàn anh của tôi!”

“Được rồi, tuy lí trí nói với tôi rằng không nên giúp cô, nhưng tôi vẫn không thể từ chối lời nhờ vả của cô, hãy nói cho tôi biết chuyện là thế nào trước đã.”

“Rất đơn giản, tôi chỉ đang tiến hành điều tra liệt kê, điều tra sơ bộ về những đặc công năm đó bảo vệ cho Misha, tôi nghĩ chắc là anh hiểu rõ tại sao tôi lại phải làm như vậy.”

“Hừm! Dĩ nhiên tôi hiểu, lại là gã người tình Trung Quốc của cô bảo cô làm vậy chứ sao? Anh ta nghi ngờ những bậc tiền bối của chúng ta? Chỉ có họ mới nghĩ được như vậy, đúng là suy nghĩ của người Trung Quốc! Tại sao Hàn Giang không tìm manh mối từ phía anh ta, lẽ nào anh ta cho rằng bàn tay hắc ám thực sự phía sau chính là một trong số những lão đặc công đã nửa đời vì quốc gia phục vụ?”

Ilyushin nói một tràng như vậy, Yelena lặng lẽ nghe anh ta nói. Mãi cho tới khi Ilyushin nói xong, Yelena mới mờ miệng: “Tôi nói rồi, chỉ là một bước điều tra liệt kê cơ bản thôi, anh nghĩ nhiều quá. Nếu anh đã hiểu ý của tôi rồi, vậy thì mong rằng anh hãy giữ bí mật giúp tôi, nhất định đừng để người khác biết. Này! Đây là danh sách”

Ilyushin đón lấy bản danh sách mà Yelena phô tô ra, đọc lướt qua một lượt rất nhanh. Khi con mắt nhỏ tý màu xám của Ilyushin lướt tói phía cuối danh sách, anh ta liền dừng lại, “Lại có cả ông ấy?” - Ilyushin lẩm bẩm.

“Anh nói ai? Trong đó có ai anh quen sao?” - Yelena truy hỏi.

Rõ ràng Ilyushin chắc chắn đã phát hiện ra điều gì đó trên danh sách, nhưng anh ta lại trả lời Yelena: “Không có gì, có một người hình như tôi quen, nhưng những người trong danh sách của cô không có họ tên đầy đủ, nên tôi vẫn chưa thể khẳng định.” - Ilyushin dừng lại, lại nhìn vào danh sách lần nữa, sau đó đặt danh sách lên bàn, nở ra một nụ cười với Yelena: “Cô yên tâm! Tôi sẽ dốc hết sức làm xong việc này trong thời gian sớm nhất, dĩ nhiên, cô cũng đừng có ngôi không nhé, ba ngày sau chúng ta sẽ gặp nhau ở đây.”

2

Ba ngày đó, Yelena tận dụng hết tất cả mối quan hệ của bản thân mới hỏi thăm được tung tích của hai đặc công. Cô đã ghé thăm hai người đặc công đã về hưu từ lâu này, nhưng lại không thu hoạch được gì cả. Hai người, một người cả ngày say rượu, chẳng có việc gì làm, một người nằm trên giường bệnh thở bình oxy, đang giằng co sự sống trong tuyệt vọng với thần chết.

Ba ngày sau, Yelena đến văn phòng của Ilyushin theo lời hẹn. Ilyushin nhìn thoáng đã nhận ra sự thất vọng của Yelena, anh ta cười nói với cô: “Sao rồi? Phát hiện được gì?”

“Gần như chẳng được gì. Anh thì sao?”

“Ngược lại tôi thu hoạch được một ít, phần lớn những người trong bảng danh sách này tôi đã mò ra rồi.”

“Ồ?” - Yelena không thể tin vào điều đó, cô sững sờ nhìn Ilyushin, “Hiệu quả làm việc của anh tăng cao lên từ lúc nào vậy?”

“Khà khà, đó là bởi vì trước đây cô coi thường tôi quá. Nói thế này nhé, trong số 46 người, hiện vẫn còn 2 người đang làm việc cho Cục an ninh Liên bang.”

“Quân hàm hiện giờ của họ là gì?” - Yelena giật mình, cô nghĩ tới cái gã “tướng quân” mà Tymoshenko từng nói.

“Quân hàm? Sao cô không hỏi chức vụ của họ, hai người này cũng không thăng chức, sắp về hưu rồi cũng chỉ là thượng tá.” - Ilyushin nói xong thở dài.

“Thượng tá!” - Yelena đang lo lắng bỗng yên tâm trở lại.

Ilyushin tiếp tục giới thiệu: “Hai người này tôi cũng đều quen, một người trong số đó còn rất thân với tôi, vậy là tôi thông qua họ dò hỏi, nên về cơ bản đã điều tra rõ rồi. Trong số 44 người, hiện có 5 người đang nghỉ hưu ở nhà, 7 người sau khi rời khỏi KGB đã làm việc cho các công ty vệ sỹ khác nhau, 3 người hiện đang làm việc tại cơ quan chính phủ, 3 người làm kinh doanh, 4 người đang ngồi tù, 6 người hiện đang định cư tại nước ngoài, 1 người đang nằm chờ trong bệnh viện, dĩ nhiên, vẫn còn 13 người đã lên gặp thượng đế.”

Yelena nhanh chóng ghi chép lại con số mà Ilyushin thống kê được, sau khi tính nhẩm một hồi liền chau mày nói: “Vẫn còn thiếu hai người?”

“Đúng vậy, bởi vì tôi không tìm thấy hồ sơ của hai người đó. Trong số những người mà tôi hỏi thăm cũng không ai quen biết hai người đó, không ai biết hai người đó hiện ở đâu, tình hình gần đây thế nào. Dĩ nhiên chủ yếu là do thời gian gấp rút, nếu cô cho tôi thêm vài ngày thì tôi đảm bảo sẽ có thể điều tra cụ thể từng người.” “Hai người nào?”

Ilyushin cúi đầu nhìn nhìn laptop của mình, đọc ra hai cái tên đó: “N.D.Strenov và V.A.Isakov.”

Yelena ghi lại hai cái tên này, sau đó nghĩ ra điều gì đó, lại hỏi Ylyushin: “Lần trước anh nói hình như quen ai có đúng không? Đó là ai trong số hai người thượng tá đang đương chức kia?”

Ylyushin lắc đầu đáp: “Không! Không phải hai người vẫn đang đương chức đó, hai người thượng tá đó họ tên rất phổ biến, bởi vậy lúc đầu nhìn danh sách, tôi không nhận ra ngay họ trên đó. Cái người mà lần trước tôi nói là hình như quen, là người ở cuối bảng danh sách, họ tên của ông ấy hiếm thấy, bởi vậy tôi đọc một cái là nhận ra ngay, nhưng lúc đó tôi vẫn chưa thể chắc chắn, đó chính là Brainin, người từng bảo vệ Misha năm 1965 - 1966, họ tên đầy đủ của ông ấy là Andrei Grigoryevich Brainin.”

“Brainin ư? Năm 1965 - 1966? Ông Brainin này có lẽ sẽ biết về đặc công bảo vệ Misha năm 1964, đây không phải chính là người mà chúng ta cần tìm sao?” - Yelena nghĩ tới đây, trong lòng bất giác trào lên dự cảm bất an.

Ilyushin lại nỏi tiếp: “Khi tôi vừa mới vào KGB, ông lão này đã là cấp trên cao nhất của tôi rồi, sau đó, ông về hưu, nghe người ta nói thì hiện giờ ông đang dưỡng lão tại một ngôi biệt thự ở ngoại ô, chỉ có vậy thôi.”

“Ồ, quân hàm của ông ấy trước khi về hưu là…”

“Là thiếu tướng. Tôi nhớ rất rõ, ông ấy thăng chức thiếu tướng sớm hơn Makarov, không bao lâu sau đó thì về hưu.”

“Tướng quân?” - Khi Yelena nghe thấy Brainin cũng là tướng quân thì bỗng chột dạ.

“Sao vậy? Ông ấy có vấn đề gì không?”

Yelena nhìn Ilyushin, trầm ngâm hồi lâu mới nói với anh ta: “Lúc Tymoshenko bỏ chạy đã từng nói rằng mình là người của ‘Tướng quân’, rồi nói chúng tôi không đấu được với ‘Tướng quân’ đâu.”

“Vì vậy mà cô mới nhạy cảm với từ ‘Tướng quân’ này. Thôi nào, theo như tôi biết thì sau khi về hưu, Brainin chưa từng rời khỏi Saint Petersburg, luôn ở trong căn biệt thự nhỏ ở ngoại ô đó, ngày ngày trồng rau, đọc sách để giết thời gian. Con gái ông ấy chủ nhật mới đến thăm ông, ngoài ra ông gần như không tiếp xúc với ai, đặc biệt là những người của KGB trước đây, điểm này rất giống với Makarov. Cộng thêm ông đã ngần ấy tuổi rồi, sao lại có thể là bàn tay hắc ám phía sau đó được?” - Ilyushin khịt mũi cười nhạt trước nghi vấn của Yelena.

Yelena lắc đầu: “Tôi cũng không biết. Tóm lại, tôi phải đi thăm hỏi vị lão tướng đó một lần xem sao. Thế nào, anh có hứng thú đi cùng tôi một chuyến không?”

“Cô tha cho tôi đi, cô biết không, ông Brainin này lúc còn làm sếp của tôi, chẳng coi tôi ra gi nhất đấy, bởi vậy cứ nhìn thấy ông là tôi đau đầu. Ông ấy lúc đó còn ghê gớm hơn Makarov rất nhiều, không biết bao nhiêu lần tôi bị ông ấy giáo huấn rồi. Hom nữa, cô có thế gặp được ông ấy hay không cũng chưa biết được đâu.”

“Tại sao?”

“Không phải tôi đã nói rồi đấy sao, ông ấy không gặp người của KGB, trước đây có một vài đồng nghiệp cũ và nhân viên cấp dưới đến thăm, cũng bị ông từ chối dù gặp ngay ở cửa, huống hồ là cô. Nghe nói hiện giờ ông càng ngày càng cổ quái, tính khí càng lúc càng nóng nảy, tôi dại gì mà đi gây hấn với ông lão ghê gớm đó!”

Yelena nghe đến đây đã bước đầu phần nào hiểu về Brainin. Cô đứng dậy nói với Ilyushin: “Vậy được, để tôi tự đi xem sao. Ngoài ra, nhờ anh gửi giúp tôi tất cả những tài liệu liên quan tới lần điều fra này vào email cho tôi, nhất là tĩnh hình gần đây của những người này, những người ở nước ngoài thì định cư tại quốc gia nào, người vẫn còn đi làm thì làm ở đơn vị nào, người đã nghỉ hưu thì nhà ở đâu, người bị đi tù thì bị giam ở đâu, kể cả những người đã đi gặp thượng đế, tôi cũng muốn biết mộ của họ ở chỗ nào.”

“Yêu cầu của cô nhiều thật đấy, tôi sẽ cố gắng hết sức!” - Ilyushin chau mày, đứng dậy tiễn Yelena.

3

Yelena lại đợi thêm hai ngày, Ilyushin đã gửi tài liệu điều tra cụ thể tới. Sau khi nghiên cứu tỉ mỉ một lượt, Yelena đã bắt đầu từng bước loại trừ những người trong năm 1988 phía sau cùng. Trên danh sách 46 người, gạch thẳng những người không đáng để nghi ngờ, đánh dấu hỏi lên những người cần điều tra thêm bước nữa, từng người từng người một. Yelena phát hiện ra vài quy luật, đặc công bảo vệ Misha thông thường là do hai người cùng lúc đảm nhiệm, có lúc cũng có ba người. Thời hạn mà mỗi đặc công bảo vệ Misha nhiều nhất cũng chỉ hai năm, nhưng cũng có người chỉ làm một năm, hàng năm trước khi vào xuân đều sẽ thay ít nhất một đặc công. Yelena tiếp tục xem tiếp, cuối cùng, bút trên tay cô đã dừng lại trên cái tên Brainin phụ trách bảo hộ Misha năm 1965- 1966.

Brainin là người duy nhất trong số 46 người được thăng lên chức tướng quân, và ông chính là đặc công phụ trách bảo hộ Misha trong năm 1965 - 1966. Càng khiến Yelena ngạc nhiên ở chỗ, hai đặc công vẫn chưa có kết quả điều fra là N.D.Strenov và V.A.Isakov cũng có tên trong báo cáo của năm 1965. Trong đó, tên của V.A.Isakov không chỉ xuất hiện trong báo cáo của đầu năm 1965, mà còn xuất hiện ứong cả phần lớn báo cáo của năm 1963, sau mùa xuân năm 1965 thì không thấy xuất hiện nữa. Điều này cho thấy, V.A.Isakov đã phụ trách bảo hộ Misha suốt từ năm 1963 cho đến tận đầu năm 1965, nếu có thể tìm thấy ông ấy thì sẽ làm rõ được tình hình năm 1964 bị thất lạc, nhưng ông lại... Nghĩ tới đây, Yelena đã đánh một dấu hỏi to trên hai cái tên N.D.Strenov và V.A.Isakov, sau đó lại vẽ một vòng tròn lên cái tên Brainin.

Sự khắc nghiệt của mùa đông vẫn chưa tan biến, Yelena lái chiếc Fiat của mình cẩn thận chạy trên đường lớn phủ đầy tuyết giữa vùng nông thôn ngoại ô Saint Petersburg, cô đang ưên đường đến thăm hỏi vị thiếu tướng tính khí cổ quái, ở ẩn, ít xuất hiện - Brainin.

Yelena vừa lái xe, trong đầu vừa nghĩ xem nên hỏi Brainin thế nào. Đường đi tệ hại đã làm chậm tốc độ của cô, nên phải mất tói hơn ba tiếng đồng hồ cô mới tiến vào được trong rừng. Bên bìa rừng là một vùng có các căn biệt thự đủ hình đủ dạng, và căn biệt thự nhỏ của thiếu tướng Brainin này lại nằm sâu khuất trong góc rừng. Đường nhựa đã biển thành con đường đất lầy lội, chiếc Fiat tiếp tục khó nhọc tiến về phía trước, nửa tiếng sau, rốt cuộc trong rừng đã xuất hiện một đoạn đường lát gạch nhấp nhô.

Sau một tiếng đồng hồ đi men theo con đường lát gạch nhấp nhô này, trước mắt cô bỗng hiện lên một bãi cỏ rộng lớn, bãi cỏ ừong rừng sâu. Yelena trông thấy, ở nơi cách bãi cỏ và đoạn đường lát gạch không xa, là căn biệt thự của Brainin, đứng sừng sững cô độc.

Yelena đỗ xe trước căn biệt thự, lần sờ khẩu súng trên người, rồi cô xuống xe, ra sức hít lấy một hơi thật sâu không khí trong lành của vùng nông thôn, sau đó cẩn thận quan sát căn biệt thự trước mặt. Đây là một căn biệt thự được xây dựng bằng những thanh gỗ tròn thường thấy ở những vùng quê của Nga, tuy kiểu dáng có chút cũ kĩ nhưng rất sạch sẽ. Vài chiếc lều to xung quanh biệt thự được chủ nhân dùng để chăm chút ột số loại rau xanh, tóm lại, mọi thứ ở đây xem ra đều rất ngăn nắp.

Trông thấy vậy, Yelena cũng không sao liên tưởng được chủ nhân ở đây và bàn tay hắc ám phía sau, đã dựng lên biết bao âm mưu đó, có liên quan gì tới nhau.

“Có ai ở nhà không?” - Yelena bước lên bục cửa rồi gõ vào cánh cửa gỗ màu ứắng được bọc bằng vỏ cây phong trắng, nhưng bên ừong không có động tĩnh gì.

Yelena gọi liền vài câu nhưng sau cánh cửa vẫn không có ai thưa. Đúng lúc Yelena đang hoài nghi thì cô bỗng cảm thấy phía sau lưng có chút khác thường, nên quay ngoắt người lại. Phía sau là một ông già tóc bạc trắng không biết đã đứng đấy tự lúc nào, đang nhìn Yelena bằng ánh mắt u tối nghi hoặc.

Sự xuất hiện bất ngờ của ông già đã khiến Yelena giật bắn mình. Tới khi hoàn hồn lại, cô mới quan sát ông già trước mặt, lưng ông hơi gù, nhưng đôi mắt lại nhanh nhẹn lại rất có thần, điểm này khiến Yelena nhớ tới Makarov. Nhìn tiếp, cô thấy trên tay ông già là một chiếc xẻng sắt, ông không mặc áo khoác, trên người chỉ có một chiếc áo len màu xám, cô nghĩ: “Đây chắc là lão tướng quân Brainin rồi!” - Nghĩ tới đây, Yelena mỉm cười bước xuống bậc thềm, hỏi như những gì mà mình đã cân nhắc trên đường: “Bác có phải là thiếu tướng Pfyt Brainin không ạ?”

“Cô là ai?” - Brainin mặt mũi lầm lì hỏi.

“Bác có còn nhớ Makarov không ạ? Ivan Petrovich Makarov?”

“Makarov! Dĩ nhiên, năm đó chúng tôi đã từng làm việc với nhau, sau khi tôi về hưu nghe nói rằng ông ấy cũng lên chức thiếu tướng phải không?”

“Đúng ạ, nhưng ông đã về hưu lâu rồi. Cháu chính là con gái của Makarov, lần này là cha cháu bảo cháu tới đây thăm bác, bác có thể gọi cháu là Yelena.”

“Yelena?” - Brainin cũng đang quan sát Yelena, “Vậy thì vào nhà đi!” - Brainin mở lời mời, nhưng vẫn không hề thấy nét tươi cười nào trên mặt ông.

4

Trong phòng đốt lò sưởi nên vô cùng ấm áp. Yelena bước vào nhà, vừa mới ngồi xuống, Brainin liền nói: “Cô gái, cô hãy nói thật đi, rốt cuộc cô là ai?”

Yelena giật bắn mình: “Cháu... cháu là con gái của Makarov!”

“Khà khà, theo như tôi biết thì ông ấy chỉ có một cậu con trai, lấy đâu ra con gái? Hơn nữa, cô đừng có quên trước đây tôi làm gì, cho dù cô che giấu thế nào đi chăng nữa thì cững không qua được mắt tôi đâu, tôi khuyên cô hãy nói thật đi.”

Yelena thấy những gì mình dày công thiết kế để nói dối đã bị bóc mẽ, nên không thể không bái phục đôi mắt của Brainin. Cô im lặng một hồi, sau đó đưa thẻ của mình ra, giải thích: “Cháu không phải muốn nói dối bác đâu ạ. Không sai, Makarov chỉ có duy nhất một người con trai, nhưng Victor đã chết rồi, cháu là con nuôi của Makarov, cháu là thiếu tá Yelena của Cục an ninh Liên bang.”

Brainin không buồn ngó thẻ của Yelena, sắc mặt ông càng trở nên trầm trọng. “Lẽ nào cô không biết kể từ khi về hưu đến nay tôi không bao giờ gặp người của KGB?”

“Cháu biết, nhưng cháu bắt buộc phải đến tìm bác! ” “Tại sao?”

“Để hỏi thăm bác về hai người.” - Yelena vào thẳng vấn đề.

“Hai người nào?” - Brainin vẫn giữ nét mặt trầm trọng. “N.D.Strenov và V.A.Isakov.”

Lúc Brainin nghe thấy hai cái tên này, lông mày ông khẽ cử động, chút biến đổi rất nhỏ này cũng không lọt qua được mắt Yelena. “Tại sao phải hỏi thăm hai người này?” - Brainin bình tĩnh trở lại, hỏi Yelena.

“Là thế này, cháu phụ trách điều tra một vụ án, rất không may là lại liên quan tới hai người này.” - Yelena dùng kế nhất quyết không để Brainin biết được nội tình, bất luận ông có phải là bàn tay hắc ám phía sau hay không.

“Sao cơ?” - Brainin nghe Yelena nói xong giật mình kêu lên, “Cô gái, tôi không nghe lầm chứ, N.D. Trenov và V.A. Isakov liên quan đến án?”

Yelena nhìn Brainin gật đầu.

“Ha ha!...”- Brainin bỗng nhiên bật cười, tiếng cười này khiến Yelena cảm thấy lạnh toát sống lưng cho dù cô đang ở trước lò sưởi ấm áp. Cười xong, mặt Brainin lại lầm lĩ trở lại: “Cô Yelena, lẽ nào người chết cũng có thể liên quan tới án sao?”

“Người chết? Ý bác là Strenov và Isakov đã chết rồi ư?

Brainin không trả lời câu hỏi của Yelena mà nhìn cô hồi lâu. Bị Brainin nhìn lâu như vậy, Yelena có chút ngại ngùng, cô không biết ông già cổ quái này đang nhìn gì. Rốt cuộc, Brainin lại cất lời: “Cô gái, đáng lẽ tôi chuẩn bị không tiếp tục câu chuyện này với cô nữa đâu, nhưng... do liên quan tới việc công nên có thể trả lời cô một vài câu hỏi. Dĩ nhiên, một phần lí do là vì Makarov, ông ấy là người tốt, ông đã từng cứu mạng tôi một lần lúc còn ở Afghanistan.”

Thấy giọng Brainỉn đã có vẻ dịu xuống, Yelena cũng thở phào nhẹ nhõm: “Cháu muốn tìm hiểu tình hình của N.D.Strenov và V.A.Isakov, có người nói rằng bác biết. Lẽ nào họ đều đã chết thật rồi sao?”

“V.A.Isakov chết từ lâu rồi, hơn 20 năm trước tại Afghanistan, cững được coi là hy sinh vì việc công! Tôi không hiểu bao nhiêu năm qua đi vậy rồi thì một người chết như ông ấy có thể liên quan gì tới án.”

“Vậy còn Strenov thì sao ạ?”

“Ông ấy à, ông ấy phạm tội tày đình, nghe nói là vẫn bị nhốt trong tù, cả đời này cũng đừng mong được ra ngoài. Cô nói xem người như ông ấy thì khác gì người chết?”

“Hả?” - Yelena không ngờ N.D.Strenov và V.A.Isakov lại một chết một tù tội, nên bất giác có chút thất vọng, nhưng cô vẫn không nản lòng, lại hỏi Brainin:

“Vậy bác có thể kể rõ cho cháu biết về hai người này không ạ?”

“Được thôi, tôi sẽ nói về hai người này. Họ tên đầy đủ của Isakov là Vasily Alekseevich Isakov. Người này rất tráng kiện, cao gần bằng Pie Đại đế, gần hai mét. Isakov rất giỏi thi đấu cự ly gần, đừng nghĩ ông ta cao to mà cơ thể chậm chạp, ông ấy đã từng vật nhau với cả gấu đen. Nhưng ông ấy không tốt số, trong chiến tranh ở Afghanistan, mấy người chúng tôi đều đến đó nhưng cuối cùng Isakov đã không bao giờ trở về.”

“Không bao giờ trở về? Vậy thi thể của ông ấy đâu?” “Đúng, thi thể của ông ấy cũng được chuyển về rồi, nhưng như vậy thì để làm gì? Người thì đã chết rồi, Isakov đáng thương...” - Nói tới đây, Brainin hình như có chút buồn rầu.

“Bác có biết mộ của ông ấy ở đâu không?”

“Mộ của ông ấy ở nghĩa trang ngoại ô!”

“Bác có thể cung cấp một vài nhân chứng không ạ? Ý cháu là những người có thể chứng minh Isakov đã thực sự chết.”

“Sao? Cô không tin tôi sao?”

“Không, chỉ là chứng thực một chút thôi ạ, chắc bác cũng rất hiểu cách làm việc của bọn cháu rồi!”

Brainin nghe Yelena nói vậy, khẽ gật đầu, sau đó đọc ra tên vài người rồi nói: “Cô không phải nghi ngờ đâu, lúc Isakov thiệt mạng, rất nhiều người đều có thể làm chứng, người của KGB này, còn cả người của quân đội nữa. Lúc đó tiểu đội của họ đã bị du kích địa phương tấn công, cấp trên của ông ấy, những chiến hữu may mắn sống sót, và cả bác sỹ cấp cứu cho ông ấy đều có thể làm chứng.”

“Được rồi, cháu sẽ đi chứng thực, bác kể tiếp về Strenov nhé!” - Yelena chuyển chủ đề sang đối tượng còn lại.

5

“Strenov? Họ tên đầy đủ của ông ấy là Nikolay Dmiưievich Strenov, nhưng bình thường chúng tôi không gọi tên thật mà đều gọi biệt hiệu của ông ấy, bởi vậy lúc đầu cô nhắc đến ông ấy tôi cũng hơi sững lại mọt lúc.”

“Biệt hiệu của ông ấy là gì?” - Yelena tò mò hỏi.

“Stechkin!”

“Sao ạ? Stechkin!” - Yelena lập tức nghĩ tới tên của một loại súng.

“Không sai! Lúc đó chúng tôi đều gọi ông ấy là Stechkin, đó là tên của một loại súng tuyệt đỉnh. Bởi trong một trận chiến, cậu ấy đã rút ra một khẩu Stechkin lắp đầy 20 viên đạn bắn trúng 21 mục tiêu, lập nên một chiển tích huy hoàng.”

Yelena giật thót tim, đúng là một tay súng cừ khôi!

Yelena biết rằng khẩu Stechkin là một loại súng lục do nhà thiết kế súng Liên Xô nổi tiếng Stechkin sáng chế những năm đầu thập niên 50, từng được sử dụng rộng rãi trong quân đội, KGB, bộ nội vụ và các cơ quan hành pháp khác, Loại súng này có thể găm 20 viên đạn, vượt xa những loại súng dùng để tự vệ thông thường, cũng chính bởi vậy mà nó khiến cho khẩu Stechkin trở nên nặng nề, thô kệch, không tiện mang theo. Quân đội Liên Xô những năm 70 bắt đầu từng bước loại bỏ loại súng này, đặc biệt là trong lúc thực thi nhiệm vụ, họ rất thích bắn loại súng này. Nhưng chỉ có 20 phát đạn mà lại bắn trúng 21 mục tiêu, sao lại thế được?

Brainin nhận ra sự hoài nghi của Yelena, khẽ hắng một tiếng: “Không sai, là 20 phát đạn, bắn trúng 21 mục tiêu. Nói chính xác hơn là 21 người. Có 2 mục tiêu bị đạn 9 ly của khẩu Stechkin bắn xuyên táo.”

“21 người?” – Yelena càng không hiểu, trừ khi bắn nhau trong chiến tranh, nếu không thì trong lúc bình thường sao lại có thể bắn chết 21 người cùng một lúc?”

“Đúng 21 người, 21 lính Mỹ!”

“21 lính Mỹ!” – Yelena kêu lên thất thanh.

“Đó là một lần hành động tuyệt mật, tôi là Stechkin được phái tới Việt Nam, dưới sự yểm hộ của quân đội miền Bắc Việt Nam, chúng tôi không gặp phải quân Mỹ hay quân đội miền Nam Việt Nam, nhưng trên đường rút lui, mưa to như trút nước, Stechkin đã lạc mất chúng tôi trong rừng mưa dày đặc, và trên người ông ấy không mang theo la bàn, cũng không mang theo đồ ăn nước uống, chỉ có duy nhất một khẩu Stechkin chứa đầy đạn. Kết quả ông ấy đi về hướng ngược lại, càng đi càng xa, cuối cùng bị quân Mỹ phát hiện. Hai chiếc trực thăng kéo theo một đội quân Mỹ bao vây ông ấy. Stechkin lấy lá cây rừng yểm hộ, dùng 20 viên đạn trong khẩu Stechkin bắn chết 21 lính Mỹ, trong đó bao gồm 4 viên phi công lái trực thăng. Stechkin vốn định lái trực thăng bay về nhưng chiếc trực thăng đó lại bị hỏng, vậy là ông ấy cho nổ tung chiếc trực thăng, chỉ mang theo một chiếc la bàn và một khẩu sung ngắn M16 lục soát được trên ngươì lính Mỹ, đi bộ bốn ngày trong rừng mưa mới đến được vùng an toàn.”

“Thật khó tin!” – Yelena lắc đầu, “Các bác chắc chắn chứ? Dù sao thì lúc đó cũng không có ai ở đây.”

“Khà khà, quân phục chiến đấu của quân Mỹ chính là bằng chứng tốt nhất. Dĩ nhiên chúng tôi khồng chỉ tin vào những gì Stechkin tường thuật lại, sau đó quân Mỹ đã chứng thực có 21 lính Mỹ bị bắn chết gần một thôn xóm ở miền Nam Việt Nam, hai chiếc máy bay bị bắn nổ. Họ cho rằng đó là do quân đội miền Bắc Việt Nam làm nhưng họ không tài nào giải thích được tại sao trên người tất cả quân Mỹ bị bắn chết đều có vết thương của đạn 9 ly, đây là đường kính của nòng sung lục chứ không phải của nòng sung đột kích.”

“Đúng vậy, thường thì quân đội bắn nhau hay dùng súng đột kích, súng lục chỉ dùng phòng than ở cự ly gần. Nói như vậy thì ông Stechkin đó quả thật rất cừ, một tay sung cừ khôi, nhưng sau đó sao ông ấy lại bị đi tù ạ?”

6

Brainin chau mày, từ từ hồi tưởng lại: “Đó là chuyện sau này. Stechkin ít tuổi hơn tôi và Isakov, bởi vậy mà đầu óc nhanh nhẹn hoạt bát hơn chúng tôi nhiều, sau đó ông ta sống khá ổn, năng lực đầy mình nhưng lại không được cất nhắc. Ông ấy rất bất bình, vậy là trong cao trào của cuộc cải cách những năm 80, ông đã đi tiên phong trong việc buôn bán tình báo. Sau khi âm mưu bị bại lộ, ông ấy đã bị KGB đuổi việc. Nhưng Stechkin chẳng vì thế mà buồn phiền chút nào, mà ngược lại còn làm ăn lớn hơn. Giai đoạn sau khi Liên Xô giải thể, mọi người đều rất mông lung, nhưng lúc đó Stechkin lại rất phong độ, không những buôn bán tình báo mà còn cùng với một số quan chức phục viên trong quân đội buôn lậu vũ khí. Cô cũng biết rồi đấy, làm nghề đó khó mà tránh khỏi những việc xung đột lợi ích hay giết người cướp hàng, Stechkin cũng không kém phần. Lần cuổi cùng tôi gặp ông ấy là ở trong ngôi biệt thự lộng lẫy của Stechkin, tôi khuyên ông ấy đừng làm những nghề đó nữa, nhưng ông ấy không nghe, ngược lại còn khuyên tôi gia nhập với họ, cuối cùng mọi người giải tán mà chẳng mấy vui vẻỗ Kết quả, việc làm ăn của Stechkin càng làm càng lớn, rút cuộc sau một lần xung đột với một băng đảng xã hội đen, sào huyệt của ông ấy đã bị cảnh sát hốt ừọn. Nghe nói sau đó bản tố tụng ông ấy dày hơn 200 trang, những oan hồn dưới tên ông ấy có hơn 30 người, ông ấy bị tuyên án chung thân.”

“Hiện giờ ông ấy đang bị giam ở đâu ạ?”

“Ông ấy vốn dĩ bị giam ở nhà tù dân sự, nhưng vì trong KGB ông ấy đã học được đầy rẫy kỹ năng, lại có thêm cả một số thành phần trong đảng phái của ông ta kết hợp tương trợ, nên Stechkin trước sau tổng cộng đã ba lần vượt ngục. Tuy ông ấy nhanh chóng bị bắt lại, nhưng trong tay ông ta lại thêm vài mạng người. Vậy là Bộ nội vụ thỉnh cầu Cục an ninh Liên bang tiếp nhận Stechkin.

Dù thế nào thì Stechkin cũng là do KGB huấn luyện ra, Cục an ninh Liên bang cũng hết cách, tuy không muốn nhưng cũng đành phải tiếp nhận Stechkin. Nghe nói, sau đó Stechkin bị nhốt trong nhà tù Bonika gần hồ Onega.”

“Nhà tù Bonika? Chính là nhà tù mà KGB trước đây giam giữ những phạm nhân quan trọng?”

“Đúng vậy, chắc là cồ biết nơi đó, đó chính là nhà tù Bonika đã từng khiến vô số người khiếp sợ. Những năm 30 của thế kỷ XX, theo lệnh của Beria, vận động cả ngàn nhân công xây dựng trong vòng năm năm mới hoàn thành. Tốn bao nhiêu thời gian và công sức như vậy không phải để nói rằng nhà tà đó to lớn nhường nào, hùng vĩ nhường nào, vì thực ra nhà tà Bonika không hề to, nhưng vì ở đó gàn kề với Bắc cực, xung quanh đầy rẫy những đầm lầy sát hồ Onega nên xây dựng vô cùng khó khăn. Mùa đông lạnh giá thi không thể nào thi công được, mùa hè thì đầm lầy không thể di chuyển được, mấy vạn nhân công mất hom hai năm mới xây được một con đường đi vào trong đó. Tôi đã từng tới Bonika một lần, cảnh tượng ở đó khiến tôi cả đời cũng không thể quên được, xung quanh là hoang nguyên và đầm lầy ngút ngàn. Những phạm nhân bị nhốt trong đó đừng bao giờ nghĩ tới vượt ngục, nếu có thoát được ra ngoài thì mùa đông không bị chết cóng thì cũng chết đói, còn mùa hè thì những đầm lầy mênh mông ngút tầm mất sẽ nuốt chửng họ một cách không thương tiếc. Cho tới tận giờ, đi vào trong đó chỉ có một con đường duy nhất, nên từ đó đến nay chưa từng cỏ phạm nhân nào vượt ngục thành công từ đó ra.

“Vậy chắc Stechkin sẽ phải an phận rồi chứ?” “ừm, kể từ đó trở đi, tôi không còn nghe được bất cứ tin tức gì về ông ấy nữa”.

“Xem ra cháu cũng phải tới Bonika một chuyến mới được.”

“Sao lại...” - Brainin có vẻ ngạc nhiên khi nghe thấy Yelena muốn tới Bonika, “Tôi không hiểu có vụ án gì mà lại liên quan tới hai người đó, một người đã chết cách đây bao năm, một người bị nhốt trong nhà tù Bonika vô cùng kiên cố.”

Yelena cười với Brainin, không trả lời. Cô ngước nhìn bầu trời bên ngoài, đã không còn sớm nữa, cô phải trở về Saint Petersburg trước khi trời tối. Vậy là, cô hỏi câu cuối cùng: “Bác có thể nói cho cháu biết, bác với Isakov và Stechkin quen biết nhau như thế nào không?” Brainin nghe xong câu hỏi của Yelena, lông mày lại khẽ chau lại. Yelena để ý thấy lông mày của Brainin càng nhíu lại càng chặt, cuối cùng đã chạm vào nhau, cô ra sức suy đoán tâm trạng của Brainin, ông sẽ trả lời câu hỏi này thế nào đây. Ông có thể rất dễ dàng bịa ra để đối phó, ví dụ như nói rằng quen biết khi nhận chức ở một ban ngành nào đó trong KGB, hoặc là quen biết lúc đi thực thi một nhiệm vụ nào đó, nhưng câu trả lời của Brainin lại khiến Yelena ngạc nhiên.

“Đó là bởi vì một người tên là Misha.”

“Ồ?” - Yelena giật thót tim, nhưng bên ngoài vẫn tỏ ra không có chuyện gì. Bởi vốn dĩ cô không ngờ rằng Brainin lại nhắc tới Misha, nhưng chính Brainin lại tự nhắc đến... “Misha đó là người thế nào? Hình như là tên gọi thân mật của ai đó?”

“Không, tôi không thể nói, đó cũng là một lần thực thi nhiệm vụ bí mật. Dĩ nhiên, là một nhiệm vụ bí mật rất nhàm chán, chẳng hề có đổ máu, cũng chẳng kinh hồn bạt vía, khô khốc vô vị nhưng lại rất nhẹ nhàng.”

Yelena tức tốc phán đoán từng câu nói thốt ra tò miệng Brainin, cô không nhận ra bất cứ điểm sơ hở nào:

“Nói như vậy tức là các bác quen nhau trong lúc thực thi nhiệm vụ đó?”

“Đúng vậy, sau đó lại cùng nhau thực thi vài nhiệm vụ khác, cũng đã từng làm việc cùng chỗ với nhau, bởi vậy đã dần dần trở nên thân nhau.”

Yelena vẫn không nhận ra bất cứ điểm sơ hở nào, cô thẫn thờ nhìn ngọn lửa đang dần lụi tàn trong lò sưởi, mãi cho tới khi Brainin ngắt quãng dòng suy tư của cô:

“Cô gái, cô có còn gì muốn hỏi không?”

“Hết… hết rồi ạ!” - Yelena định thần lại, nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi vội vàng đứng lên, cáo từ Brainin. Brainin liếc ra ngoài cửa sổ, nói: “Cô gái, giờ này e rằng không kịp về thành phố đâu.”

“Không kịp về thành phố?” - Yelena bắt đầu cảm thấy lo lắng, nếu bị lạc trong rừng... Yelena không dám nghĩ tiếp nữa, cô nhìn nhìn Brainin, đổ dồn ánh mắt khẩn cầu về phía ông.

7

Brainin ngẫm nghĩ một lúc, cuối cùng đề nghị Yelena: “Tôi thấy hay là như vậy đi, đêm nay cô hãy ở lại chỗ tôi, sáng sớm mai hãy trờ về thành phố.”

“Ở đây ạ?” - Người luôn tự tin mình là gan dạ như Yelena bỗng trở nên do dự. Cô vừa nghĩ tới việc sẽ ở lại một nơi như thế này, hơn nữa lại ở cùng với ông già tính khí cổ quái trước mặt nên không khỏi lo lắng. Bất giác cô lần mò khẩu súng trên eo.

Tất cả những điều này đều không lọt được qua mắt của Brainin, ông cười vài tiếng, nói: “Cô gái, cô là một đặc công mà lẽ nào cũng sợ sao?”

“Không... đâu ạ!” - Chính Yelena cũng nghe thấy giọng mình có chút sợ sệt.

“Đừng định dối tôi, tôi nhận thấy hết. Cô yên tâm, chỗ tôi đây rất an toàn, cô cũng càng không cần lo lắng về tôi, quân hàm của tôi cao hơn cô, tôi lấy danh dự của thiêu tướng đảm bảo với cô, thiếu tá Yelena! Kể cả có gặp phải nguy hiểm gì đi chăng nữa, không phải cô cũng mang theo súng đó sao? Chỗ tôi đây ngoài một khẩu súng săn cũ kĩ ra cũng chẳng có bất cứ vũ khí nào cả” - Brainin nhìn Yelena nói.

Yelena rụt tay về, cô cũng nhìn Brainin. Hai người nhìn nhau hồi lâu Yelena mới nói: “Cháu đã dám một mình tới đây rồi thì cũng không sợ qua đêm ở đây. Nhưng làm phiền bác quá, thiếu tướng Brainin.”

Trên mặt Brainin rốt cuộc cũng đã xuất hiện nụ cười, ông sắp xếp phòng cho Yelena, sau đó vào phòng, bắt đầu chuẩn bị bữa tối.

Sau bữa tối, Brainin thu dọn qua một chút rồi về phòng mình. Yelena không biết ông làm gì một mình trong phòng, phải chăng đối với cô thì buổi tối này cũng đủ trầy trật rồi. Ở đây không có tivi, cũng chẳng có máy tính, cũng không có ai để nói chuyện, Yelena đành phải trở về phòng minh, nằm một mình trên giường đọc tiểu thuyết. Đó là cuốn tiểu thuyết trinh thám của Mary Nina mà cô tự mang đến, Yelena vốn rất thích mang theo bên mình một cuốn tiểu thuyết để những lúc nhàm chán lấy ra đọc. Mary Nina là nhà văn mà cô rất yêu thích, cô rất ngưỡng mộ nữ thám tử Nastya dưới ngòi bút của Mary Nina, người mà chỉ cần ngồi trong văn phòng cũng có thể phá được các vụ án lớn. Cô thường nghĩ rằng, nếu mình mà là Nastya thì tốt biết mấy, như vậy thì sẽ không phải giống hiện giờ dầm mưa dãi nắng, hứng chịu khủng hoảng, nhưng điều đó không thể làm được!

Tiểu thuyết trinh thám chẳng mấy chốc đã đọc xong nhưng Yelena vẫn chưa buồn ngủ. Có thể là vì không muốn ngủ, cũng có thể là vì không dám ngủ. Yelena vén tấm rèm cửa dày cộm lên, nhìn ra ngoài cửa sổ, một vùng tối đen. Trong rừng sâu, ngoài những tiếng kêu, không biết của động vật gì, thì cũng chẳng có lấy âm thanh nào khác.

Yelena khẽ mở cửa phòng, bản thân cô cũng không hiểu sao mình lại đến phòng khách. Cô lấy một ngọn nến, nhìn xung quanh phòng, lửa trong lò sưởi đã tàn rồi, mọi thứ đều giống như những gì nhìn thấy buổi chiều, chỉ có... Yelena bỗng phát hiện ra vài khung ảnh được đặt trên lò sưởi, “Sao buổi chiều mình không để ý thấy nhỉ? Có lẽ do mình quá căng thẳng, cũng có thể là do chỉ tập trung nghe Brainin nói..- Yelena vừa nghĩ, vừa từ từ bước tới cạnh lò sưởi, nhấc ngọn nến trong tay phải lên, ánh nến âm u soi chiểu lên khung ảnh trên lò sưởi.

Trên lò sưởi tổng cộng có năm khung ảnh. Một khung ảnh mạ vàng, được làm rất công phu, đặt ở chính giữa, trong khung ảnh là một bức ảnh cũ đã ngả vàng, một người mẹ ôm một đứa bé sơ sinh. “Bức ảnh này cũ lắm rồi, có thể là ảnh Brainin hồi nhỏ!” - Yelena vừa nghĩ, vừa nhìn hai khung ảnh đặt bên trái khung ảnh mạ vàng. Một bức ảnh đen trắng trong đó là một đôi vợ chồng trẻ, nhìn họ ăn mặc trang điểm, Yelena đoán rằng đôi nam nữ trẻ tuổi trong ảnh này chính là Brainin hồi trẻ và phu nhân đã qua đời của ông. Bức ảnh trong khung ảnh còn lại là ảnh màu chụp cả gia đình, nhìn bối cảnh đằng sau hình như chính là bên ngoài căn biệt thự này.

Nhìn tiếp hai khung ảnh màu đen bên phải, một cái rất dài, bên trong là một bức ảnh đen trắng. Những người trong ảnh đều mặc quân phục, hàng đầu ngồi nghiêm chỉnh, hàng sau đứng thẳng tắp, giống như một bức ảnh tập thể. Yelena không nhìn rõ bức ảnh toàn người là người này, cô chỉ cảm thấy mặt những người trong ảnh giống hệt nhau, trắng trắng, mặt người này sát người kia, không chút tươi cười, không chút biểu cảm, giống như... giống như người chết. Nghĩ tới đây, Yelena bỗng thấy sống lưng mình lạnh toát. Cô lại di chuyển ánh nến tới bức ảnh cuối cùng bên phải, cũng là một bức ảnh đen trắng, bối cảnh là trong một rừng cây tuyết rơi trắng trời, phía gần là vài thanh niên đang chơi trò ném tuyết, phía xa vẫn còn vài người đang chơi ném tuyết. Yelena vô cùng hứng thú với bức ảnh này, cô vươn người, nhoài lên lò sưởi, chăm chú quan sát bức ảnh này, thì mới phát hiện ra những thanh niên trong ảnh đều mặc quân phục, giống như đồng phục của KGB năm nào. “Đây có lẽ là ảnh Brainin thời trẻ cùng đùa nghịch với chiến hữu của ông”. Trên khuôn mặt trong sáng của những thanh niên đó ngập tràn niềm vui, giây phút ngưng đọng lại trên bức ảnh đó thể hiện sức mạnh của tuổi trẻ. Yelena bất giác nhớ lại khoảnh khắc của mình trước đây, cô khẽ mỉm cười, vô thức đưa tay cầm khung ảnh đó lên. Nhưng đúng lúc đó, sau lưng cô bỗng vang lên giọng nói già cả khàn khàn.

“Cô Yelena, muộn thế này rồi, cô đang làm gì vậy?”

Yelena bị giọng nói đột ngột vang lên này làm cho giật bắn mình, khung ảnh trên tay cũng rơi trên lò sưởi. Cô vội vàng quay đầu lại nhìn, là Brainin. Không biết từ lúc nào, Brainin đã cầm một chiếc đèn pin, mặt mũi hầm hầm đứng sau lưng mình.

“Cháu không ngủ được, ra phòng khách ngồi chơi, sau đó trông thấy những khung ảnh này… - Yelena bối rối trả lời.

Brainin không nói gì, vẫn đứng nguyên chỗ cũ, lấy đèn pin soi lên những khung ảnh trên lò sưởi, sau đó mặt vô cảm bước tới cạnh Yelena, đưa tay nhấc chiếc khung ảnh đổ trên lò sưởi lên. Động tác mà Brainin nhấc khung ảnh rất nhẹ nhàng, cẩn thận, giống như đang làm một việc quan trọng vậy. Sau khi đã đặt khung ảnh vào vị trí cũ, ông quay lại nói với Yelena: “Bây giờ về phòng đi, tôi không cần biết cô có ngủ được hay không, trước khi trời sáng hy vọng cô đừng bước ra khỏi phòng mình.”

Đây là giọng ra lệnh, là mệnh lệnh của cấp trên với cấp dưới. Yelena hồn xiêu phách lạc không dám phản kháng, đành răm rắp lui về phòng mình. Brainin đứng đó quan sát Yelena về phòng rồi mới tắt đèn pin. Phòng khách lại chìm trong bóng tối.

8

Sáng sớm hôm sau, Yelena dậy sớm, cáo từ Brainin, lái chiếc Fiat của mình vội vàng quay trở lại thành phố.

Cô không nghỉ ngơi mà đã phi thẳng tới văn phòng của Ilyushin. Vừa ữông thấy Ilyushin, Yelena đã vào thẳng vấn đề: “Anh đã tới Bonika bao giờ chưa?”

“Bonika? Cô nói tới Bonika?” - Ilyushin giật mình nhìn Yelena.

“Đúng, chính là Bonika, nhà tù Bonika!”

“Đến rồi, sao... manh mối của cô lại hướng tới đó?

Nơi ấy chẳng hay ho gì.”

“Đúng vậy, anh đã đến đó rồi, vậy tôi không phải làm phiền ai khác nữa, phiền anh đưa tôi tới đó một chuyển nhé!”

“Sao cơ? Cô rủ tôi tới Bonika? Tôi không đến cái nơi quái quỷ đó đâu, hơn nữa nếu cô muốn tôi đưa cô đi thi phải nói với tôi lý do tại sao?”

“Không kịp giải thích với anh đâu, chúng ta lên xe nói sau!” - Nói xong, Yelena kéo Ilyushin ra khỏi cửa, và như vậy, Ilyushin bị Yelena vừa kéo vừa lôi, nhét vào chiếc Fiat trong sự ngạc nhiên mắt tròn mắt dẹt của mọi người.

Yelena nhấn ga, chiếc Fiat lại lao ra khỏi thành phố: “Cô thế này là bắt cóc đấy nhẻ! Sự bắt cóc vô liêm sỉ!” - Ilyushin gầm lên.

“Được rồi, cứ coi như tôi bắt cóc anh đi, bây giờ thì anh cũng không còn sự lựa chọn nào khác nữa rồi!”

“Vậy thì cô cũng phải nói cho tôi biết, tại sao phải đến cái nơi quái quỷ đấy?” - Ilyushin dịu giọng xuống.

“vẫn là bởi vì cái bảng danh sách đó!”

“Tôi hiểu rồi, cô đã đi tim Brainin, ông ấy nói cho cô biết tung tích của hai người đó. Lẽ nào... lẽ nào họ bị giam trong Bonika?” - Ilyushin có vẻ không tin vào điều đó, bởi trong Bonika chỉ chuyên giam giữ những tội phạm quan ừọng.

Yelena gật gật đầu: “Đúng vậy, tôi đã tới gặp Brainin. Ông ấy nói với tôi, Isakov đã chết cách đây hơn 20 năm rồi, còn Stechkin, chính là Strenov thì bị nhốt trong Bonika.”

“Ồ! Xem ra ông ta là một nhân vật quan trọng đây!” Vậy là Yelena kể lại cho Ilyushin nghe về tình hình cô biết được, sau đó, nói với Ilyushin: “Được rồi, tiếp theo sẽ đến lượt anh giới thiệu một chút cho tôi về Bonika!” “Giới thiệu gì nhỉ? Không phải cô đều đã biết rồi sao? Đó là noi giam giữ tội phạm nghiêm trọng, đã từng được cảnh giới phòng bị vô cùng nghiêm ngặt..

“Đợi đã, thế nào được gọi là đã từng?”

“Đã từng tức là Bonika hiện giờ không bằng trước đây nữa rồi. Thời kỳ huy hoàng nhất ở đó đã từng giam giữ 500 phạm nhân quan trọng nhất của KGB, và phụ trách canh giữ những phạm nhân này là 500 người, chia thành bốn ca, lần lượt thay phiên nhau, tường cao lưới điện, cảnh giới phòng bị nghiêm ngặt, căn bản đừng bao giờ hy vọng có thể thoát được ra ngoài. Kể cả có may mắn thoát được thì cuối cùng không chết rét trên hoang nguyên thì cũng rơi xuống đầm lầy, bao nhiêu năm qua chưa từng nghe thấy có ai ở đó vượt ngục thành công. Nhưng Bonika bây giờ không bằng trước kia nữa rồi.

Kể từ sau khi KGB giải thể, tình hình ở đó ngày càng đi xuống, kinh phí hạn hẹp, lòng người hoang mang, nhà giam đã nhiều năm không được sửa chữa, cộng thêm phạm nhân bị giam giữ ở đó càng ngày càng ít, bên trên càng không cấp kinh phí. hiện giờ số phạm nhân bị nhốt ứong Bonika không tới 50 người, phụ trách canh giữ họ cũng chỉ có hơn 30 cảnh vệ.”

“Hóa ra là vậy, xem ra ở đó cũng không phải là tường đồng cửa sắt gì!”

“Cũng không hẳn. Tuy không đủ kinh phỉ, Bonika hiện giờ không bằng trước đây, nhưng cái cốt lồi vẫn còn. Những cái khác không nói, chỉ nói riêng môi trường khắc nghiệt xung quanh thôi thì đã không thể có người thoát được ra ngoài rồi! - Ilyushin vẫn rất tự tin

“Vậy thì tốt...” - Yelena lái xe nửa ngày sau thì tới một thị trấn nhỏ. Ilyushin chỉ vào khách sạn duy nhât trong thị trấn, nói: “Nếu cô không muốn ở trong Bonika thì tối nay chúng ta phải ở lại đây thôi.”

“Ở lại đây, ngày mai chúng ta phải đi bao lâu nữa thì mới tới Bonika?”

“Chắc cũng phải mất hai tiếng lái xe nữa! Đây là thị trấn cuối cùng để đến Bonika rồi, tiếp theo đó cô sẽ tiến vào vùng đầm lầy và hoang nguyên mênh mòng, chẳng có lấy một bóng người. Bởi vậy, chúng ta bắt buộc phải nghỉ lại đây.”

Yelena hết cách, đành phải làm theo lời Ilyushin. Cả đêm không có chuyện gì xảy ra. Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời vừa lên, dưới ánh nắng rực rỡ chói lóa, Yelena và Ilyushin tiến vào vùng hoang nguyên mênh mông ngút ngàn. Yelena nhìn con đường nhỏ hun hút trước mắt, cô bắt đầu tin những lời Ilyushin nói, ở đây không thể có người thoát được ra ngoài.

9

Hai tiếng đồng hồ sau, một công trình kiến trúc đen sì cô độc xuất hiện trên hoang nguyên. Chiếc Fiat từ từ dừng lại trước công trình này, Yelena xuống xe, ngẩng đầu nhìn lên, đây là một lô cốt được xây dựng hoàn toàn bằng những viên gạch đen sì. “Đây chính là Bonika? Thật là giống một tòa lô cốt cổ kính thời trung cổ!” - Yelena lẩm bẩm nói.

“Lô cốt cổ kính thời trung cổ? Nghe cô nói vậy cũng thấy giống thật đấy!” - Ilyushin cũng nhìn lên tòa kiến trúc màu đen trước mặt.

Yelena quay lại nhìn Ilyushin vẫn đang ngồi trong xe. “Sao, anh không định xuống xe à?”

Ilyushin lắc đầu: “Tôi ở trên xe đợi cô thôi, tôi không muốn vào trong đó. Hơn nữa, thủ tục vào trong đó rất phức tạp, tôi không đi cùng cô nữa đâu!”

Yelena chán nản lắc đầu, đóng cửa xe, một mình bước vào công trình kiến trúc đen sì trước mặt. Sau khi qua phần kiểm tra thân phận một cách nghiêm ngặt, Yelena cuối cùng cũng đã được phép vào bên trong Bonika. Một trung úy tên là Igor tiếp đón cô, rồi khi cánh cửa sắt dày cộp nặng trịch trước mặt tò từ mở ra, một dãy hành lang đã hiện lên trước mắt Yelena. Trung úy Igor dẫn Yelena bước nhanh xuyên qua dãy hành lang tối đen, chỉ cỏ ánh đèn vàng vọt soi rọi trên đỉnh đầu mang lại chút ánh sáng cho nơi này. Yelena hỏi Igor: “Chỗ các anh đây hiện có bao nhiêu người canh gác?”

“Tất cả là 34 người, nhưng chúng tôi chia thành ba ca, bởi vậy bình thường canh gác ở đây chỉ có khoảng chục người, có lúc thậm chí không đủ 10 người.”

“Vậy ở đây cỏ bao nhiêu phạm nhân?”

“May mà phạm nhân ở đây hiện giờ không đông, nếu không thì một nhúm người chúng tôi sao đủ được? Phạm nhân tổng cộng có 28 người, toàn là những phạm nhân phạm tội nghiêm trọng, hoặc là những người làm tổn hại nghiêm trọng tới an ninh quốc gia.”

Yelena nghe xong, không nói thêm gì nữa. Cô đang nghĩ những người bị nhốt ở đây đều là người thế nào và Stechkin rốt cuộc là người thế nào. Không kịp để Yelena nghĩ ngợi lâu, sau khi đi qua những cánh cửa sắt, hai người đã bước vào khu vực nhà giam được canh phòng nghiêm ngặt. Trước cửa phòng giam, Yelena hỏi trung úy: “Stechkin ở đây có an phận không?”

“Stechkin? Nói thế nào nhỉ, tuy chúng tôi biết tội của ông ta rất nặng, nhưng ở đây ông ấy cũng được coi là thành thật, không sinh sự gây chuyện, thường một mình đọc sách hoặc ngồi thẫn thờ. Nhưng nói thật, chúng tôi biết ông ấy rất ghê gớm, bởi vậy trong lòng đều có chút sợ ông ấy.”

Trung úy Igor chỉ vào trong buồng giam, giới thiệu tiếp với Yelena: “Hiện tại 28 người bị nhốt ở đây đều là tội phạm nghiêm trọng, bởi vậy chúng tôi nhốt riêng họ, mỗi người một buồng, về cơ bản họ không qua lại tiếp xúc với nhau. Nếu cô muốn hỏi Stechkin thì đợi lúc nữa tôi sẽ dẫn ông ấy đến phòng thẩm vấn, cô sẽ thẩm vấn ông ấy ở đây nhẻ!”

Yelena gật đầu, rồi thấy trung úy dẫn theo hai người canh gác vào trong khu vực phòng giam. Chẳng mấy chốc, trung úy đã đi ra, nói với Yelena: “Chuẩn bi xong rồi, cô có thể bắt đầu rồi đấy!”

Yelena một mình đi vào phòng thẩm vấn. Phòng thẩm vấn rất rộng lớn, to hơn tất cả những phòng thẩm vấn mà Yelena từng nhìn thấy. Ở giữa phòng, một lan can sắt ngăn cách người thẩm vấn và phạm nhân. Yelena ngồi xuông ghế, nhìn vào người đối diện bên kia lan can sắt. Người đó chừng hom 60 tuổi, đầu trọc, cơ thể gày gò, Yelena không thể liên tưởng người đàn ông gầy gò quần áo tuềnh toàng trước mặt với một tuyệt đỉnh cao thủ dùng 20 viên đạn bắn chết 21 người trước kia. Người này bị còng trên một chiếc ghế sắt đặc chế, tuy còng tạy đã được tháo ra nhưng chân vẫn bị cùm nặng trịch, hơn nữa cùm chân, còn được gắn chặt vào ghế sắt. Người đó cúi đầu, giống như đang ngủ vậy, việc Yelena bước vào cửa cũng không khiến ông ngẩng đầu nhìn lên một cái.

“Đây chính là Stechkin giết người không ghê tay đây sao?” - Yelena tự hỏi rồi ngẫm nghĩ lại những câu hỏi mà cô đã nghĩ đi nghĩ lại trên đường.

“Stechkin? Ngẩng đầu lên!” - Yelena gọi thẳng biệt hiệu của Stechkin.

Người trước mặt khẽ nhúc nhích một chút, sau đó từ từ ngẩng đầu lên, đôi mắt màu tro với đày lòng trắng chằm chằm nhìn Yelena. “Sao cô lại biết biệt hiệu đó?” - Giọng nói lười nhác và khàn khàn, không thấy có bất cứ sự lo lắng, bất an nào. Điều này đã khiến Yelena âm thầm giật mình.

“Giờ chưa đến lượt ông hỏi tôi!”

“Vậy được, cô có gì cần hỏi?”

“Ông gia nhập KGB năm nào?”

“Cô đã biết cả biệt hiệu của tôi rồi, chứng tỏ cô đã biết rất rõ về tôi, sao cô còn phải tốn nước bọt để hỏi những câu vớ vẩn như vậy?”- Giọng nói đó vẫn lười nhác và khàn khàn.

Đây quả thực không phải là câu hỏi mà Yelena muốn hỏi, nhưng cô rất không hài lòng với câu trả lời của Stechkin, cô nổi nóng: “Trả lời câu hỏi của tôi!”

“Được thôi, tôi gia nhập KGB năm 1963.”

“Năm 1963, vậy ông nói xem năm 1964 ông đã làm những gì?”

“Năm 1964? Khà khà! Đây mới là câu mà cô muốn hỏi, sao ban nãy phải vòng vèo làm gì vậy?”

Yelena giật thót tim, lẽ nào Stechkin đã nhìn thấu ý đồ của cô?

10

Yelena làm ra vẻ trấn tĩnh, nghiêm túc nói với Stechkin: “Tôi muốn tìm hiểu toàn bộ tiểu sử của ông, ông bắt đầu kể từ khi gia nhập KGB đi!”

“Năm 1964?” - Stechkin nhìn Yelena bằng đôi mắt màu tro đầy lòng trắng, giống như đang hồi tưởng lại, “Năm 1964, tôi nhận nhiệm vụ đầu tiên, là đi giám thị… Ồ! Không! Không! Là đi bảo vệ, bảo vệ một người tên là Misha. Nhưng lúc đó ông đã có một cái tên mới, tên là Bo...ris gì gì đấy, tôi thực sự không nhớ rõ nữa. Nhiệm vụ đó rất nhàm chán, cũng rất vô vị, chắc cô hiểu ý tôi, nhưng tôi vẫn không ý kiến gì, bởi vì... bởi vì tôi rất trân trọng cơ hội đó. Cô phải biết rằng, người như tôi đây, từ nhỏ... từ nhỏ đã lớn lên tại vùng núi Transcaucasian, chẳng có mấy cơ hội..

Hình như Stechkin đã chìm đắm trong hồi tưởng, ông kể lúc liền mạch lúc lại ngắt quãng, nhưng dường như ông sẽ định kể hết với Yelena. “Năm 1964, cùng ông thực thi nhiệm vụ lần đó còn có ai?” - Yelena đột nhiên cắt ngang câu chuyện của Stechkin.

“Còn có ai? Để tôi nghĩ xem... đúng rồi, còn cả Isakov.. cái gã đấy dễ chừng cũng cao tới hai mét đấy!” “Ngoài Isakov ra?”

“Isakov! Năm 1965, Isakov bị điều đi, sau đó có một người tên là Brainin đến cùng tôi thực thi nhiệm vụ lần đó, nhưng cái gã này... cái gã này kinh nghiệm hơn tôi, rất tự kiêu, chẳng coi tôi ra gì, chẳng qua lão ta chỉ vào KGB sớm hơn tôi vài năm thôi mà. Cái gã đó, sau này... sau này còn được thăng chức thiếu tướng! Cô gái, cô xem, đất nước chúng ta hiện giờ đi theo quỹ đạo đó, những người đàn ông có bản lĩnh, uy lực như tôi thì lại bị nhốt trong này, sống mà như chết, còn kiểu như Brainin thì lại leo cao. Nhưng tôi nhìn ra cô không giống họ, toàn thân cô toát lên vẻ hấp dẫn... hấp dẫn lôi cuốn, tôi đã có thể cảm nhận được.. ”

“Ông nghiêm túc chút đi! Vậy sau năm 1965 thì sao?”

“Sau đó? Sau năm 1965 thì tôi bị điều đi, chuyện sau đó thì tôi... khà khà!”

Stechkin bỗng đột nhiên cười ngây dại. Yelena không thu hoạch được manh mối giá trị nào qua lời khai của Stechkin, những gì ông ta nói ngược lại đã chứng thực cho lời nói của Brainin. Yelena cảm giác kẻ giết người điên cuồng trước mặt hình như đã bị nhốt ở đây đến ngớ ngẩn, phản ứng rõ ràng là chậm chạp, ngôn ngữ lộn xộn, may mà trí nhớ của ông chưa có vấn đề gì. Nghĩ tới đây, Yelena cười nhạt, hòi tiếp Stechkin: “Hình như ông rất bất mãn với Brainin?”

Stechkin cũng cười nhạt: “Hừm hừm... đúng vậy!

Cô nói xem... nói xem tôi rốt cuộc có điểm gì kém ông ta? Vậy mà ông ta lại được thăng chức thiếu tướng cơ đấy, ha ha... bao nhiêu lần thực thi nhiệm vụ với ông ta, nếu không có tôi thì ông ta toi từ lâu rồi. Lần đó ở Việt Nam, họ để lạc tôi một mình trong rừng, khi tôi phát hiện ra mình chỉ có một mình, mất liên lạc với họ, tôi... tôi vô cùng sợ hãi, tôi đã tuyệt vọng...” - Stechkin nghiến răng, mắt trợn lên, đôi mắt này trông thật khủng khiếp, nhưng chỉ trong tức khắc, sự khủng hoảng trong đôi mắt đó đã biến mất, ông ta gào lên: “Sau đó, tôi.. tôi đã trông thấy bao nhiêu là quân Mỹ bao vây tôi, tôi bỗng không thấy sợ hãi nữa, đầu óc tôi chưa bao giờ tỉnh táo như vậy, tôi... Stechkin không hề lãng phí lấy một viên đạn.. đó là khoảnh khắc mà tôi đáng để tự hào nhất, nhưng đáng tiếc... đáng tiếc là lần đó chúng tôi thực thi nhiệm vụ bí mật, nếu không thì... nếu không thì, tôi đã nổi danh thiên hạ rồi... Ha! Ha! Ha! Ha!”

“Nhiệm vụ bí mật gì vậy?” - Yelena đột nhiên hỏi.

“Đi tìm một chiếc máy bay chiến đấu của quân Mỹ bị bắn rơi, tháo thiết bị điện tử trên máy bay đem về, lần đó, nhiệm vụ của chúng tôi được hoàn thành rất xuất sắc.” - Stechkin trả lời rất dứt khoát.

Yelena thấy nhiệm vụ bí mật đó không phải là điều mà cô hứng thú, bất giác có chút thiểu não: “Ông bất mãn với Brainin, vậy với những người khác thì sao? Với Isakov thế nào?”

“Isakov hữu dũng vô mưu, chỉ được mỗi cái thân xác cao to, ông ta mà có được một phần mười sự nhanh nhẹn của Brainin thì đã không chết tại Afghanistan!”

Giờ thi Yelena đã hiểu khá rõ về ba người mà cô điều tra. Cô lần lượt ghép từng mảnh ghép rời rạc trong đầu lại với nhau, dần dần, hình ảiứi ba người hiện lên trong đầu cô. Isakov cơ thể tráng kiện, hữu dũng vô mưu; Brainin xử lý công việc nhanh nhẹn, cẩn thận tỉ mỉ, còn Stechkin trước mặt đây bản lĩnh đày mình nhưng lại không được trọng dụng, vậy là đã rẽ sang con đường tội lỗi, hiện giờ xém chút nữa cũng sắp điên đến nơi.

Yelena đang suy ngẫm thì Stechkin lại mở miệng, giọng ông rất bình tĩnh: “Nói thật lòng, tôi làm việc trong KGB bao nhiêu năm nhưng chẳng thấy mấy người có năng lực, ít nhất cũng chẳng có mấy người giỏi hơn tôi, chỉ duy nhất có một người khiến tôi phải phục.”

Yelena đang định hỏi đó là ai, không ngờ Stechkin không biết lấy sức mạnh từ đâu ra, đột nhiên giằng ra khỏi chiếc ghế sắt, kéo theo chiếc cùm chân nặng trịch, chồm về phía Yelena giống như phát điên vậy. Tiếng động ầm ĩ thức tỉnh Yelena, đối diện với hành động bộc phát của Stechkin. Yelena hoảng hốt không biết phải làm gì, cô vội vàng lùi lại phía sau, cho tới khi không còn đường để lùi lại nữa, người áp sát vào tường.

Lan can sắt được cố định đã ngăn Stechkin điên cuồng lại, Stechkin kéo theo cùm chân và xích sắt leo lên lan can sắt, chúi đầu vào giữa hai thanh lan can, trợn trừng đôi mắt khủng khiếp của ông ấy, nhìn chằm chằm Yelena đang hoảng hốt. Yelena tựa vào tường, thở hổn hển, cô hoàng hốt mở to mắt, không biết Stechkin, kẻ giết người điên cuồng này định làm gì.

Rốt cuộc, sau khi chảy nước miếng xuống sàn nhà, Stechkin lại mở miệng: “Cô gái, hiện giờ tôi biết vẫn còn một người khiến tôi nghiêng ngả, chính là cô, cô! Cô có biết tôi đã sống những ngày như thế nào trong này không? Ngày không thấy mặt trời, tôi, Stechkin không gì là không thể làm đã bị nhốt trong này tròn mười năm rồi!” - Nói tới đây, Stechkin bỗng im bặt, yết hầu của ông ta ra sức rung lên, ngay sau đó, lại gào lên với Yelena thỉnh càu: “Cô hãy thương hãy thương lấy tôi, tôi đã mười năm nay chưa nhìn thấy phụ nữ, chưa được chạm vào làn da mềm mại của họ. Trước khi cô vào đây, tôi đã ngửi thấy mùi của cô, tôi biết đây chính là gu của mình, quả nhiên..- Nói xong, Stechkin bò lên lan can nhắm mắt vẻ đê mê.

Yelena thở hổn hển, cô hiểu rằng hôm nay mình không chỉ nói chuyện với một kẻ sát nhân điên cuồng mà còn gặp phải một gã siêu biến thái.

11

Đúng lúc Yelena cuống quýt hoảng sợ thì trung úy Igor và hai lính gác bên ngoài nghe thấy động tĩnh liền xông vào. Ba người dùng dùi cui xúm vào đánh Stechkin, định lôi Stechkin về, nhưng ông ta sống chết bám vào lan can, mặc cho dùi cui quật lên cơ thể cững không chịu buông tay.

Yelena tận mắt chứng kiến cảnh tượng này, cô không trông thấy bất cứ vẻ đau khổ nào trên mặt Stechkin mà chỉ có kiểu cười dị dạng. Yelena bất giác toàn thân run rẩy, cô bỗng cảm thấy cơ thể vốn không cao ráo của Stechkin lúc này càng trở nên gầy gò. Stechkin bật ra tiếng kêu gào thảm thiết, rồi rốt cuộc đã bị ba người đàn ông vạm vỡ đè ra đất, ông ta bị còng tay lại, còng thêm cùm chân, sau đó bị trung úy Igor và hai lính gác kéo vào giống như kéo một con chó chết vậy.

Phòng thẩm vấn rộng thênh thang đã yên tĩnh lại.

Yelena vẫn hồn xiêu phách lạc, cô muốn rời khỏi đây, cô không thể ở lại đây thêm một giây phút nào, nhưng cô cảm thấy đôi chân của mình hình như đã tê cứng. Mãi một lúc sau, đôi chân của Yelena mới dần dần phục hồi cảm giác, cô vịn tường, chầm chậm bước ra khỏi cửa phòng thẩm vấn.

Yelena không biết mình đã mất bao nhiêu thời gian mới ra được khỏi Bonika. Trước cánh cửa màu đen của Bonika, rốt cuộc cô cũng đã hít thở được không khí nhân gian. Cô định thần lại, quay lại hỏi trung úy Igor: “Stechkin trước đây có hành vi như vậy không?”

Trung úy lắc lắc đầu đáp: “Không có, từ trước nay nơi chưa từng, có lẽ...”

“Sao cơ?”

“Có lẽ do cô là phụ nữ, cô đến nên đã kích thích ông ta!” - Viên trung úy đoán mò nói.

Yelena không nói thêm gì nữa. Cô quay lại xe, mặc cho Ilyushin hỏi thế nào cô cũng nhất định không mở miệng, mà chỉ lặng lẽ lái xe. Chiều hôm sau, khi họ gần về tới Saint Petersburg, Ilyushin nhìn Yelena vẫn mặt lạnh như băng, nên nói: “Tôi đã nói rồi, đừng có đến Bonika, sao rồi, bị kinh động rồi phải không?”

Yelena rốt cuộc đã mở miệng: “Nhưng dù sao cũng không phí công đến.”

“Ồ! Cô đã hỏi được gì vậy?”

“Những gì Stechkin nói cơ bản khớp với Brainin, cho thấy Brainin không hề nói dối.”

“Như vậy cũng có nghĩa là cuộc điều tra của cô mấy hôm nay đã trở nên vô nghĩa, ba người này và toàn bộ sự việc chẳng liên quan gì tới nhau cả.”

“Có lẽ là vậy. Nhưng, vẫn còn một nơi tôi chưa tới.” “Đâu vậy?

“Mộ của Isakov!”

“Thôi đi! Tình hình về Isakov không phải tôi đã nói với cô rồi đó sao? Lúc cô tới tìm Brainin, tôi cũng không ngồi chơi mà đã điều tra rất nhiều nhân chứng, những người đó đều chứng minh Isakov quả thực đã chết ở Afghanistan.”

“Tôi biết, nhung tôi vẫn phải đến thử xem. Anh xem, phía trước có ga tàu hỏa, có thể về thành phố, tôi sẽ để anh xuống đó, anh tự lên tàu về nhé!”

“Không! Cô không thể đối xử với tôi như vậy được, dừng một câu thành ngữ của người Trung Quốc thì có thể nói là cô đã ‘vắt chanh bỏ vỏ’ đấy!” - Ilyushin bất mãn gào lên với Yelena.

Nhưng không để Ilyushin nói tiếp, Yelena đã dừng xe trước cửa ga, đẩy anh ta xuống xe.

Mộ của Isakov nằm trong một nghĩa trang rộng lớn ở ngoại ô. Lúc Yelena tìm tới được trước mộ của Isakov thi trời đã nhá nhem tối, những bông tuyết đang lất phất bay. Đây là một ngôi mộ rất thường thấy, trên bia mộ bằng đá hoa cương có khắc: “Thiếu úy Vasily Alekseevich Isakov”.

Yelena đứng rất lâu trước mộ Isakov, cô đang suy ngẫm, cô phải phát hiện được manh moi trong so ba người này, nhưng cuối cùng cô đã lần lượt loại trừ sự khả nghi với Brainin, Stcchkin và Isakov, bởi cô không tim được bất cứ sơ hở nào.

Đột nhiên, Yelena quay ngoắt lại nhìn phía sau lưng, phía sau là từng dãy bia mộ. Cô lại nhìn sang bên cạnh, vẫn là từng ngôi mộ. Cô nhìn xung quanh, chính cô đang ở giữa biển bia mộ mênh mông. Trời càng âm u, cô không trông thấy bất cứ ai, nhưng Yelena lại cảm thấy có một đôi mắt, một đôi mắt đang âm thầm nhìn cô chằm chằm...



Đường Phong đọc xong email dài đằng dặc của Yelena cũng đã tới rạng sáng. Anh cảm thấy đầu óc trở nên rối rắm, anh dứt khoát nhắm mắt lại, chìm trong suy tư. Anh đang nghĩ rốt cuộc năm 1964 đã xay ra chuyện gì? Trung Quốc nổ thảnh công quả bom nguyèn tứ đầu tiên, Tổng bí thư Đảng cộng sàn Liên Xô Khrushchev hị hạ bệ. Liệu có còn xảy ra chuyện gì nữa?Lẽ nào năm đó đã thực sự đã nảy sinh một âm mưu to lớn gì?
 

hoahongden12

Active Member

Vén lớp vải trắng lên, trước mắt mọi người hiện lên pho tượng hình đầu phụ nữ bị đập nát nửa mặt, Đường Phong nhìn mũi, mắt, môi, tai bị vỡ nát của đầu pho tượng bỗng cảm thấy chúng hình như có chút quen thuộc... Đúng! Cung điện Mùa Đông, đầu pho tượng phật Lư Xá, xem ra người thợ chế tác pho tượng đó ngày xưa đã mô phỏng đúng theo xương sọ và dung mạo của chủ nhân để đúc nên. Trời ơi! Đây đúng là dung nhan của hoàng hậu Một Tạng sao?

1

Vài hôm sau, vào một buổi tối, Đường Phong, Hàn Giang, Triệu Vĩnh, Từ Nhân Vũ và giáo sư La tập trung tại phòng hội ý. Sau khi giáo sư La xử lý xong kệ tranh ngọc thứ hai, đã giải mã được văn tự Tây Hạ trên đó, thì mặt ông vui vẻ tươi cười, xem ra tâm trạng khá ổn. Đường Phong vừa nhìn thấy ông liền nói: “Giáo sư La, chắc chắn ông đã có phát hiện mới gì thì mới vui vẻ như vậy.”

Giáo sư La gật gù: “Không sai, gần đây sau khi nghiên cứu kệ tranh ngọc và cuốn sổ ghi chép của Misha, quả thực tôi đã phát hiện một vấn đề rất lớn. Đúng như trước đây tôi từng suy đoán, mặt sau của kệ tranh ngọc thứ hai vẫn là bản đồ khắc chìm, và văn tự trên mặt chính của nó lại tiết lộ về tin tức của kệ tranh ngọc thứ ba. Trên kệ tranh ngọc này nhiều hơn trên kệ tranh ngọc thứ nhất một câu thơ, tổng cộng là bốn câu thơ bằng chữ Tây Hạ.

Tôi đã dịch nó ra tiếng Hán, dĩ nhiên không thể chuẩn xác một trăm phần trăm, cũng không thành vần, nếu có chỗ nào không đúng thì mong mọi người chỉ giáo.”

“Giáo sư La, ông không phải khiêm tốn, trong số những người chúng ta đây, ông là người giỏi nhất rồi, nếu ông mà không được nữa thì chúng tôi càng không ổn!” - Hàn Giang khẳng định.

“Đúng vậy! Ông mau nói nhanh nào!” - Đường Phong thúc giục giáo sư La.

Lúc này giáo sư La mới đọc ra bốn câu thơ mà ông dịch: “Đó là bốn câu thơ bằng chữ Tây Hạ, dịch ra đại ý là thế này "Hạo thiên thành mệnh thanh thiên tử, hùng ưng triển sí chấn sóc mạc, Hạ Lan thần sơn vương bá nghiệp, tổ tông tí hựu giới đàn tự”.

“Nghĩa là gì vậy? Sao nghe giống thơ Đường luật vậy?” - Từ Nhân Vũ hỏi.

“Bởi vậy tôi mới bảo dịch ra thơ chưa chắc đã chuẩn xác, nhưng ý nghĩa thì tương tự nhau thôi. Hai câu đầu trong bốn câu thơ này rất dễ hiểu, ‘Thanh thiên tử’ ý chỉ hoàng đế Tây Hạ, ở đây cũng có khả năng là để chỉ Nguyên Hạo, bởi Nguyên Hạo đã từng nói rằng số phận của hoàng đế trung nguyên chính là Hoàng thiên tử, ông tự xưng mình là thanh thiên tử, tức con trời. Hai câu thơ này ca tụng công lao của Nguyên Hạo đã lãnh đạo người Đảng Hạng gây dựng nên vương triều Tây Hạ, gần như chẳng liên quan gì tới chuyện kệ tranh ngọc, mấu chốt là ở hai câu sau. Từ hai câu thơ ‘Hạ Lan thần sơn vương bá nghiệp, tổ tông tỉ hựu giới đàn tự’cho thấy hình như đang thỉnh cầu sự che chở của tổ tông và thần núi Hạ Sơn, nhưng cuối cùng đã cụ thể nhắc tới nơi gọi là ‘Tự giới đàn’, điều này rất kỳ lạ, cũng rất không bình thường, hoàn toàn không liên quan gì tới mấy câu thơ phía trước.”

“Ông đang nghi ngờ ‘Tự giới đàn’ chính là nơi cất giữ kệ tranh ngọc thứ ba?” - Đường Phong hỏi lại.

Giáo sư La khẽ gật đầu: “ừm, dù sao chúng ta đã từng chứng thực được ý đồ thực tế của những câu thơ bằng chữ Tây Hạ trên kệ tranh ngọc trước đó rồi, vậy thì chúng ta hoàn toàn có lý do để tin rằng, cái nơi gọi là “Tự giới đàn” này cũng giống như Hắc Đầu Thạch Thất vậy, là nơi cất giữ một trong những kệ tranh ngọc.”

“Vậy ‘Tự giới đàn’ đó ở đâu?” - Triệu Vĩnh vồn vã hỏi.

“Không phải vội, muốn biết rõ ‘Tự giới đàn’ ở đâu, vậy thì trước tiên chúng ta phải làm rõ ‘Tự giới đàn’ này đã. Rõ ràng ‘Tự giới đàn’ này chính là một ngôi chùa Phật giáo. Tây Hạ cũng sùng bái đạo Phật, nghe nói rằng Tây Hạ thời hưng thịnh, chùa chiền thờ Phật có mặt khắp nơi, nhưng cái ‘Tự giới đàn’ rốt cuộc ở đâu? Tôi đã suy ngẫm rất lâu mới có được một manh mối. Hiện giờ khắp cả nước có nhiều những ngôi chùa được gọi là ‘Tự giới Bi đàn’, nhưng những ‘Tự giới đàn’ đó chắc chắn không liên quan gì tới ‘Tự giới đàn’ trong câu thơ, vì ‘Tự giới đàn’ này chỉ có khả năng trong địa phận Tây Hạ. Còn về phán đoán này, trước tiên tôi đã tìm kiếm về sử chí Tây Hạ, tìm kiếm tung tích của ‘Tự giới đàn’, nhưng trong lúc tìm kiếm, tôi bỗng tìm thấy một ghi chép quan trọng liên quan tới ‘Tự giới đàn’. Đường Phong, chắc chắn cậu đã biết tới Nguyên Hạo và hoàng hậu Một Tạng, dĩ nhiên lúc đó bà vẫn chưa phải là hoàng hậu mà là đại sư Một Tạng, hai người họ đã gặp nhau ở đâu nhỉ?”

Đường Phong bừng tỉnh: “Trong sử sách nói, Một Tạng Thị bị Dã Lợi hoàng hậu lúc đó vì rất đố kị với bà, nên đã đưa tới ‘Tự giới đàn’. Vậy ý ông là ‘Tự giới đàn’ được nhắc tới trên kệ tranh ngọc, khả năng chính là ‘Tự giới đàn’ mà hoàng hậu Một Tạng từng xuất gia làm ni cô?”

Giáo sư La gật đầu khẳng định: “Tôi đang nghĩ như vậy, nếu như vậy thì cậu hãy quay lại đọc mấy câu thơ này sẽ có nhận định khác hẳn.”

“Nhận định khác hẳn?” - Đường Phong nghi ngờ nghiền ngẫm lại mấy câu thơ. Đột nhiên, mắt anh sáng bừng, miệng reo lên: “Tôi hiểu rồi, bốn câu thơ này nếu nói là thơ cũng đúng mà nói là cấu sử kí thì càng đúng hơn. Nó giống hệt ba câu thơ trên kệ tranh ngọc thứ nhất, ghi chép lại lịch sử của người Đảng Hạng. Kệ tranh ngọc thứ nhất nói về lịch sử khởi nguồn của người Đảng Hạng, còn trên kệ tranh ngọc này lại ghi chép lịch sử gây dựng vương triều Tây Hạ của người Đảng Hạng, hơn nữa còn ghi chép rất rõ ràng. Câu đầu tiên trong bốn câu thơ này nhắc tới ‘Thanh thiên tử’ chắc là chỉ hoàng đế Nguyên Hạo khai quốc Tây Hạ, còn câu cuối cùng ‘Tổ tông tí hựu giới đàn tự’ thực ra ám chỉ hoàng đế Tây Hạ đời thứ hai Lượng Tộ, bởi vì sau khi Nguyên Hạo và Một Tạng Thị gặp gỡ nhau tại ‘Tự giới đàn’ mới sinh hạ ra Lượng Tộ. Và đồng thời, bên cạnh việc ghi chép ca tụng lịch sử của người Đảng Hạng, trên kệ tranh ngọc cũng để lại tin tức quan trọng về nơi cất giữ kệ tranh ngọc, tấm đầu tiên là ở Hắc Đầu Thạch Thất, tấm thứ hai chắc là ở ‘Tự giới đàn.”

2

Giáo sư La rất hài lòng với suy luận của Đường Phong: “Khá lắm, nhưng đây chỉ là những suy đoán của cá nhân tôi mà thôi. Sau đây tôi sẽ trả lời câu hỏi ban nãy của Triệu Vĩnh, ‘Tự giới đàn’ đó ở đâu? Thực ra câu thơ thứ ba đã nói ra rồi.”

“Núi Hạ Lan?” - Đường Phong bất ngờ hỏi.

“Đúng, chính là núi Hạ Lan. Núi Hạ Lan có vị trí vô cùng quan trọng trong lòng người Đảng Hạng, giống như núi Thái Sơn trong lòng người Hán vậy, bởi vậy tôi suy đoán ‘Tự giới đàn’ chắc là nằm trên núi Hạ Lan.”

“Nhưng theo trí nhớ của tôi thì trong sử sách đâu có ghi chép cụ thể nào về ‘Tự giới đàn’ trên núi Hạ Lan đâu?” - Đường Phong không hiểu.

“Đúng là không ghi chép lại, nhưng chúng ta có thể thông qua một vài ghi chép lịch sử rõ ràng khác để suy đoán. Ban đầu, Nguyên Hạo đã giết chết người chồng trước của Một Tạng Thị là Dã Lợi Ngộ Khất, rồi thấy Một Tạng Thị xinh đẹp, muốn nạp bà làm phi. Nhưng lúc đó hoàng hậu Dã Lợi, chính là em gái của Dã Lợi Ngộ Khuất, đố kị với vẻ đẹp của Một Tạng Thị và cũng không thể chấp nhận được việc chị dâu mình lại trở thành phi tử của Nguyên Hạo, vậy là hoàng hậu Dã Lợi kịch liệt phản đối việc nạp Một Tạng Thị làm phi, đề xuất đưa Một Tạng Thị tới ‘Tự giới đàn’ xuất gia làm ni cô. Nguyên Hạo cũng vướng phải chuyện Một Tạng Thị trước đây đã từng là vợ của Dã Lợi Ngộ Khuất, nên đành phải đồng ý đưa Một Tạng Thị tới ‘Tự giới đàn’. Cậu nghĩ xem, do đố kị mà hoàng hậu Dã Lợi đã đề xuất việc đưa Một Tạng Thị tới ‘Tự giới đản’ xuất gia làm ni cô, vậy thì ‘Tự giới đàn’ đó có thể ở trong thành phủ nhộn nhịp không?

Rõ ràng là không thể. Vì bà ta chắc chắn muốn Một Tạng Thị đi càng xa càng tốt, bởi vậy từ đó có thể suy đoán:

‘Tự giới đàn’ không thể ở trong thành phủ đông đúc, mà khả năng là trên núi Hạ Lan.” - Giáo sư La nói tới đây, dừng lại một lúc, nói tiếp: “Còn nữa, rất nhiều sử sách đã từng ghi chép Nguyên Hạo những năm cuối đời đã rời cung tới núi Hạ Lan, thường giao phó triều chính lại cho tướng quốc Một Tạng Ngoa Bàng, còn mình thì tới núi Hạ Lan tuần thú săn bắn, hoàn toàn không giống với Nguyên Hạo mưu đồ chính trị anh mình nhạy bén năm nào. Căn cứ vào đó, tôi đoán rằng sự thay đổi khác thường của Nguyên Hạo những năm cuối đời chính là để tới ‘Tự giới đàn’ trên núi Hạ Lan, âm thầm gặp gỡ Một Tạng Thị.”

“Chỉ vì một người đàn bà mà như vậy sao?” - Triệu Vĩnh lắc đầu.

Đường Phong lại nói: “Bây giờ tôi hoàn toàn đồng ý với suy đoán của giáo sư La. Nhưng rốt cuộc Một Tạng Thị là người đàn bà thế nào mà lại khiến Nguyên Hạo điên đảo đến như vậy?”

“Chắc chắn là bà ta phải có một vẻ đẹp mê hồn, nên mới có thể khiến cho Nguyên Hạo từ bỏ vô số phi thiếp hậu cung mà chỉ yêu thương sùng ái một người đàn bà đã có một đời chồng như bà ta. Tôi cũng không thể hình dung ra dung mạo của Một Tạng Thị như thế nào nữa!” - Giáo sư La cảm thán.

“Ông sẽ mau chóng biết được thôi, tôi đã nhờ giáo sư Trần Tử Kiến phục dựng lại dung mạo của hoàng hậu Một Tạng dựa vào xương sọ đem về từ Saint Petersburg rồi!” - Hàn Giang nói chắc chắn.

“Nhưng núi Hạ Lan cũng rất rộng lớn, và ‘Tự giới đàn’ này e rằng đã bị nhấn chìm trong dòng chảy lịch sử từ bao đời nay rồi. Vậy chúng ta làm thế nào để tìm ra ‘Tự giới đàn’ đó đây? Lần này chắc sẽ không có đại Lạt Ma nào dẫn đường cho chúng ta nữa đâu!” - Đường Phong vẫn không biết mục tiêu cụ thể của họ là đâu. 

Giáo sư La cười nói: “Cái này thì phải nhờ vào cuốn sổ ghi chép của Misha.”

“Cuốn sổ ghi chép của Misha!”

“Tôi cũng giống anh khi nghĩ tới việc này. Với bao năm kinh nghiệm khảo sát và nghiên cứu lịch sử Tây Hạ, tôi có thể khẳng định, đến nay trên núi Hạ Lan chưa từng phát hiện thấy một ngôi chùa nào tên là ‘Tự giới đàn’, vậy thì ‘Tự giới đàn’ này rốt cuộc ở đâu đây? Cuốn sổ ghi chép của Misha đã giúp tôi rất nhiều. Dĩ nhiên những thứ ghi chép trong cuốn sổ đó rất lộn xộn, rất nhiều chỗ đã bị xóa mất, lại viết bằng nhiều loại ngôn ngữ khác nhau, hỗn loạn rối rắm, nên tôi đã phải tốn rất nhiều công sức mới có được phát hiện đáng kinh ngạc.”

3

“Phát hiện đáng kinh ngạc?” - Đường Phong không biết rốt cuộc Misha đã phát hiện được gì trong cuốn sổ ghi chép của Misha.

“Đường Phong, lẽ nào cậu không phát hiện thấy sao? Phía sau cuốn sổ ghi chép của Misha có tới mấy chục trang ông ấy chép lại ‘Thánh lập nghĩa hải’ bằng chữ Tây Hạ.”

“Chính là bộ địa lý học nổi tiếng của Tây Hạ ư?”

“Đúng vậy, chắc cậu cũng biết rồi, ‘Thánh lập nghĩa hải’ không dài, chép lại nó vốn không cần tới mấy chục trang, Misha không những sao chép lại ‘Thánh lập nghĩa hải’, mà đồng thời còn lúc dùng tiếng Nga, lúc dừng tiếng Trung, để viết lại rất nhiều ý kiến nghiên cứu của mình bên cạnh nội dung chính của ‘Thánh lập nghĩa hải’. Ngoài ra, điều khiến tôi ngạc nhiên là: những học giả nghiên cứu Tây Hạ chúng tôi đều biết: ‘Thánh lập nghĩa hải’ vốn được Kozlov phát hiện vào năm 1909 tại Hắc Thủy Thành, hiện giờ đang được cất giữ lại Saint Petersburg...”

“Đúng, tôi đã nhìn thấy cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ đó trong cung điện Mùa Đông!” - Đường Phong ngắt lời giáo sư La.

“Ừm, chính là cuốn mà cậu nhìn thấy, nhưng cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ đó không đầy đủ, đây cũng là điều đáng tiếc rất lớn trong nghiên cứu Tây Hạ. Thế nhưng điều khiến tôi kinh ngạc là: phần ‘Thánh lập nghĩa hải’ mà Misha sao chép trong cuốn sổ đó lại rất đầy đủ!” “Sao... Vậy là thế nào? Giới học thuật luôn cho rằng cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ mà Kozlov đem về từ Hắc Thủy Thành bị thiếu sót, sao Misha lại đọc được cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ hoàn chỉnh?” - Đường Phong nghi ngờ.

Giáo sư La cũng chau mày: “Chỉ có hai khả năng, một là Misha thông qua một cách nào đó có được một cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ hoàn chỉnh, nhưng tôi cho rằng khả năng này rất nhỏ; còn một khả năng nữa, cuốn ‘Thanh lập nghĩa hải’ mà năm đó Kozlov đem về Saint Petersburg vốn là cuốn hoàn chỉnh, nhưng sau đó do một nguyên nhân nào đó đã không còn nguyên vẹn. Khả năng này lớn hơn, và từ dấu tích mà Misha sao chép lại cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ này cho thấy, nó đã được ghi chép từ trước đó rất lâu. Bởi vậy, tôi suy đoán khả năng Misha đã từng đọc cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ từ lâu lắm rồi và đã sao chép lại vào cuốn sổ của ông. Sau này, khi cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ của cung điện Mùa Đông bị thất lạc một phần, thì cuốn sổ ghi chép của Misha ngược lại đã trở thành bản duy nhất.

“Nhưng tại sao nguyên gốc của cuốn ‘Thánh lập nghĩa hải’ lại bị thiếu khuyết như vậy?” - Đường Phong hỏi.

Giáo sư La xua xua tay, nói: “Đây không phải mấu chốt của vấn đề, cũng không phải là vấn đề mà chúng ta cần nghiên cứu. Mấu chốt của vấn đề là, tôi đã phát hiện ra một manh mối rất quan trọng trên bản ‘Thánh lập nghĩa hải’ do Misha sao chép lại này. Mọi người nhìn chỗ này..- Nói xong, giáo sư La chỉ vào một trang trên cuốn sổ, nói với mọi người: “Ở đây, bên cạnh phần nội dung chính của ‘Thánh lập nghĩa hải’ mà Misha sao chép lại bằng chữ Tây Hạ, Misha đã viết chêm vào một đoạn viết bằng chữ Hán rất rất nhỏ.”

Dưới sự chỉ dẫn của giáo sư La, Đường Phong mới nhận ra đoạn chữ Hán đó: “Lúc tham gia khảo sát khoa học, đã cùng Lương và những người khác tới thám hiểm sâu trong núi Hạ Lan, trông thấy một ngôi chùa đổ nát lụp xụp, chỉ còn lại một gian Phật điện, rất ít hươngkhói. Hỏi người dân trên núi, họ nói rằng ngôi chùa này tên là Hắc Thứu Tự. Sau khi vào trong chùa khảo sát cụ thể thì thấy Phật điện nhỏ được xây dựng từ những năm Dân quốc, tuy bên ngoài nơi này trông giống như di vật Tây Hạ, nhưng quy mô to lớn. Điều tra tiếp hang động và đồng cỏ xung quanh thì thấy rất nhiều kiến trúc Tây Hạ. Lại thấy điện đường không chỉ có một gian, dáng vẻ phi phàm, nhưng tại sao giờ chỉ còn lại gạch nát mà thôi. Buổi đêm, cùng Lương và mọi người nghỉ lại Hắc Thứu Tự, tiếng động lạ phát ra liên hồi, cộng thêm môi trường nguy hiểm, khắc nghiệt, đến hôm sau thì rời đi. Đến giờ hồi tưởng lại, vẫn thấy việc này kỳ lạ, Hắc Thứu Tự chắc chắn không phải là một ngôi chùa thường, trong đó nhất định có điều huyền bí.”

Mọi người đọc xong đoạn ghi chép này của Misha đều chìm trong suy tư.

4

Đường Phong trầm tư hồi lâu, cuối cùng đã có một suy đoán táo bạo: “Ông nghi ngờ rằng ngôi chùa có tên Hắc Thứu Tự đó rất có khả năng chính là ‘Tự giới đàn’ mà trên kệ tranh ngọc nói tới?”

Giáo sư La không vội trả lời câu hỏi của Đường Phong: “Đường Phong, mọi người đừng vội vàng kết luận; từ đoạn ghi chép này cậu có được những tin tức gì?” “Đoạn ghi chép đó quả thực đã tiết lộ rất nhiều tin tức, tôi tổng kết lại một chút, ít nhất có năm điều. Một là, khi Misha tham gia đội thám hiểm, đã cùng Lương Vân Kiệt và mọi người đến núi Hạ Lan khảo sát, điều này trước đây chúng ta không biết; hai là, họ đã phát hiện ra một ngôi chùa nằm sâu trong núi Hạ Lan, dân địa phương gọi ngôi chùa này là Hắc Thứu Tự; ba là, họ đã khảo sát ngôi chùa và phát hiện ra nó được xây dựng sớm nhất cũng vào thời kỳ Tây Hạ, chỉ có điều lúc họ phát hiện thấy thì phần lớn kiến trúc của ngôi chùa đã bị hủy hoại; bốn là, ban đêm lúc họ nghỉ lại tại Hắc Thứu Tự đã nghe thấy những âm thanh quái dị, cộng thêm môi trường ở đó rất khắc nghiệt nên ngày hôm sau họ đã vội vã lên đường; năm là, sau này Misha vô cùng ân hận vì lần đó đã bỏ đi nhanh như vậy, ông cho rằng Hắc Thứu Tự rất có giá trị, chắc chắn không phải là một ngôi chùa thông thường!” - Đường Phong nói ra phán đoán của mình.

Giáo sư La gật gù: “Đường Phong tổng hợp lại rất đúng, một đoạn ghi chép không hề bắt mắt như vậy, nhưng lại hàm chứa bao nhiêu tin tức. Thế nhưng cậu vẫn còn bỏ sót mất một điều.”

“Ồ, điều gì vậy?”

“Tạm thời tôi không nói tới điều mà cậu bỏ sót, chúng ta hãy phân tích năm điều mà cậu vừa tổng kết lại cái đã. Điều thứ nhất cho thấy đội thám hiểm liên hợp năm đó đã khảo sát rất toàn diện, chứ không chỉ tiến bừa vào sa mạc, tìm kiếm Hạn Hải Mật Thành; điều thứ hai và thứ ba cho thấy Hắc Thứu Tự đã từng có quy mô rất lớn, hơn nữa Misha phán đoán Hắc Thứu Tự được xây dựng từ thời Tây Hạ, điều này phù hợp với những ghi chép trong lịch sử. Từ đó, chúng ta có lý do để phán đoán Hắc Thứu Tự rất có khả năng là một ngôi chùa hoàng gia do hoàng thất Tây Hạ cúng tiến, nếu không thì liệu ai có thể xây dựng một ngôi chùa có quy mô lớn ở sâu trong núi như vậy? Thậm chí tôi còn mạnh dạn suy đoán, rất có khả năng Hắc Thứu Tự chính là ‘Tự giới đàn’ mà chúng ta cần tìm kiếm. Khả năng Misha cũng đã phát hiện ra điều đó, bởi vậy mới có câu ‘Hắc Thứu Tự chắc chắn không phải là một ngôi chùa thường, trong đó nhất định có điều huyền bí’ mà Misha viết sau đó; còn điều thứ tư lại cho thấy: bao nhiêu năm qua đi rồi, ngôi chùa không những bị hủy hoại mà môi trường ở đó còn trở nên khắc nghiệt, và còn có cả những âm thanh quái dị không thể giải thích!” - Giáo sư La thao thao bất tuyệt.

“Hắc Thứu Tự? ‘Tự giới đàn’?” - Tất cả mọi người đều chìm trong suy tư.

Vẫn là Đường Phong phá vỡ sự im lặng, hỏi giáo sư La: “Ông vẫn chưa nói về thông tin mà tôi đã bỏ qua đấy?”

Giáo sư La cười: “Đường Phong, ban nãy cậu bỏ sót mất một điều, trong đoạn ghi chép đó Misha nói rằng Hắc Thứu Tự nằm sâu trong núi Hạ Lan, có thể vì vậy mà cậu cho rằng ở đó hiếm thấy bóng người hả?”

“Đúng vậy!”

“Nhưng mọi người có chú ý thấy không, sao nhóm Misha lại biết được tên của ngôi chùa đó? Là người dân địa phương nói với họ. Điều đó cho thấy, tuy Hắc Thứu Tự nằm sâu trong núi Hạ Lan nhưng ở đó không hẳn không một bóng người, gần đó chắc chắn phải có một thôn xóm, có người dân sinh sống ở đó. Ngoài ra, vẫn còn một điểm có thể chứng minh cho phán đoán của tôi.

Misha nói rằng Hắc Thứu Tự năm đó vẫn còn một gian tiểu điện, ông phán đoán gian Phật điện đó được xây dựng từ thời kỳ Dân quốc. Điều đó cũng chứng tỏ thời kỳ Dân quốc ở địa phương đó nhất định có không ít dân cư sinh sống, nếu không thì không thể có người lại xây dựng một gian Phật điện nhỏ tại đó được.”

Mọi người nghe xong những phán đoán của giáo sư La, không thể không bái phục trước sự quan sát tỉ mỉ, tư duy chặt chẽ của ông. Đường Phong nghĩ ngay tới ý của giáo sư La: “Từ thông tin của điều đó cho thấy, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy Hắc Thứu Tự, giáo sư La, ý của ông là vậy phải không?”

“Đúng! Ý tôi là vậy. Nếu như có thể cho rằng Hắc Thứu Tự rất có khả năng là ‘Tự giới đàn’ mà chúng ta cần tìm vậy thì các cậu có việc để làm rồi đấy!” - Giáo sư La khẳng định.

Hàn Giang gật gù: “Tôi nghe cũng hiểu ra rồi, Hắc Thứu Tự, đây chính là mục tiêu tiếp theo của chúng ta.”

Giáo sư La lại bổ sung thêm: “Ngoài ra, Misha ghi lại đoạn này ở đây, cũng cho thấy mấy câu chữ Tây Hạ bên cạnh khả năng còn tiết lộ một vài tin tức quan trọng nào đó, rất có khả năng liên quan tới vị trí cụ thể của nơi đó. Nhưng tôi vẫn cần phải nghiên cứu cụ thể thêm một chút.”

Giáo sư La nói xong kết quả nghiên cứu gần đây nhất của mình lại chìm trong suy tư. Đường Phong hỏi ông đang nghĩ gì, giáo sư La hồi tưởng lại: “Điều khiến tôi cảm thấy kỳ lạ đó là, bao nhiêu năm qua, tôi đã không ngừng khảo sát những di tích của Tây Hạ tại phía Tây, núi Hạ Lan tôi cũng vào ra mấy lần, nhưng chưa từng phát hiện ra ngôi chùa nào tên là Hắc Thứu Tự trong đó cả, và cũng không nghe thấy người dân địa phương nhắc tới ngôi chùa này. Thật là kỳ lạ! Nếu Lương Vân Kiệt vẫn còn sống thì tốt biết mấy!”

“Lương Vân Kiệt? Trước đây ông đã từng tiếp xúc với Lương Vân Kiệt mà chưa từng nghe thấy ông ấy nhắc đến sao?” - Hàn Giang hỏi.

Giáo sư La lắc đầu: “Tuy Lương Vân Kiệt đã từng tới đó, nhưng có thể ngay bản thân ông ấy cũng quên rồi, bởi dù sao ông ấy cũng không nghiên cứu lĩnh vực này, bởi vậy có thể ông ấy không cẩn thận như Misha!”

“Vậy ông đánh giá thế nào về bộ hài cốt mà chúng tôi mang từò Saint Petersburg về?” - Trước đó, Hàn Giang đã giới thiệu với giáo sư La về phát hiện đáng kinh ngạc của giáo sư Trần Tử Kiến.

Giáo sư La nói: “Trước đây tôi đã từng nghe nói về chuyện Kozlov phát hiện được một bộ hài cốt trong Hắc Thủy Thành, sau đó sau khi các học giả Nga xét nghiệm xong, đã suy đoán bộ hài cốt đó là của hoàng hậu Một Tạng. Nhưng vì học giả của các nước khác chưa từng trông thấy bộ hài cốt này, cũng chưa nhìn thấy báo cáo xét nghiệm cụ thể của họ, nên tôi không thể phán đoán kết luận của học giả Nga. Nghe nói rằng bộ hài cốt đó sau này đã bị mất, phải chăng... những chuyện liên quan tới bộ hài cốt đó đều rất ly kỳ. Lần này các cậu đã tìm thấy nó, nhưng kết quả xét nghiệm ra lại đáng giật mình như vậy, tôi cũng không biết thế nào để phán đoán. Dù sao thì chuyện này cũng đã trải qua gần cả trăm năm, và rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì thì bây giờ đến ngay cả học giả Nga cũng không rõ, chúng ta lại càng không rõ hơn!”

“Tuy bộ hài cốt này ở chỗ người Nga bị xử lý rối tung cả lên, nhưng... nhưng tôi luôn cảm thấy bộ hài cốt mà Kozlov năm đó phát hiện thấy, chính là bộ hài cốt mà hiện giờ chúng ta thấy.” - Đường Phong nói.

“Cũng có nghĩa là bộ hài cốt trong pho tượng phật năm đó thuộc về hai người phụ nữ Đảng Hạng khác nhau?” - Từ Nhân Vũ hỏi lại Đường Phong.

Đường Phong gật đầu: “Đúng vậy, tôi cho rằng như vậy. Nhưng tôi cũng chẳng có chứng cứ gì cả, chỉ có thể coi là cảm giác của tôi mà thôi!”

“Khà khà, tôi lại thấy cậu nghĩ như vậy thì hơi khó tin đấy, nghĩ kiểu gì cũng không thể như vậy, lúc ban đầu chế tác pho tượng này, một người phụ nữ không đầu, trước ngực lại treo xương sọ của một người phụ nữ khác, như vậy thì quá khủng khiếp đấy! Sau đó thợ đúc tượng mới bắt đầu chế tác nó, vậy thì người thợ đó cũng khiếp thật đấy!” - Từ Nhân Vũ cười nói.

Đường Phong không phản bác lại, mà đưa ánh mắt hướng về giáo sư La. Giáo sư La nhìn Đường Phong, cười nói: “Được rồi, chúng ta bắt đầu nói từ bà hoàng hậu Một Tạng này! Trước đó tôi đã giới thiệu về chuyện bà ta trở thành hoàng hậu của Nguyên Hạo thế nào, sau đó sẽ nói về kết cục của hoàng hậu, điều này rất có khả năng liên quan tới lai lịch của bộ hài cốt này.”

“Đúng, vấn đề này tôi và cái gã Tymoshenko đáng chết cũng đã từng thảo luận, anh ta cho rằng Lượng Tộ - con trai của hoàng hậu Một Tạng sau này do bất mãn với chế độ chuyên quyền của gia tộc Một Tạng nên đã phát động chính biến, giết chết cậu mình là Một Tạng Ngoa Bàng, đồng thời suy đoán rằng Lượng Tộ đã đưa mẹ ông ta vào trong chùa, cuối cùng Một Tạng Thị đã mất trong chùa và được tạc thành tượng, được đặt yên vị trong tháp phật, mãi cho tới tận vài trăm năm sau mới được Kozlov phát hiện ra!” - Đường Phong nhớ lại những lời Tymoshenko nói với anh.

“Những gì cậu nói cũng có thể coi là một quan điểm. Tóm lại, những tài liệu lịch sử liên quan tới Tây Hạ vô cùng quý hiếm, bởi vậy chúng ta biết về nó cũng rất ít, nên kết cục của Một Tạng Thị thế nào thì cũng bí ẩn ly kỳ như bộ hài cốt này vậy. Bởi vì có người nói rằng: Một Tạng Thị đã chết trước khi Lượng Tộ nắm quyền triều chính và được chôn tại lăng mộ của vua chúa Tây Hạ; cũng có người nói rằng bà đã bị chính con trai ruột của mình là Lượng Tộ hại chết. Hiện giờ chúng ta chỉ biết rằng sau khi Nguyên Hạo chết, Lượng Tộ vẫn còn được bọc trong tã lót, bởi vậy quyền lực lớn nhất Tây Hạ hoàn toàn do gia tộc Một Tạng nắm giữ. Sau khi trưởng thành, Lượng Tộ không thể chấp nhận sự chuyên quyền của gia tộc Một Tạng nên đã giết chết Một Tạng Ngoa Bàng, thu hồi lại quyền lực của gia tộc Một Tạng, đây là thực tế lịch sử. Nhưng muốn bóc gỡ bí mật về nơi quy y cuối cùng của hoàng hậu Một Tạng, thì chúng ta vẫn cần phải nghiên cứu thêm một bước.”

“Mong rằng chỗ giáo sư Trần Tử Kiến sẽ có thêm phát hiện mới!” - Hàn Giang lẩm bẩm. Anh vừa dứt lời thì điện thoại của anh đột ngột đổ chuông.

6

Số điện thoại hiện lên chính là số máy bàn ở phòng thí nghiệm của Trần Tử Kiến, nhưng giọng trong điện thoại lại là giọng Tiểu Lô, trợ lý của Trần Tử Kiến. Hàn Giang có chút ngạc nhiên, sau đó Đường Phong phát hiện khuôn mặt Hàn Giang chết lặng, lông mày Hàn Giang khẽ cử động nhẹ, Đường Phong hiểu rằng chắc chắn đã xảy ra việc gì nghiêm trọng.

Hàn Giang nghe điện thoại xong, sắc mặt rất khác thường, anh nói với mọi người: “Tiểu Lô, trợ lý của giáo sư Trần vừa gọi điện tới nói rằng cậu ấy vừa phát hiện giáo sư Trần Tử Kiến đã chết trong phòng thí nghiệm.”  

“Á!...” - Đường Phong kinh ngạc thất sắc, những người khác cũng giật bắn mình.

“Sao lại chết? Bị giết hay tự sát?” - Triệu Vĩnh hỏi.

Hàn Giang lắc đầu: “Tiểu Lô không nói, cậu ấy đã báo cảnh sát rồi, đồng thời thông báo với chúng ta bởi vì cậu ấy biết gần đây giáo sư Trần làm việc cho chúng ta.”

“Hàn Giang, anh nói vậy là ý gì? Ý anh là cái chết của Trần Tử Kiến liên quan tới bộ hài cốt đó?” - Giáo sư La hỏi.

“Không biết, phải đến đó mới biết được. Nhưng tôi vẫn có một dự cảm không lành. Mọi người cứ về nghỉ cả đi, tôi và Đường Phong sẽ đến đó xem sao!” - Nói xong Hàn Giang và Đường Phong liền lao như bay ra khỏi phòng hội ý.

Tuy đã gần nửa đêm, nhưng Đường Phong và Hàn Giang vẫn vội vàng đến phòng thí nghiệm của Trần Tử Kiến, vẫn là ông lão canh cửa đó, vẫn là chiếc thang máy kêu cót két, nhưng đèn cảm ứng trong hành lang đã bình thường trở lại. Đường Phong và Hàn Giang rẽ vào hành lang, phía trước đã được kéo dây cảnh giới. “Xem ra người của đội cảnh sát hình sự đã đến trước chúng ta rồi!” - Hàn Giang khẽ kêu lên.

Cảnh sát bên cạnh dây cảnh giới muốn kiểm tra thẻ của Hàn Giang và Đường Phong, nhưng do vội đi nên Hàn Giang đã quên mang thẻ. Đúng lúc Hàn Giang và viên cảnh sát đó đang giằng co thì lão Kim - cảnh sát hình sự đã trông thấy Hàn Giang, còn anh cũng nhận ra cảnh sát Kim, hai người vốn quen nhau đã lâu, trước đây từng nhiều lần hợp tác với nhau. Cảnh sát Kim nghi ngờ bước tới gần Hàn Giang, hỏi anh: “Vụ án này sao lại kinh động tới cậu vậy?”

“Giời ạ, nửa đêm tôi chạy đến đây chắc chắn là có liên quan tới vụ án này rồi.”

“Được thôi, các cậu theo tôi vào đây, vụ án này hiện do tôi phụ trách!” - sắc mặt cảnh sát Kim có vỏ nghiêm trọng, lông mày chau lại.

Đường Phong và Hàn Giang theo lão Kim - viên cảnh sát có phần hơi phát tướng, tiến vào phòng thực nghiệm, vẫn là khung cảnh mà họ đã quen thuộc, nhưng lại có thêm mùi máu tanh. Trong căn phòng thực nghiệm này, Trần Tử Kiến nằm sõng soài trên một chiếc ghế tựa, dáng vẻ của ông vô cùng kỳ quái, tay trái ôm ngực, tay phải lại... lại bóp chặt lấy cổ mình. Đường Phong và Hàn Giang nhìn thấy vậy đều giật mình, hai người đưa mắt nhìn nhau rồi lại nhìn lên mặt Trần Tử Kiến: khuôn mặt trắng bệch không có lấy một tia máu, đôi mắt khủng khiếp nhìn chằm chằm lên trần nhà. Hai tai, hai mắt, hai lỗ mũi và mồm và trên cơ thể của Trần Tử Kiến không hề có bất cứ vết máu nào, nên Đường Phong và Hàn Giang càng không hiểu, mùi máu trong phòng thí nghiệm là ở đâu ra?

Đường Phong và Hàn Giang lại nhìn quanh phòng thí nghiệm, không khác gì lần trước họ tới đây, bộ hài cốt vẫn đang nằm chính giữa chiếc bàn trong phòng, còn chiếc xương sọ đó được đặt trên một chiếc bàn khác, vẫn y như lần trước họ tới. Đột nhiên, Đường Phong cảm thấy chiếc bàn xanh đậm trước mắt anh đang biến đổi, màu xanh đậm càng lúc càng đen. Đây là thứ màu đen mà anh chưa từng nhìn thấy, anh không thể diễn tả nó bằng lời, chiếc bàn màu đen càng làm nổi bật bộ xương màu vàng đặt trên nó. Đường Phong cảm thấy khó thở, anh bất giác bước lên phía trước một bước, đến cạnh chiếc bàn đó, nhắm mắt định thần lại... Khi mở mắt ra, anh phát hiện chiếc bàn trước mặt không hề có gì thay đổi, vẫn là chiếc bàn màu xanh đậm, trên bàn là bộ hài cốt được xếp ngay ngắn.

7

“Rốt cuộc các cậu đã liên lạc gì với Trần Tử Kiến vậy?” - Cảnh sát Kim tò mò hỏi Hàn Giang.

Hàn Giang nhìn lão Kim rồi lại chỉ bộ xương trên bàn, nói: “Nói thật với anh, thời gian gần đây chúng tôi đang mời giáo sư Trần nghiên cứu bộ hài cốt này!”

“Bộ hài cốt này? Bởi vậy các cậu nghi ngờ cái chết của giáo sư Trần có liên quan tới bộ hài cốt này? Lúc tôi vừa mới vào đây, bộ xương này làm tôi giật bắn mình!” “Tôi biết anh từ trước tới nay rất gan dạ, sao mỗi bộ xương thế này mà cũng dọa được anh ư?”

“Quan trọng là bên cạnh bộ xương lại là thi thể kỳ quái của Trần Tử Kiến!” - Lão Kim nghĩ lại mà vẫn còn rùng mình.

“Được, chúng ta hãy nói về thi thể kỳ quái của Trần Tử Kiến vậy. Tình hình khám nghiệm tử thi của các anh sao rồi?” - Hàn Giang vừa nói vừa đeo găng vào, thò tay kiểm tra kỹ thi thể của giáo sư Trần.

“Chúng tôi nhận được tin báo án từ trợ lý của Trần Tử Kiến, nên đã lập tức đến đây. Khi vừa trông thấy thi thể này, quả thực chúng tôi đều giật bắn mình, làm hình sự bao nhiêu năm nay rồi, vậy mà tôi chưa từng thấy thi thể nào thế này, hoặc có thể nói rằng chưa từng nhìn thấy kiểu chết thế này. Trần Tử Kiến chết khoảng hai tiếng trước, nhìn bên ngoài thì cơ thể Trần Tử Kiến từ trên xuống dưới không có vết thương nào do vật sắc nhọn hay hung khí nào gây nên, thậm chí đến vết tích ẩu đả nhỏ nhất cũng không phát hiện ra, nên nhận định bước đầu là bị trúng độc, bởi vậy chúng tôi cơ bản loại trừ khả năng bị giết. Điều này cũng đã được ông lão trực ban dưới lầu chứng thực: sau tám giờ tối, ngoài trợ lý của Trần Tử Kiến ra, không có ai từ bên ngoài vào cả.”

“Theo ý anh thì tức là Trần Tử Kiến tự sát?” - Hàn Giang hỏi lại.

“Việc này hiện giờ tôi vẫn chưa thể kết luận được, nhưng rõ ràng ông ấy đã dùng tay phải tự bóp cổ mình, ông ấy không phải là người thuận tay trái, nhìn dáng vẻ cho thấy không ông ấy đã tốn ít sức lực, trên cổ có vết lõm rất sâu.”

“Khà khà, thử nghĩ một chút, nếu anh muốn tự tử thì sẽ chết thế nào? Sẽ chọn cách kỳ quái này, tự bóp cổ mình đến chết sao? Tôi thật sự không thể nghĩ ra trên đời này có ai lại thù hận chính bản thân mình đến mức ấy?” - Hàn Giang nói.

“Ý của cậu là có người bóp cổ ông ấy đến chết, sau đó cố ý tạo hiện trường giả này. Nhưng tôi không lấy được dấu vân tay của ai khác trên cổ nạn nhân, điều này thì giải thích thế nào?”

“Tôi không biết. Anh có để ý thấy không, tay trái của Trần Tử Kiến ôm lấy ngực, đây cũng là một động tác kỳ lạ, động tác của tay trái và tay phải Trần Tử Kiến rõ ràng là hai động tác tương phản, khiến người ta không hiểu nổi!”

“Có lẽ… có lẽ là trước khi chết, giáo sư Trần đã trông thấy điều đáng sợ gì đó!” – Đường Phong bỗng mạnh dạn suy đoán.

“Cái này thì phải hỏi Tiểu Lô rồi.” Nói xong, Hàn Giang bước tới trước mặt Tiểu Lô đang ngồi ngoài phòng thí nghiệm. Anh quan sát Tiểu Lô một hồi rồi mới mở lời: “Tôi hỏi cậu một câu này, giáo sư Trần Tử Kiến có bị bệnh gì về mạch máu không? Ví dụ như bệnh tim chẳng hạn.”

Tiểu Lô lắc đầu nói: “Việc này... việc này tôi cũng không rõ lắm. Trước đây khi kiểm tra sức khỏe, đâu có nghe thấy giáo sư Trần bị bệnh gì liên quan tới mạch máu, chỉ là huyết áp và mỡ trong máu hơi cao thôi. Nhưng gần đây tôi phát hiện hình như giáo sư Trần đang uống một loại thuốc nào đó, tôi cũng không hỏi kỹ, bây giờ nghĩ lại rất có khả nàng gần đây tim mạch của giáo sư không được khỏe.”

“Cậu tới phòng thí nghiệm lúc mấy giờ?”

“Vốn dĩ buổi chiều sau khi về, tôi không định tới phòng thí nghiệm nữa, nhưng... nhưng lúc khoảng chín rưỡi tối, tôi nhận được một cuộc điện thoại của giáo sư Trần, trong điện thoại, giọng của giáo sư hình như có gì đó không bình thường, giọng rất nhỏ, ông gọi tôi khẩn trương tới phòng thí nghiệm, đây là tình huống rất hiếm gặp!”

“Vậy tại sao giáo sư Trần lại gọi cậu tới?”

“Tôi cũng hỏi qua điện thoại rồi, nhưng giáo sư Trần không nói, chỉ giục tôi tới. Vậy là tôi vội vàng tới đây, kết quả là đã nhìn thấy cảnh tượng hãi hùng này.”

“Gần đây giáo sư Trần có hành động gì khác thường không?” - Hàn Giang lại hỏi.

Tiểu Lô liếc Đường Phong một cái, rồi lại nhìn Hàn Giang, nói: “Hành động khác thường ư? Nếu nói về hành động khác thường của giáo sư Trần gần đây thì đều liên quan tới bộ hài cốt mà các anh đưa đến!”

“Ồ... không phải chỉ có giấc mơ kỳ quái đó thôi sao?” - Đường Phong ngạc nhiên.

“Gần đây tôi nhận thấy rõ trạng thái thần kinh của giáo sư Trần không ổn, ngoài việc thường xuyên mơ thấy ác mộng, ban ngày trong lúc làm việc, giáo sư Trần cũng thường nói sai, nhiều lúc đang nói thì ông bỗng dừng lại, thẫn thờ nhìn bộ hài cốt này.”

“Nghiêm trọng đến vậy sao?” - Đường Phong vô cùng ngạc nhiên.

“Còn nữa... còn việc các anh nhờ giáo sư Trần phục chế lại phần đầu của bộ hài cốt, trong lúc ông phục chế nó, tôi luôn cảm thấy miệng giáo sư mỉm cười kỳ quái, có lúc còn lẩm bẩm một mình.”

“Vậy phần đầu mà giáo sư làm đâu?” - Hàn Giang hỏi.

“Rất không may, lúc tôi đến thì phát hiện ra phần đầu mà giáo sư Trần, gần như đã làm xong, đã bị người ta đập vỡ, tôi nghĩ chắc là do giáo sư Trần tự làm như vậy trước khi chết!”

“Tại... tại sao lại vậy? Đưa chúng tôi đi xem nào!” - Hàn Giang không hiểu.

Tiểu Lô quay người, đi vào phòng thí nghiệm, trên bàn đặt chiếc xương sọ có một vật được che đậy bằng một miếng vải trắng. Tiểu Lô vén miếng vải đó lên, trước mắt mọi người hiện lên pho tượng hình đầu phụ nữ bị đập nát nửa mặt, Đường Phong nhìn mũi, mắt, môi, tai bị vỡ nát của đầu pho tượng bỗng cảm thấy chúng hình như có chút quen thuộc... Đúng! Cung điện Mùa Đông, đầu pho tượng phật Lư Xá, xem ra người thợ chế tác pho tượng đó ngày xưa, đã mô phỏng theo xương sọ và dung mạo của chủ nhân để đúc lên. Trời ơi! Đây đúng là dung nhan của hoàng hậu Một Tạng sao?

8

Tiểu Lô dùng miếng vải trắng đậy đầu pho tượng phụ nữ chỉ còn nửa bên mặt lại. Cảnh sát Kim nói với Hàn Giang: “Kết quả khám nghiệm cụ thể tử thi Trần Tử Kiến tôi sẽ khẩn trương thông báo cho cậu, nhưng bản thân tôi vẫn nghiêng về khả năng ông ấy tự sát, cũng không loại trừ khả năng nhìn thấy thứ gì đó khiến ông ta khiếp sợ dẫn đến đau tim mà đột tử.”

“Được rồi, tôi không làm phiền việc điều tra của anh nữa. Vụ án là do anh phụ trách, nhưng có vài thứ lại do tôi quản lý!” - Hàn Giang nhìn bộ hài cốt trên bàn nói.

“Ồ, cái gì do cậu quản lý vậy?”

Hàn Giang quay lại nói với Tiểu Lô: “Tiểu Lô, bây giờ cậu nghe tôi, trước tiên, công việc kiểm nghiệm bộ hài cốt này đến đây là kết thúc. Từ nay về sau, nếu không được phép của tôi, thì bất luận là ai, bao gồm cả cậu cũng không được đụng tới bộ hài cốt này. Cậu lập tức thu dọn bộ hài cốt và cả những mảnh gốm sứ đất đá trong túi bưu phẩm lúc gửi tới, bao gồm cả phần tượng hình đầu người này cất hết vào trong két bảo hiểm cho tôi. Nhớ kĩ! Nhất định phải thu dọn kĩ, không có lệnh của tôi, không được đụng vào những thứ đó!”

“Hiểu rồi, anh có bảo tôi đụng tôi cũng chẳng dám đụng ấy chứ!” - Tiểu Lô vẫn chưa hết sợ hãi.

Cảnh sát Kim vừa nghe thấy vậy đã cuống lên:

“Này! Cậu thu hết những thứ đó lại thì tôi điều tra lấy chứng cứ kiểu gì hả?”

Hàn Giang vỗ vỗ vai cảnh sát Kim: “Chẳng phải anh nói rằng giáo sư Trần tự sát sao? Hơn nữa, những thứ này không phải anh cũng đã nhìn thấy rồi sao? Chúng là

hung khí giết hại giáo sư Trần ư? Nếu đúng như vậy thì đó quả là hiện tượng linh ứng kỳ dị. Được rồi, có việc gì cứ gọi điện cho tôi nhé!”

Nói xong, Hàn Giang và Đường Phong ra khỏi phòng thí nghiệm. Hàn Giang đi rất nhanh, Đường Phong không theo kịp tạt lại phía sau. Đường Phong nhìn ánh đèn vàng vọt âm u trong hành lang, rồi lại nhìn lên bức tường loang lổ, đầu óc bỗng tê dại, anh vội vàng chạy nhanh đuổi theo Hàn Giang. Hai người cùng tới tiền sảnh tầng một, ông lão bảo vệ đó đang tựa vào cửa, nhìn cảnh sát ra ra vào vào. Ông liếc thấy Hàn Giang và Đường Phong, cười gượng gạo với họ. Hai người cũng cười với ông lão bảo vệ, nhưng khi họ vừa định bước ra khỏi cửa thì ông lão đột nhiên gọi họ đứng lại: “Chàng thanh niên, cậu có còn nhớ câu hỏi lần trước mà cậu hỏi tôi không?” Đường Phong run bắn người, anh nhớ lại câu hỏi mà lần trước đã hỏi ông lão bảo vệ. Đường Phong khẽ gật đầu với ông lão. Ông lão nói với Đường Phong bằng giọng khàn khàn: “Giờ thì tôi đã tin tòa nhà này có ma rồi!” “Tại sao?” - Đường Phong và Hàn Giang đều kinh ngạc.

“Bởi vì... bởi vì kể từ sau lần trước các cậu tới đây, giáo sư Trần không hề rời khỏi phòng thí nghiệm của ông ấy.”

“Vậy là thế nào?”

“Tôi thấy mấy hôm nay giáo sư Trần giống như ma vậy, tôi đã đến nhà ăn mua cơm cho ông ấy mấy lần, sau đó đưa lên phòng thí nghiệm, vì ông ấy ở trong đó. Tôi thấy ông ấy chỉ thẫn thờ nhìn chằm chằm vào một bộ xương trắng, ánh mắt ấy..”

“Đó là công việc của ông ấy mà!”

“Nhưng tôi thấy gần đây giáo sư Trần rất không bình thường.”

“Tối hôm nay bác có thấy ai vào đây không?” - Hàn Giang không quến hỏi một câu.

Ông lão bảo vệ lắc lắc đầu: “Sau tám giờ thì ngoài Tiểu Lô ra không còn ai vào nữa.”

Đường Phong và Hàn Giang không hỏi thêm được gì, nhưng Đường Phong nhớ mãi những gì ông lão bảo vệ nói. Ra đến ngoài, một con gió lạnh ùa tới, Đường Phong rùng mình. “Cậu thấy việc này thế nào?” - Hàn Giang đột nhiên hỏi Đường Phong.

“Không biết, tôi cảm thấy chúng ta đã hại giáo sư Trần.”

Hàn Giang nghe Đường Phong nói vậy, hơi sững sờ: “Đừng nghĩ lung tung nữa! Cậu nói xem... có khi nào là bọn Stephen làm không nhỉ?”

“Không giống, thứ nhất, không phát hiện thấy dấu vết giáo sư Trần bị giết hại, thứ hai, đây không phù hợp với cách thức gây án của hội Stephen.” - Đường Phong phân tích.

“Vậy là thế nào?”

“U hồn, u hồn của Một Tạng Thị phục sinh rồi!”

Hàn Giang giật bắn mình, anh nhìn Đường Phong, rồi quay lại nhìn tòa nhà đen sì sì phía sau lưng và cũng cảm thấy một luồng hơi lạnh đang len vào tận xương tủy mình.

Trở về văn phòng, Hàn Giang theo thói quen mở hòm thư email ra thử xem có thư mới gửi tới không. Kết quả hòm mail của anh có một thư mới gửi tới, người gửi là Yelena, hơn nữa còn dùng cả kí hiệu khẩn cấp. Hàn Giang bỗng giật mình, anh nhìn màn hình, rồi lại nhìn Đường Phong đang định bỏ đi, đột nhiên, anh gọi Đường Phong lại: “Đường Phong, cậu mau qua đây xem!”

Đường Phong bước tới cạnh Hàn Giang, chăm chú nhìn vào màn hình máy tính, chỉ thấy bức thư của Yelena ngắn ngủi vài câu, nội dung như thế này:

Hàn!

Anh có còn nhớ, mấy người em đã nhắc đến trong bức thư lần trước không? Brainin, Stechkin. Em đã điều tra họ rồi, nhưng không phát hiện ra nghi vấn gì cả, đúng lúc em nghĩ rằng nên kết thúc cuộc điều tra tại đây thì hôm qua lại xuất hiện một tình huống mới đáng kinh ngạc. Lúc em một mình tới Bonika định thẩm vấn Stechkin thêm lần nữa thì... thì bỗng gặp phải một cuộc cướp ngục tàn bạo trước đây chưa tìmg xảy ra. Stechkin được bọn chúng cứu thoát, còn tất cả những phạm nhân khác và cả những người canh gác đều đã bị giết. Bản thân em khi ở Bonika đã khủng hoảng tới nỗi chưa bao giờ khủng hoảng như vậy. 

Em hoảng hốt không biết phải làm thế nào, rồi em bỗng nghĩ ngay tới Brainin nên lập tức lao đến căn biệt thự của ông ta, kết quả căn biệt thự của Brainin đã bị hỏa hoạn thiêu rụi mà không rõ nguyên do, còn Brainin bị thiêu chết trong đám cháy. Em không biết hung thủ là ai? Stechkin! Ông ta vừa mới thoát ra ngoài đã đi giết Brainin sao? Em không nghĩ ra được là ai? Là ai đã lập tức ra tay hành động ngay sau khi em tới tìm Stechkin và Brainin? Em thấy vô cùng khó hiểu, có lẽ ngay từ ban đầu em đã sơ suất rồi. Bây giờ nghĩ lại, không có sơ hở gì mới chính là sơ hở lớn nhất!

Yelena

Đường Phong và Hàn Giang đọc xong thư của Yelena cũng đều ngẩn người ra. Họ có thể cảm nhận rõ nỗi bất an và khủng hoảng toát ra từ những dòng chữ của Yelena. Đường Phong bỗng nghe thấy miệng Hàn Giang thốt ra một câu: “Xem ra thực sự u hồn đã hồi sinh rồi!”

Hết tập 2
 

hoahongden12

Active Member
Tử Thư Tây Hạ
Quyển 3 - Chương 1: Biên giới không bóng người - bức ảnh huyền bí

Biên giới Trung – Mông không một bóng người – sẽ dẫn người đọc lên núi Hạ Lan để đi tìm ngôi chùa Giới Đàn bí ẩn. Trong tập này, tác giả đồng thời hé lộ cho người đọc thêm về những thế lực bí ẩn trong bóng tối cũng đang không ngừng ráo riết tìm kiếm bốn kệ tranh ngọc quý giá của Tây Hạ.

Dãy núi Hạ Lan cao lớn nằm giữa sa mạc Badain Jaran và bình nguyên Hà Sáo, được xem là ngọn núi thần của dân tộc Đảng Hạng. Ẩn sâu trong núi là chùa Hắc Thứu – tự viện của hoàng tộc Tây Hạ và là nơi Lượng Tộ – hoàng đế thứ hai của vương triều Tây Hạ chào đời.

Năm 1924, tàn quân của đội quân thổ phỉ hoành hành khắp vùng tây bắc Trung Quốc do Hắc Lạt ma cầm đầu, trên đường chạy trốn sự truy cản của đặc công Liên Xô đã chạy vào núi Hạ Lan. Nhưng tại chùa Hắc Thứu, tất cả đã bị hạ sát không rõ nguyên nhân, chỉ còn một kẻ duy nhất sống sót tên là Mã Viễn. Hơn hai mươi năm sau, Mã Viễn gia nhập quân đội Quốc dân Đảng và biến mất kì lạ trong khi thi hành một nhiệm vụ bí mật của Cục bảo mật. Từ đó, không ai biết được vị trí chính xác của ngôi chùa cổ Hắc Thứu nữa…

Đường Phong và Hàn Giang đã giải mã thành công nội dung của “tử thư Tây Hạ” trên kệ tranh ngọc thứ hai và tìm được Thượng Tự của chùa Hắc Thứu, nơi vẫn được bảo tồn gần như nguyên vẹn sau bao năm tháng và sự khắc nghiệt của thiên nhiên. Trong lần truy tìm này, đội Đường Phong đã chứng kiến rất nhiều điều bí ẩn khác thường. Cuối cùng họ khám phá ra rằng, nơi được coi là tự viện của hoàng tộc Tây Hạ lại chính là mộ táng của Một Tạng hoàng hậu, mẹ của hoàng đế Lượng Tộ.

Cái chết của Hắc Lạt ma, cuộc bạo động của học viên tại căn cứ Tiền Tiến, nhiệm vụ bí mật của Cục bảo mật, mục đích của đoàn khảo sát Liên – Trung… tất cả sự việc này đều chỉ tới một địa điểm, đó là vùng đất hoang vu giữa hai nước Trung Quốc – Mông Cổ, nơi không hề có sự sống của con người, nơi mà ngay cả biên phòng hai nước Trung – Mông cũng xem là “điểm mù”.

Chuyện gì mà có thể khiến người ta mấy chục năm sau vẫn nhớ như in, nhưng lại cố giấu giếm thật kĩ? Hơn nữa, trong hai người cùng giữ bí mật đó thì một người là Brainin, vị thiếu tướng mưu lược đã từng chinh chiến hàng trăm trận, người còn lại là Stechkin, tên tử tù giết người không ghê tay đang bị giam cầm trong chốn tù ngục. Bí mật đó rốt cuộc là gì?

1

Đường Phong và Hàn Giang lại một lần nữa đứng trước cửa phòng thí nghiệm của giáo sư Trần Tử Kiến, bởi vì trước đó một tiếng đồng hồ, họ đã nhận được cuộc điện thoại của Tiểu Lô, trợ lý của giáo sư Trần, báo rằng: chiếc xương sọ để trong két sắt mang về từ Saint Petersburg, đã không cánh mà bay.

“Đúng là có ma rồi!”, Tiểu Lô vừa trông thấy Đường Phong và Hàn Giang đã kêu lên.

“Bình tĩnh, chuyện là thế nào?”, Hàn Giang trong lòng vô cùng sốt ruột, nhưng biểu hiện bên ngoài vẫn thật điềm tĩnh.

“Tôi... tôi cũng không biết nên bắt đầu từ đâu. Thì... thì lần trước khi giáo sư Trần chết ở đây, anh đã bảo tôi cất chiếc xương sọ đó, và cả tượng hình đầu người do giáo sư làm vào két sắt, không có lệnh của anh thì không ai được phép đụng vào. Tôi đã làm như anh dặn, cất hết những thứ đó vào két sắt. Mấy hôm nay không có ai đụng gì vào két sắt, nhưng sáng sớm nay, lúc tôi mở két để lấy một số tài liệu thì phát hiện ra chiếc... chiếc xương sọ đó đã không cánh mà bay”.

“Mau dẫn chúng tôi đi xem!”, Hàn Giang nói bằng giọng ra lệnh.

“Chiếc két sắt này chỉ có hai chiếc chìa khóa, giáo sư Trần một chìa, tôi một chìa. Sau khi giáo sư Trần chết, chìa khóa của ông cũng để ở chỗ tôi, vậy tại sao đồ trong đó lại mất được nhỉ?”

Tiểu Lô lẩm bẩm, và dẫn Đường Phong và Hàn Giang đến trước chiếc két sắt để trong góc phòng thí nghiệm. Đường Phong cẩn thận quan sát chiếc két sắt một lượt, rồi nói với Hàn Giang: “Không thấy vết bị cạy!”

Hàn Giang khẽ gật đầu, quay ra nhìn Tiểu Lô. Tiểu Lô vội vàng móc hai chiếc chìa khóa ra, giải thích: “Hai chiếc chìa khóa đều ở đây..

“Có ai khác dùng không?”, Hàn Giang ngắt lời.. Tiểu Lô.

“Chắc chắn không có ai”, Tiểu Lô trả lời rất dứt khoát,

“Chắc chắn không có ai chứ?”, Hàn Giang nghi ngờ nhìn Tiểu Lô.

Tiểu Lô bị Hàn Giang nhìn chằm chằm đến mức nổi da gà: “Các anh nghi ngờ tôi sao? Tôi lấy cái xương sọ vớ vẩn đó làm quái gì cơ chứ?”

Hàn Giang vỗ vỗ vai Tiểu Lô: “Không phải tôi nghi ngờ cậu, tôi đang nghĩ xem là ai muốn lấy chiếc xương sọ đó?”. Rồi anh lại tiếp tục quan sát kĩ cửa sổ phòng thí nghiệm, không phát hiện dấu vết bị cạy phá, Hàn Giang càng nghi ngờ hơn: “Đúng thật là đang sống sờ sờ mà cứ như gặp ma vậy”.

“Lẽ nào xương sọ đó đúng là u hồn của hoàng hậu Một Tạng, tự nó chạy đâu mất?”, Đường Phong lẩm bẩm.

“Sao có thể thế được?”

“Vậy cái chết của giáo sư Trần phải giải thích thế nào đây?”

Hàn Giang im lặng. Đầu óc Đường Phong rối tung cả lên, anh cũng không nghĩ ra được manh mối nào, bây giờ rõ ràng đang là giữa trưa, nhưng anh lại cảm thấy người lạnh toát.

Cả hai không nói năng gì suốt đường về, họ đều im lặng ngẫm nghĩ về tung tích của chiếc xương sọ. Họ vừa về tới tổng bộ, anh lính gác ở cửa chính đã báo cáo với Hàn Giang: “Ban nãy có một cô gái tới tìm anh”.

Hàn Giang ngớ ra một lúc, anh lính đó khẽ cười, nói: “Lại còn là một cô gái người nước ngoài rất xinh đẹp nữa chứ.”

Đường Phong đoán ngay ra được là ai. Hàn Giang cũng nghĩ tới một người, nhưng anh vẫn nghiêm giọng: “Nghiêm túc chút đi!”

Hàn Giang vội vàng mở cửa ra, khuôn mặt quen thuộc và xinh đẹp đó xuất hiện trước mắt họ, đó chính là Yelena. “Sao em lại đến Trung Quốc vậy?”, Hàn Giang hỏi.

“Ngoài việc công ra, chẳng lẽ em không được đến sao?”, Yelena vặn lại.

Hàn Giang lập tức cứng họng. Đường Phong đang định bỏ đi thì đã bị Yelena gọi giật lại: “Đường Phong, anh đừng đi, lần này tôi tới là vì có một phát hiện quan trọng”.

“Ô?”, cả Đường Phong và Hàn Giang đều đồng thanh ngạc nhiên.

Yelena lấy từ trong túi ra một bức ảnh được phóng to, đưa cho hai người. Đường Phong nhìn bức ảnh một lúc, phát hiện thấy bức ảnh được chụp ngoài trời, bối cảnh là một dãy núi nhấp nhô, phía gần là một ông lão người nước ngoài, tóc bạc xám, ăn vận giống như khách du lịch, khoảng ngoài 60 tuổi, nhưng dáng người thẳng, đôi mắt sáng, nét mặt phấn khởi nhìn về phía trước.

“Người này là ai?”, Đường Phong hỏi.

Yelena không trả lời ngay mà hỏi lại: “Email em gửi, các anh đã đọc hết chưa?”

"Đọc rồi”, Đường Phong và Hàn Giang cùng gật đầu.

“Người trên ảnh chính là Stechkin.”

“Stechkin?”, Đường Phong tức tốc tìm kiếm trong đầu mình.

“Đây chính là kẻ giết người tàn độc mà em nói tới sao?”, Hàn Giang ngạc nhiên.

“Đúng, đó chính là Stechkin tàn độc”.

“Trong bức thư thứ hai, chẳng phải em nói rằng Stechkin đã vượt ngục tẩu thoát rồi sao, còn Brainin thì bị thiêu sống, sau đó bọn em đã điều tra ra chưa?”, Hàn Giang vội vàng hỏi.

Nghe những câu hỏi dồn dập của Hàn Giang, trước mắt Yelena lại hiện lên cảnh tượng khủng khiếp trong lần cuối cùng cô tới Bonika...

2

Yelena một mình lái xe trên con đường hướng tới Bonika, bên ngoài cửa xe là hoang nguyên trầm mặc. Đường đến vùng rừng rậm Bonika khiến tâm trạng người ta u uất, nhưng thời tiết hôm nay xem ra không tệ lắm, không có mưa tuyết, cũng không có cuồng phong, cảnh vật bên ngoài cửa sổ tuy không đẹp, nhưng lại giống như một bức tranh phong cảnh tĩnh lặng dưới ánh mặt trời sớm mai.

Đến trưa, rốt cuộc Yelena cũng đã tới Bonika. Cô nhảy xuống xe và nhận ra mặt trời ban nãy hãy còn lơ lửng trên cao giờ đã biến mất, một đám mây đen khổng lồ đang từ phía tây bay tới, một lúc sau, đám mây đen đã bao trùm không trung u ám của Bonika.

Bầu trời tối sầm lại, Yelena cũng thầm chột dạ. Cô nhìn cánh cổng màu đen của Bonika, bất giác cảm thấy ớn lạnh. Yelena tới trước cổng, ấn công tắc màu đỏ trên đó. Công tắc này nối đến phòng trực ban bên trong, nhưng cô đứng đợi một hồi vẫn không thấy động tĩnh gì. Cô lại ấn công tắc đỏ đó lần nữa, nhưng hai phút sau, vẫn không có bát cứ phản ứng gì.

Yelena lập tức cảnh giác, cô lùi lại vài bước, quan sát một lượt cánh cổng đen, chiếc camera giám sát trên cổng đang hướng thẳng về phía trước, xem ra mọi thứ đều bình thường. Nhưng... nhưng cô đột nhiên phát hiện cánh cửa nhỏ trên cổng đang lay động, cô giật mình, dụi dụi mắt, nhìn chăm chú vào cánh cửa đó, đúng vậy, cánh cửa đang khẽ lay động. Cô bước tới gần cánh cửa, tim đâp liên hồi. Cô rút súng ra, nghiêng người khẽ đẩy nhẹ một cái, cánh cửa nhỏ bật mở.

Yelena khẽ lách người, bước vào. Bên trong là phòng trực ban, phía trước mặt vẫn còn hai lớp cổng. Cô liếc nhìn phòng trực ban, trong này không có ai. “Lẽ nào nhân viên canh cổng rời khỏi vị trí trực?”, Yelena suy ngẫm, “Không!

Cô Không đúng! Bất luận thế nào thì cổng chính cũng không thể mở toang như vậy!”

Vừa nghĩ tới đây, Yelena liền nghe thấy một loạt tiếng súng rền vang vọng ra từ bên trong nhà tù Bonika, ngay sau đó lại là một tiếng súng khác. Dự cảm không lành, Yelena bước thật nhanh vào phòng trực ban, phát hiện người gác cổng đã tắt thở từ lâu, đang nằm sõng xoài trên mặt đất. Cô vội vàng lao đến cánh cổng thứ hai, cánh cổng thứ hai cũng đã bị đẩy ra, ngay sau đó là cánh cổng thứ ba...

Lúc này tiếng súng trong Bonika đang rền vang, Yelena đã hiểu ra mình đang gặp phải điều gì. Trước khi tới, cô đã từng chuẩn bị cho trường hợp xấu nhất, nhưng cô vẫn không thể ngờ tất cả những điều này lại xảy ra nhanh đến vậy! Tất cả cổng lớn của Bonika đều đã bị mở tung, cô phải chạy ngay tới phòng chỉ huy, ở đó... Yelena không dám nghĩ tiếp nữa.

Tiến vào Bonika, tiếng súng đột ngột im bặt, Yelena đứng sau cánh cổng thứ ba nhìn vào khoảnh sân ở chính giữa nhà tù được bao kín bởi các vòng hành lang giống kiểu giếng trời. Không có người, ở đây không có ai cả, bốn bề tĩnh mịch đến đáng sợ, giống như chưa từng xảy ra chuyện gì, chỉ có sắc trời là ngày một u ám.

Đột nhiên, Yelena nghe thấy tiếng kêu của động cơ, âm thanh phát ra từ sân vận động trong khu vực nhà giam cạnh đó, đó là một khoảng sân lớn để cho các phạm nhân tới vận động giữa giờ. Âm thanh đó đinh tai nhức óc, như thể nó ở ngay trên đầu cô. Đó là âm thanh gì vậy? Yelena ngẩng đầu nhìn lên trên, cô trông thấy một chiếc trực thăng Mi-8 từ từ cất cánh trên sân vận động cạnh khu buồng giam... Giờ thì cô đã hiểu ra mọi chuyện, Yelena chạy thục mạng theo dãy hành lang bao quanh để tới khu nhà giam bên cạnh. Cô đẩy một cánh cửa sắt nặng trịch ra, rồi lại đẩy tiếp một cái nữa. Khi cô lao vào khoảnh sân trong khu nhà giam, trước mắt cô là từng thi thể lênh láng máu. Yelena không để ý nhiều nữa, cô giơ súng bắn về phía chiếc trực thăng đang quay vòng trên không trung, “Pằng! Pằng!...”, một trong những phát súng của cô đã bắn trúng một bên cửa kính của trực thăng, người trên đó lập tức bắn trả: “Tạch! Tạch! Tạch...”, đạn của khẩu đột kích M4 trút xuống người Yelena như mưa. Yelena không còn cách nào khác đành phải rút lui. Chiếc trực thăng từ từ bay cao hơn, cô không nhìn rõ người trong đó. Đột nhiên, một khuôn mặt khủng khiếp in lên cửa kính khoang trực thăng, Stechkin?! Yelena sững sờ, khi cô định thần nhìn lại thì chiếc trực thăng đã bay xa.

3

Yelena thất vọng cúi gập người, kiểm tra những thi thể trên sân vận động, có lính canh gác, cũng có cả phạm nhân mặc áo tù, không còn một ai sống sót, dường như họ bị kết liễu ngay từ phát súng đầu tiên. Tất cả thi thể của họ đều hướng về vị trí chiếc trực thăng vừa cất cánh, họ muốn làm gì? Lính canh gác thì bắn về phía kẻ vượt ngục, vậy những phạm nhân này thì sao? Chỉ có một khả năng duy nhất, đó là họ cũng muốn nhảy lên trực thăng để tháo chạy, nhưng đã bị người trên đó bắn chết một cách dã man.

Yelena run rẩy lấy điện thoại ra, cô muốn gọi cho Ilyushin nhưng tay run bần bật, ấn mấy lần đều sai số. Rốt cuộc, cô cũng bấm đúng số, nhưng điện thoại lại bận liên hồi. “Chết tiệt! Hóa ra không có sóng!”, Yelena lầu bầu một câu rồi vội vàng đi về phía khu vực buồng giam, cô muốn xem bên trong có còn ai sống sót hay không.

Trong đầu Yelena lập tức lóe lên khuôn mặt khủng khiếp của Stechkin, đúng là đồ biến thái, giết người không ghê tay. Mãi cho tới tận giờ, cô vẫn không dám chắc chắn rằng, mọi chuyện này đều từ gã Stechkin đó mà ra. Nhưng ngoài hắn ra thì tất cả những chuyện này còn có thể là vì ai khác nữa?

Trong khu buồng giam một vùng tối đen, ánh đèn vàng vọt âm u trước đó cũng tắt ngấm, Yelena cẩn thận rón rén đi men theo dãy hành lang trong khu buồng giam tiến về phía trước. “Xoạt…”, Yelena đẩy cánh cửa sắt ra, cô không biết đây có phải là cánh cửa lần trước mình đã từng đi qua hay không, cô bật thiết bị soi sáng duy nhất trên người là chiếc điện thoại di động lên.

Dưới ánh sáng yếu ớt của điện thoại, Yelena nhận ra từng buồng giam hai bên dãy hành lang. Cô từ từ bước lại gần một buồng giam, cảm nhận rõ tim mình đang đập thình thịch không ngừng, cô không biết mình sẽ còn gặp phải điều gì nữa.

Khuôn mặt Hàn Giang đột nhiên hiện lên trước mắt Yelena. “Chết tiệt!”, Yelena âm thầm chửi rủa, hiện giờ cô cần phải tập trung tinh thần. Yelena bước tới trước cửa buồng giam, trên cửa là một dãy song sắt. Cô giơ điện thoại, kề sát vào song sắt, vì muốn nhìn rõ cảnh tượng trong buồng giam. Nhưng đúng lúc Yelena soi thẳng ánh sáng về phía song sắt thì “rầm” một tiếng... một khuôn mặt chảy thuỗn, ghê rợn đến mức khiến người khác đứng tim dính vào song sắt. Yelena hét lên thất thanh, sợ hãi đến nỗi lùi lại mấy bước, điện thoại cũng rơi cả xuống đất.

Ánh sáng phát ra từ chiếc điện thoại tắt ngóm trong hành lang, Yelena hồn xiêu phách lạc, quỳ xuống đất mò mẫm điện thoại của mình. Nhưng cô lại mò thấy một thứ mềm mềm. Cô bỗng cảm thấy tay mình dinh dính, còn hơi ươn ướt, đó là gì vậy? Cùng lúc đó, cô ngửi thấy một mùi máu tanh nồng. Cô giật thót tim, vội vàng rụt tay lại, đó là một mặt người máu me khủng khiếp!

Cuối cùng, Yelena cũng đã mò được điện thoại của mình trong bóng tối. Cô nhìn vào màn hình điện thoại, sắp hết pin rồi.. Cô muốn quay ra, nhưng dường như có một sức mạnh vô hình nào đó cứ thôi thúc cô tiến lên phía trước. Cô hạ quyết tâm, gập điện thoại lại, dò dẫm bước qua cái xác đó, tiếp tục tiến về phía trước.

Càng đi sâu vào trong hành lang, mùi máu tanh càng nồng nặc. Yelena vừa đi vừa suy nghĩ hỗn loạn, kẻ cướp ngục là ai? Ai mà có đủ kiên nhẫn để lên một kế hoach cướp ngục táo bạo đến vậy? Chúng đã cứu ai đi? Stechkin! Chỉ mỗi Stechkin thôi sao? Lẽ nào tất cả nhũng việc này đều liên quan tới những gì mà mình đã hỏi Stechkin mấy hôm trước? Nghĩ tới đây, Yelena bỗng cảm thấy toàn thân lạnh toát, nếu đúng như vậy thì quả là quá đáng sợ!

Trong lúc Yelena đang ràng mình vì ớn lạnh, thì đột nhiên trên mặt đất có thứ gì đó chạm vào gót chân cô. Theo phản xạ, Yelena lùi lại vài bước, nhưng thứ đó sống chết bám chặt lấy cổ chân cô. Cô muốn thoát ra nhưng lại bị thứ đó tóm lại, đẩy sát vào bức tường bên cạnh hành lang. Cô không thể chịu đựng được nữa nên đã hét lên. Giây phút này, cô không còn là nữ đặc công át chủ bài gì nữa, mà chỉ còn là một cô gái bị sự sợ hãi khủng khiếp xâm chiếm, cô đã hoàn toàn suy sụp!

Tiếng hét thất thanh của Yelena vang vọng khắp hành lang trống trải tối om. Khi tiếng hét dần dần lắng xuống thì dường như cô nghe thấy một âm thanh, giống như một người nào đó đang tự lẩm bẩm, đó là một âm thanh đến từ địa ngục.

Yelena thấy sởn tóc gáy, dường như cô đã nghe thấy âm thanh đến từ địa ngục đó. Tựa vào bức tường lạnh cóng, cô thở hổn hển từng hơi, lồng ngực không ngừng phập phồng. Yelena chuyển súng sang tay trái, dùng bàn tay phải đang run rẩy móc điện thoại ra, một chùm ánh sáng nhỏ bé lóe lên trong bóng tối hành lang. Cô rón rén cẩn thận nhìn xuống chân mình, dưới ánh sáng điện thoại, rốt cuộc, cô đã nhìn thấy, thứ tóm lấy cổ chân mình là một cánh tay be bét máu. Lần nhìn theo cánh tay này là một người đang nằm dưới chân cô. Yelena soi điện thoại lên mặt người đó, lúc này cô mới nhận ra, đó chính là trung úy Igor. “Igor, thế này là thế nào?”, Yelena nhoài lên người Igor lớn tiếng hỏi, nhưng Igor đã ngất lịm.

Yelena đứng dậy, cô cảm thấy đầu óc mình quay cuồng, đứng không vững, đành phải tựa vào bức tường lạnh cóng. Cô thử gọi điện lại cho Ilyushin lần nữa, lần này thì có sóng, diện thoại cũng có tín hiệu, nhưng đầu bên kia lại từ chối bắt máy. “Gã Ilyushin đáng chết!”, Yelena chửi rủa.  

Yelena lại dùng ánh sáng yếu ớt của điện thoại soi về phía trước; nhưng ánh sáng yếu ớt này vốn cũng chẳng soi được bao xa, hành lang tối đen sâu hun hút dường như không có điểm kết thúc. Tim cô đập thình thịnh loạn nhịp. Cô tuyệt vọng, không dám đi tiếp, nhưng cũng không muốn rút lui như thế. Trong đầu cô toàn là những cảnh tượng đáng sợ, chỉ có hình ảnh về Hàn Giang mới khiến cô bình tĩnh hơn đôi chút, nhưng giây phút này, Hàn Giang đâu thể xuất hiện bên cạnh cô.

Đúng lúc Yelena rơi vào thế bế tắc thì điện thoại của cô đột ngột đổ chuông, tiếng chuông điện thoại vang khắp hành lang, vừa hưng phấn vừa dị thường.

4

Trong văn phòng của Ilyushin tại Saint Petersburg, trước bàn làm việc, Ilyushin còn đang bận ôm ấp cô thư ký mới đến, dĩ nhiên làm gì có thời gian để nghe điện thoại của Yelena. Nhưng khi anh ta phát hiện ra số điện thoại hiện trên màn hình là của Yelena thì lập tức buông tay ra, vội vàng gọi lại cho cô. Cô thư ký bị hất ra, tỏ ý khó chịu với thái độ của Ilyushin, cô ta lẩm bẩm: “Điện thoại gì mà quan trọng vậy, không phải là người tình Ludmila của anh đấy chứ?”

Bị Ilyushin cương quyết hất hất tay, cô thư ký hậm hực rút lui khỏi văn phòng. Đầu dây bên kia vọng lại giọng nói hoảng hốt của Yelena: “Anh mau đem người tới Bo... lionika, ở đây xảy... xảy ra chuyện rồi. Stechkin bị người ta đưa... đưa đi rồi, tất cả những người canh gác và... và phạm nhân đều đã bị giết chết, cũng... cũng có thể vẫn còn người sống sót, mau! Anh mau... thật... thật quá khủng khiếp, tôi...”, Ilyushin chưa từng thấy Yelena hoảng hốt đến vậy, anh ta nghe xong đoạn tường thuật đứt quãng của Yelena mà bất giác lạnh toát sống lưng, ham muốn vừa được cô thư ký kích thích ban nãy giờ bỗng tắt ngóm.

Yelena gọi điện thoại xong, lặng lẽ ngồi cạnh Igor, chờ đợi lực lượng hỗ trợ đến. Khi cánh sát và đặc công tới nơi thì trời cũng sẩm tối. Cô không phối hợp cùng họ lấy khẩu cung mà đi thẳng ra khỏi Bonika, lên xe của mình, lao về phía hoang nguyên mênh mông.

Yelena nhấn ga, lao như bay trên đường quốc lộ.

Bên ngoài cửa sổ không có lấy một tia sáng, Ilyushin đã từng cảnh báo cô rằng, đừng có đi trên con đường này vào buổi tối, bởi vì quanh đây không một bóng người, và đầy rẫy nguy hiểm, ngộ nhỡ nếu hỏng xe, ngộ nhỡ xe lao ra khỏi đường cao tốc... Cô đã không còn bận tâm tới những điều này, bởi cô biết, vẫn còn việc quan trọng hơn đang chờ đợi mình.

May mà không lạc đường, may mà không xảy ra chuyện gì, khi Yelena lái xe qua vùng rừng rậm thì trời đã gần sáng. Nhưng đúng trong giây phút Yelena lái xe vào vùng rừng rậm đó, đôi mắt cô mở to, ánh sáng ngùn ngụt phản chiếu trong đôi mắt cô, ngọn lửa lớn đỏ rực cả khu rừng rậm.  

Đôi tay Yelena lại bắt đầu run bắn lên, cô không thể không dừng xe lại, và phải dùng cả hai tay mới bấm được số điện thoại của Ilyushin: “Anh... anh mau đưa người tới biệt thự của Brainin đi, biệt thự của ông bị thiêu cháy rồi. Tôi đoán không sai mà, Stechkin xảy ra chuyện thì chắc chắn Brainin cũng vậy.”

Yelena thẫn thờ đứng trước căn biệt thự của Brainin, nhìn ngọn lửa ma quái từng chút từng chút một nuốt trọn căn biệt thự và cả những gì xung quanh nó, căn lều bằng vải ni lông, nhà để xe, thảm cỏ… Xem ra ngọn lửa đã cháy từ rất lâu trước khi cô đến. Khoảng hai mươi phút sau, ngọn lửa dần lịm xuống, Yelena bất chấp nguy hiểm, lập tức tiến vào trong căn biệt thự hoang phế.

Chẳng mấy chốc, một thi thể đã cháy xém hiện lên trước mắt Yelena. Cô bịt miệng, quỳ xuống, kiểm tra tỉ mỉ. Ở đây chắc là vị trí phòng ngủ của Brainin, thi thể đã bị cháy xém không còn nhận ra diện mạo, lúc này cô không thể xác định đây có phải là Brainin hay không.

“Xem ra mình lại chậm một bước rồi”, Yelena thầm hối hận. Cô đứng dậy, kiểm tra lại những chỗ hoang phế khác, rốt cuộc, cô quay lại vị trí phòng khách. Cô nhìn quanh một lượt. “Mấy hôm trước mình còn đến đây, chính trong phòng khách này, Brainin đã kể lại ình nghe câu chuyện của mấy chục năm trước, thật không ngờ mới có vài ngày mà đã...”, Yelena đang nghĩ tới đây thì đột nhiên phát hiện ra một vật hình chữ nhật màu đen bên cạnh một thanh xà gỗ vẫn chưa cháy hết. Cô cúi người xuống, nhặt vật đó lên, là khung ảnh, một khung ảnh màu đen. Cô khẽ vuốt lớp tro bụi dày cộm trên khung ảnh đi, phát hiện bức ảnh trong khung chính là bức ảnh những thanh niên đang chơi trò ném tuyết, nó vốn được đặt trên lò sưởi trong phòng khách, chỉ có điều do bị lửa thiêu nên khung ảnh đã biến dạng, phần bên phải đã hoàn toàn bị cháy xém.

Yelena cầm khung ảnh bị cháy biến dạng lên rồi nhìn xung quanh, khu rừng âm u tĩnh mịch, nhưng cô lại cảm thấy hình như trong rừng có vô số đôi mắt đang nhìn mình.

5

Yelena đang định nhìn kĩ lại bức ảnh thì Ilyushin dẫn người tới. Cô bước ra từ đống tro tàn, nói với Ilyushin: “Chúng ta lại đến muộn rồi!”.

“Sao lại thế này? Thật... thật khiến người ta kinh hãi!”, Ilyushin lắc đầu, đầy vẻ hoài nghi.

Yelena quay lại nhìn căn biệt thự đã bị cháy thành tro bụi, vừa giống như nói với Ilyushin, vừa giống như tự nhủ:

“Có lẽ... có lẽ ngay từ ban đầu chúng ta đã phạm phải một sai lầm...”

“Nghĩa là sao?”, Ilyushin không hiểu.

“Nghĩa là sao? Anh vẫn chưa hiếu ư? Bây giờ nghĩ lại, suy đoán của Hàn Giang là có lý, năm 1964 bị thất lạc đó chắc chắn không đơn giản. Nhưng ngay từ đầu chúng ta đã không coi trọng nó, tôi còn không đặt chút hy vọng nào vào manh mối đó, cho rằng đó đơn thuần chỉ là tài liệu bị mất. Bởi vậy lúc điều tra, tôi chỉ coi đó là công việc bình thường, kiểm tra rồi loại trừ từng người một. Khi ba người Brainin, Isakov và Stechkin nằm trong tầm ngắm của tôi, ngay từ đầu họ đã đầy những bí ẩn, mà thời gian cả ba người họ thực thi nhiệm vụ bảo hộ Misha đều là trước hoặc sau năm 1964, nhất là Stechkin, vậy mà chúng ta vẫn không coi trọng họ. Tôi đã đến hỏi Brainin, rồi lại đến Bonika thẩm vấn Stechkin. Trước khi đi, theo như tình hình tôi nắm được thì Brainin là một ông lão tính khí kì quái, còn Stechkin lại là một gã cuồng sát biến thái, nhưng việc tôi đi hỏi họ cũng khá thuận lợi, những gì họ kể về cơ bản đã trả lời cho nhũng nghi vấn của tôi, rất khớp nhau, không có một sơ hở nào. Điều này khiến tôi dần dần buông lỏng sự nghi ngờ với hai người họ, và cũng mới có trận hỏa hoạn ngày hôm nay”, Yelena phân tích quá trình điều tra mấy người đó.

“Nhưng tôi vẫn chưa cảm thấy chúng ta đã làm sai ở đâu!”, Ilyushin vẫn không hiểu.

“Đúng vậy! Nếu theo cách chúng ta làm thì chẳng có gì sai cả, nhưng đừng quên đối thủ của chúng ta chắc chắn không phải hạng thường! Sau khi hỏi chuyện Brainin và Stechkin,tôi cho rằng, trong những gì họ kể vốn không có Cơ gì sơ hở, vì thế, ta sẽ tin rằng hai người họ không có vấn đề gì cả. Người còn lại là Isakov cũng được chứng thực là đã chết hai mươi năm trước, bởi vậy, tôi đã chuẩn bị kết thúc điều tra. Nhưng bây giờ nghĩ lại, việc nghĩ không có sơ hở gì chính là sơ hở lớn nhất!” 

“Ồ! Không sơ hở gì chính là sơ hở lớn nhất! Nghĩa là sao?” Ilyushin giật mình nhìn Yelena.

“Brainin và Stechkin, một người sống trong biệt thự ngoại ô, rất ít khi giao lưu với ai, một người bị nhốt trong nhà giam được canh giữ nghiêm ngặt, càng không thể liên lạc với thế giới bên ngoài, hai người họ không thể thông cung với nhau, hơn nữa, điêu tra của chúng ta cho thấy, hai người họ đã nhiều năm không gặp nhau. Nhưng cũng chính hai người này, khi họ hồi tưởng lại kí ức của mấy chục năm trước, nội dung trần thuật lại đều hoàn toàn khớp nhau, không hề có chút sơ hở, điều này lẽ nào không đáng để nghi ngờ sao?”

“Cô nói vậy làm tôi cũng nhớ ra đấy, đúng vậy! Đã qua bao nhiêu năm rồi, thông thường mọi người hồi tưởng lại kí ức cũ của nhiều năm trước, nếu không phải là chuyện quan trọng, khiến người ta không thể quên, thì chắc chắn sẽ có chỗ sai sót hoặc không chuẩn xác, nhưng hai người này kể chuyện lại rất khớp nhau”, Ilyushin cũng nghĩ tới vấn đề này.

“Như vậy nói lên điều gì? Nó cho thấy đoạn hồi ức của bao năm trước đó đã khiến Brainin và Stechkin khắc cốt ghi tâm, khiến họ không thể không nhớ. Nhưng họ lại cùng nhau giấu giếm tôi một nội dung quan trọng và kể ra vài chuyện không có sơ hở, hết sức bình thường. Tôi nghĩ: chắc là họ đã chuẩn bị cho thời khắc này cách đó nhiều năm trước, bởi vậy cả hai mới tường thuật lại giống nhau đến vậy, không lộ chút sơ hở nào.”  

“Ý cô là nhiều năm trước đây, Brainin và Stechkin đã dự liệu được sau này sẽ có người vì chuyện của Misha mà tới điều tra họ?”, Ilyushin ngạc nhiên.

“Ừm, tôi nghĩ là vậy, chắc là còn có cả Isakov, có lẽ vẫn còn có cả người khác nữa. Chỉ như vậy mới có thể giải thích được mọi chuyện lúc này. Brainin, Stechkin và Isakov, chắc chắn có liên quan tới Misha, đồng thời cách đây nhiều năm, họ đã trở thành đồng minh của nhau, cùng tiến cùng lui. Bao nhiêu năm qua rồi, tuy bọn họ mỗi người một số phận, nhưng bất luận thế sự có chuyển biến ra sao, họ vẫn âm thầm tuân thủ giao ước năm nào, đến tận khi tôi tới tìm họ đế nói chuyện”.

“Trời ơi! Sức mạnh gì mà có thể khiến họ sau bao nhiêu năm vẫn một mực đoàn kết như vậy? Họ phải biết rằng, thời thế đã thay đổi, Brainin là một vị tướng, còn Stechkin chỉ là một tù nhân thấp hèn, một người trên trời, một người dưới đất, vậy mà hai người họ vẫn giữ giao ước năm nào!”, Ilyushin không sao tin được.

“Sự thật là như vậy, hình như họ đều đang giữ một số bí mật năm xưa, đây chính là điều mà chúng ta quan tâm. Tiếc là…”

“Vậy trong số họ, ai mới chính là bàn tay hắc ám phía sau?”

“Tôi không biết, có thể mấy người họ đều không phải, nhưng chắc chắn họ đều có liên quan tới chuyện trước đó”.

“Có khi nào là Stechkin không nhỉ? Ông ta điều khiển từ xa từ trong tù, không ai ngờ được là ông ta. Nhưng khi cô đến thẩm vấn ông ta thì ông ấy đã hốt hoảng, vậy nên mới vượt ngục đào tẩu, đồng thời phóng lửa thiêu chết Brainin”, Ilyushin suy đoán.

“Có khả năng đó, nhưng tôi cho rằng không thực tế; Bonika được phòng bị vô cùng nghiêm ngặt, lại cách xa thành phố, ở đó khó mà điều khiển từ xa được. Còn ở đây, thi thể trong biển lửa đó có phải là Brainin hay không thì vãn cần phải tiến hành chứng thực thêm bước nữa.”

“Sao cơ, cô vẫn nghi ngờ Brainin ư?”

“Đừng quên Tymoshenko đã nhắc đến người có biệt danh là ‘Tướng quân!”, Yelena ngập ngừng một lúc rồi nói liếp: “Dĩ nhiên, theo như thông thường thì điều tra bước đầu của tôi phán đoán rằng, thi thể đó là của Brainin, hơn nữa Brainin quả thực cũng không giống bàn tay hắc ám phía sau lắm. Nhưng ngoài Stechkin và Brainin ra, thì chúng ta còn có thể điều tra ai khác đây? Trừ phi Isakov đội mồ sống dậy!”

“Đúng vậy! Hiện giờ Stechkin đã tháo chạy, Brainin thì đã chết. Nếu Stechkin không lộ diện nữa thì chúng ta cũng không còn bất cứ manh mối nào khác. Ồ! Xem ra chúng ta lại quay về điểm xuất phát rồi!”

“Đúng vậy, thượng tá, lý giải của anh rất chuẩn xác, giờ cần anh và cả cấp dưới của anh đẩy nhanh tiến độ làm việc, một mặt giám định thi thể đó, xác định xem đó có phải là Brainin hay không, rồi còn cần phải cứu sống Igor, tiến hành điều tra thêm bước nữa để lấy chứng cứ. Mặt khác phải đề cao cảnh giác, đề phòng gã biến thái quái quỷ Stechkin xuất hiện lại”, Yelena như đang giao nhiệm vụ cho Ilyushin, người có quân hàm cao hơn cả mình...

“Stechkin? Ông ta vẫn có thể xuất hiện sao?”, Ilyushin không tin Stechkin có thể dễ dàng lộ diện đến vậy.

“Lẽ nào lại không?”, Yelena giống như đang tự lẩm bẩm, “Có thể lắm chứ! Những kẻ đó đã dám mạo hiểm đến vậy, tốn bao nhiêu công sức để cứu ông ta từ Bonika ra, chắc chắn sẽ dùng tới ông ta!”

“Có khi... có khi bàn tay hắc ám phía sau chỉ muốn Stechkin câm miệng”, Ilyushin suy đoán.

“Ý anh là giết người diệt khẩu?! Nếu vậy thì thà biến ông ta thành một cái xác cháy đen giống Brainin thế này há chẳng tốt hơn sao?”, Yelena hỏi lại.

Ilyushin gật đầu tán đồng. Yelena nói xong, quay đầu đi về phía xe mình. Ilyushin vội vàng gọi cô lại: “Cô giao cho tôi bao nhiêu là nhiệm vụ như vậy, còn cô thì làm gì thế?”

“Tôi?”, Yelena cố nở một nụ cười với Ilyushin, “Tôi phải nghỉ ngơi chút đã, nếu không thì sẽ nổ tung mất!”. Nói xong, Yelena chui vào trong chiếc Fiat của mình, lao về phía rừng rậm tối đen.

Yelena vừa kể xong đoạn hồi ức khiến người ta không khỏi rùng mình, Hàn Giang đã vội vàng hỏi ngay: “Vậy sau đó thì sao? Kết quả điều tra của bọn em thế nào?”

Yelena nhún nhún vai, ngửa hai tay ra: “Trắng tay!” 

“Trắng tay? Sao lại thế được?”, Hàn Giang truy hỏi.

“Đúng thế! Thi thể bị thiêu cháy đó là Brainin sao?”,

Đường Phong cũng hỏi.

“Thi thể đó bị thiêu cháy quá nghiêm trọng, chúng tôi chỉ có thể bước đầu phán đoán đó là thi thể của một người đàn ông trung niên hoặc già hơn, kết quả giám định cụ thể vẫn chưa có. Tuy Igor đã được cứu sống, nhưng anh ấy vẫn chưa cung cấp được manh mối nào có giá trị. Theo như anh ấy nói thì đám phần tử vũ trang đó tới bằng máy bay, bọn chúng phối hợp chặt chẽ trong ngoài với nhau, lực lượng vô cùng mạnh, mục tiêu rõ ràng là nhắm vào Stechkin. Bởi vậy, đến khi cảnh sát canh ngục phản ứng ra thì đã quá muộn rồi”.

“Điều này hoàn toàn phù hợp với thủ đoạn hành động của bàn tay hắc ám phía sau đó!”, Đường Phong phán đoán.

Yelena gật gù: “Hiện giờ có hai điểm khiến tôi đau đầu, một là, tại sao sau khi tôi tới tìm Stechkin và Brainin thì họ lại xảy ra biến cố lớn như vậy?”

“Thì rõ ràng là xung đột với việc điều tra của em rồi!”, Hàn Giang nói.

“Đúng vậy, Stechkin bị nhốt trong tù mấy chục năm cũng chẳng có ai đến cứu, Brainin về hưu cũng hơn chục năm rồi, đang sống yên ổn. Nhưng em vừa tìm tới họ thì họ đã xảy ra chuyện.”

“Điều đó cho thấy việc điều tra của cô đã động chạm tới dây thần kinh của hung thủ hắc ám phía sau, hắn không chấp nhận việc cô đi tìm Stechkin và Brainin”, Đường Phong phân tích.  

“Điều thứ hai khiến tôi nghi ngờ là Stechkin và Brainin đã nhiều năm không liên lạc với nhau, nhưng khi tôi hỏi thăm họ về chuyện trước đây, thì họ lại trả lời gần như giống hệt nhau, không lộ chút sơ hở nào!”, Yelena nói.

“Thì giống như cô đã phân tích với Ilyushin, còn có việc gì khiến người ta nhớ như in sau mấy chục năm nữa, đó chắc chắn là chuyện khắc cốt ghi tâm, không thể xóa nhòa rồi. Nhưng hai người họ lại tường thuật sự việc khớp nhau đến mức không lệch đi đâu được, điều này chắc chắn có vấn đề. Việc mà họ giấu giếm đã xảy ra mấy chục năm trước rồi, vậy mà vẫn khiến họ phải né tránh đến nhường vậy, tôi nghĩ chắc chắn là do họ sợ hãi điều gì đó”, Đường Phong suy đoán.

“Sợ hãi điều gì đó là sao?”, Yelena hỏi lại.

“Tôi nghĩ điều đó chắc chắn có liên quan tới năm 1964 bị thất lạc. Những người tham gia bảo vệ Misha năm 1964 nhất định đã gặp phải một biến cố lớn trong cuộc đời họ vào năm đó”, Đường Phong nói.

“Tôi cũng nghĩ vậy, nhưng hiện giờ Misha đã chết, Isakov cũng chết rồi, Brainin cũng chết, Stechkin thì vượt ngục, vậy còn ai là người trong cuộc năm nào?”, Yelena chau mày.

“Có lẽ...”, Hàn Giang ngập ngừng một lúc, Đường Phong và Yelena cùng nhìn Hàn Giang, “Có lẽ vấn đề là ở chỗ Stechkin...”

“Ồ?”

“Mọi người nghĩ mà xem, theo như suy đoán ban nãy, bàn tay hắc ám phía sau không muốn để chúng ta tiếp xúc với người biết được chân tướng sự việc năm nào. Giả sử Misha và Brainin đều bị bàn tay hắc ám đứng sau hại chết, vậy thì tại sao Stechkin lại được chúng cướp ngục cứu đi? Nếu không muốn Stechkin mở miệng thì cho luôn hắn ta một phát súng là được rồi. Người chết rồi thì đâu còn mở miệng được, vậy sao chúng phải cứu hắn ta ra?”, Hàn Giang vừa suy đoán vừa nói ra nghi ngờ của anh.

“Ý anh là Stechkin chính là bàn tay hắc ám phía sau?”, Đường Phong kinh ngạc.

Hàn Giang lắc đầu: “Hiện giờ tôi vẫn chưa thể chắc chắn, nhưng không thể loại trừ khả năng này. Yelena, vậy sau đó bọn em không tìm kiếm Stechkin sao?”

“Dĩ nhiên là có chứ. Ilyushin giăng lưới rất rộng, nhưng đến cả chút mùi vị của Stechkin anh ta cũng không ngửi thấy.”

“Vậy bức ảnh này thì sao? Bức ảnh cho thấy gã này hình như hiện giờ đang rất ổn”, Hàn Giang nhìn bức ảnh nói.

“Sau đó lại xảy ra một chuyện kì quái, chính là bức ảnh này. Có một hôm, Ilyushin đột nhiên nhận được bức ảnh này”, Yelena nói.

“Không biết là ai gửi sao?”, Hàn Giang hỏi.

Yelena lắc đầu: “Không biết, trong phong bì chỉ có bức ảnh này.”

“Đây quả thật là chuyện kì quái, là ai đã gửi cho các cô bức ảnh của Stechkin? Là bàn tay hắc ám phía sau đó sao? Rõ ràng không thể. Hắn không thể cứu Stechkin xong lại cung cấp cho các cô manh mối để kiếm Stechkin!”, Đường Phong lẩm bẩm.

“ừm, tạm thời các anh đừng quan tâm tới việc ai gửi bức ảnh vội, hãy xem bức ảnh này, các anh còn nhìn thấy điều gì không?”, Yelena hỏi Đường Phọng và Hàn Giang.

“Nhìn thấy điều gì? Không phải là Stechkin sao?”, Hàn Giang ngẫm nghĩ một hồi cũng không nhìn ra manh mối nào trên bức ảnh.

Nhưng Đường Phong hình như lại nhìn ra một số vấn đề: “Khung cảnh này...”, Đường Phong trở nên do dự, cuối cùng vẫn khẳng định, nói: “Khung cảnh này là ở Trung Quốc.”

“Sao cơ? Stechkin đã từng tới Trung Quốc?”, Hàn Giang ngạc nhiên.

“Tôi không những nhìn ra đây là Trung Quốc mà còn đoán ràng, rất có khả năng là chụp trên dãy núi Hạ Lan.”

“Sao... sao lại như vậy được? Chỉ dựa vào bức ảnh này mà cậu có thể nhận ra Stechkin đã tới núi Hạ Lan ư?”, Hàn Giang không tin.

Đường Phong chỉ vào cảnh trong ảnh, nói: “Anh nhìn chỗ này, khung cảnh là rặng núi phía gần toàn là cây hạnh nhân Mông cổ, trên dốc núi phía xa là cây vân sam Thanh Hải, hai loài thực vật này đều phân bố tại khu vực tây bắc nước ta. Theo tôi biết thì trên núi Hạ Lan cũng có hai loài cây này.”

“Chỉ dựa vào cái này thôi sao?”, Hàn Giang bán tín bán nghi.

“Còn nữa, anh nhìn vách núi cheo leo trong ảnh đi!”,

Đường Phong nhắc nhở Hàn Giang.

“Trên vách núi? Hình như là hai con vật gì đấy, sơn dương phải không?”, Hàn Giang không hiểu ý Đường Phong.

“Đó là cừu hoang Himalaya”, Đường Phong khẳng định.

“Cừu hoang Himalaya?”

“Giữa những vách núi dựng đứng cheo leo là nơi mà cừu hoang Himalaya rất thích sống. Cừu hoang Himalaya, cộng thêm thực vật trong ảnh, về cơ bản tôi có thể khẳng định bức ảnh này được chụp trên dãy núi Hạ Lan”, Đường Phong suy đoán.

“Stechkin xuất hiện trên núi Hạ Lan?! Lẽ nào bọn chúng đã biết được kế hoạch tiếp theo của chúng ta?”, Hàn Giang có chút mơ hồ.

“Xem ra, rất có khả năng bọn chúng lại đi trước một bước”, Đường Phong nói.

Yelena không hiểu Hàn Giang và Đường Phong ý gì, vậy là Đường Phong kể lại cho Yelena nghe về tin tức mà giáo sư La giải mã được. Cô nghe xong, nói: “Vậy là, lần này tôi tới đây là quá đúng rồi. Bước tiếp theo chúng ta sẽ tới núi Hạ Lan, hi vọng không những có thể đoạt được kệ tranh ngọc mà còn tóm được cả Stechkin”.

“Em? Đi cùng bọn anh sao?”, Hàn Giang nhìn nhìn Yelena, có chút do dự.  

“Sao? Không được à? Cái gã Stechkin đó lợi hại hơn Stephen rất nhiều đấy, không có em, chỉ dựa vào anh chắc chắn không đấu lại với hắn đâu!”, Yelena nói.

“Xem ra đành phải vậy thôi. Stephen vẫn chưa tóm được, giờ lại mọc thêm Stechkin!”, Hàn Giang lẩm bẩm.

Mọi người chia nhau chuẩn bị, chẳng mấy chốc năm người Đường Phong, Hàn Giang, Yelena, Từ Nhân Vũ và Makarov đã lần lượt xuất phát.
 

hoahongden12

Active Member

Hàn Giang đang định về phòng thì Đường Phong bỗng trông thấy một tấm bản đồ treo trên bức tường ngoài phòng đón khách. Tấm bản đồ đó nhàu nhĩ, vàng ố, xem ra đã cũ lắm rồi. Đường Phong hoàn toàn bị cuốn hút bởi nó, Hàn Giang không hiểu liền bước tới cạnh anh, cũng chăm chú nhìn tấm bản đồ, chậm rãi đọc mấy chữ hán phồn thể bên mép tranh...

1

Tiết trời đầu xuân, năm người tập hợp lại tại Ngân Xuyên, lên một chiếc Cherokee rời khỏi bình nguyên Hà Sáo phì nhiêu, tiến thẳng vào sâu trong núi Hạ Lan. Dãy núi Hạ Lan cao lớn giống như một người khổng lồ nằm vắt ngang giữa sa mạc Badain Jaran và bình nguyên Hà Sáo, lấy thân mình chắn gió cát của sa mạc Badain Jaran, mang lại sự trù phú và đông đúc cho bình nguyên Hà Sáo. Đây từng là ngọn núi thần trong lòng người Đảng Hạng, nó đã chứng kiến những thăng trầm, hưng thịnh suy vong của vương triều Tây Hạ và cũng cất giữ biết bao bí mật lich sử của vương triều.

Xe tiến lên đèo giữa núi, hai ngọn tháp nguy nga sừng sững dựng đứng hai bên. “Đây chính là ngọn tháp của thời kì Tây Hạ”, Đường Phong vừa nhìn đã nhận ra ngay đây là kiến trúc Tây Hạ, “Người Đảng Hạng tín ngưỡng Phật giáo, Nguyên Hạo đã từng hạ lệnh xây dựng nhiều Phật tự tại nhiều nơi trên đất nước Trung Quốc. Nghe nói, dưới thời kì Tây Hạ, trong núi Hạ Lan, Phật tự nhiều vô số.”

“Nhưng đâu mới là ngôi chùa Hắc Thứu mà chúng ta cần tìm?”, Từ Nhân Vũ hỏi.

“Đáng tiếc là hiện giờ những Phật tự này đã mai một không còn nữa, muốn tìm thấy chùa Hắc Thứu thì chỉ có thể dựa vào cuốn sổ ghi chép của Misha”, Đường Phong nói.

Xe vừa đi qua đèo chưa bao xa thì đường cái đã trở thành đường đất, đi tiếp một đoạn thì trước mặt thấp thoáng một làn khói. “Hình như phía trước có một thôn xóm”, Đường Phong nhớ tới thôn dân mà Misha nhắc tới trong cuốn sổ.

Chiếc Cherokee chầm chậm tiến về phía làn khói. Lúc này, Đường Phong mới nhìn rõ, hóa ra không phải là thôn xóm gì cả, chỉ có độc một căn nhà lẻ loi. Trước cửa căn nhà này treo một tấm biển, giống như một nhà trọ.

“Thôn còn chẳng thấy đâu sao tự nhiên lại mọc lên một nhà trọ thế này?”, Từ Nhân Vũ nghi ngờ.

“Có lẽ là nhà trọ chuyên dành cho khách du lịch bụi”, Đường Phong suy đoán. 

Mọi người nhảy xuống xe, cẩn thận quan sát. Một căn nhà gỗ hai tầng được thiết kế tinh xảo, nhỏ nhắn xinh xắn, hiện lên vô cùng đẹp đẽ dưới những rặng núi làm nền phía sau lưng.

Giờ đang là buổi trưa, vừa vào nhà trọ, Đường Phong liền ngửi thấy mùi thức ăn thơm phức. Bà chủ sau quầy lễ tân khoảng gần 40 tuổi, trẻ trung duyên dáng, vừa trông thấy Đường Phong và mọi người liền rất nhiệt tình: “Các vị chuẩn bị vào núi chơi phải không?”

Hàn Giang gật đầu: “Bà chủ, chỗ bà có thể ở lại được chứ?”

“Được, tầng hai đều là phòng cho khách. Chỗ tôi đây tuy không to, nhưng cũng có tới bốn phòng đấy!”

“Vậy được, tôi thuê cả bốn phòng!”

“Bốn phòng? Anh định ở lại đây ư?”, Đường Phong không ngờ Hàn Giang lại định qua đêm ở đây.

Bà chủ nghe thấy vậy cũng ngớ người ra một lúc, rồi liền thu ngay lại nụ cười: “Anh này mạnh mồm thật đấy! Năm người các anh muốn ở bốn phòng?”

“Sao? Không được ư?”

“Được, tất nhiên là được. Nhưng hai phòng đã có người ở rồi!”

“Ồ?”, không chỉ Hàn Giang ngạc nhiên mà tất cả mọi người đều bất ngờ. Tầm này không phải mùa du lịch, nhà trọ trong núi sâu sao lại có người nhanh chân thuê trước được nhỉ.

Là ai vậy? Mọi người đều bắt đầu thầm suy đoán.  

Hàn Giang đang định cất lời tiếp tục hỏi han thì Đường Phong kéo nhẹ vạt áo anh, cười nói với bà chủ: “Vậy cho chúng tôi thuê hai phòng còn lại”.

Thế là bà chủ liền dẫn mọi người lên tầng hai. Vòng quanh lối cầu thang, phía đông, tây, nam, bắc mỗi hướng đều có một phòng trọ. Bà chủ chỉ phòng phía tây và phía bắc nói: “Hai phòng đó đều có người rồi, các anh ở tạm hai phòng này nhé!”. Nói xong, bà đưa chìa khóa cho Đường Phong rồi quay xuống.

Nhưng chợt nhớ ra điều gì đó, bà ta quay lại chống nạnh, nói một tràng đúng kiểu đã thuộc bài: “Nhà trọ phục vụ quý khách các loại rượu và nước giải khát, mì, cơm, trà nước, cũng có thể gọi món, xào hấp luộc chiên, hương vị hoang dã, chỉ cần là những món trên thực đơn, chúng tôi đều có thể làm. Nhưng các anh nhất định phải nhớ giờ ăn, bữa sáng là từ 7 giờ tới 8 giờ, bữa trưa là từ 12 giờ trưa tới 1 giờ chiều, bữa tối là từ 6 giờ tới 7 giờ, quá giờ không phục vụ.”

Nói xong, bà chủ ngúng nguẩy cặp mông đồ sộ bước xuống cầu thang. Đường Phong chia phòng, để Makarov và Yelena một phòng, còn mình, Hàn Giang và Từ Nhân Vũ một phòng. Bước vào phòng trọ, Đường Phong thấy căn phòng không rộng lắm nhưng rất ngăn nắp, bố trí gọn gàng đâu ra đấy, kéo rèm cửa sổ ra là thấy cảnh núi non xa tít tầm mắt.

Đường Phong vừa đặt ba lô xuống, Hàn Giang đã hỏi ngay: “Ban nãy tôi đang định hỏi bà chủ, sao cậu lại ngăn tôi lại?”

“Anh hùng hùng hổ hổ hỏi như vậy, ai còn muốn trả lời anh.”, Đường Phong trả lời.

“Vậy cậu đi hỏi đi!”

“Tôi còn phải hỏi anh đấy, sao tự nhiên anh lại quyết dịnh ở lại đây? Bây giờ vẫn còn sớm, mà kể cả trời có tối đi chăng nữa thì chúng ta cũng mang theo lều mà. Lẽ nào anh muốn hỏi thăm chút tình hình gì đó từ bà chủ kia?”

“Lý do đó không đủ hợp lý sao? Chúng ta cũng không biết vị trí cụ thể của chùa Hắc Thứu, mạo hiểm vào núi có khi chẳng thu hoạch được gì, vậy thà ở lại đây còn hơn, may ra còn hỏi han được tin tức!”, Hàn Giang nói ra lý do của mình.

“Nhưng hiện giờ Stechkin đã tới núi Hạ Lan, không biết chừng đối thủ cũ của chúng ta cũng đã tới rồi, bởi vậy thời gian của ta cũng không còn nhiều nữa!”, Đường Phong không khỏi sốt ruột.

“Lẽ nào bọn chúng cũng biết chùa Hắc Thứu sao?”

“Đừng quên những gì chúng ta đã nói ở Mã Khúc”, Đường Phong nhắc nhở Hàn Giang.

“Cậu vẫn nghi ngờ...”, Hàn Giang nói được nửa chừng thì hai người đã hiểu ý nhau.

2

Ổn định xong, tất cả mọi người xuống nhà ăn cơm.

Ăn uống no nê rồi, Đường Phong cũng không thấy ai ở hai phòng trọ còn lại xuất hiện. Từ Nhân Vũ, lão Mã và Yelena ăn xong về đều phòng nghỉ ngơi.

Hàn Giang đứng một mình ngoài phòng hút thuốc, Đường Phong vồ vai Hàn Giang hỏi: “Nghĩ gì vậy?”

Hàn Giang nhả ra một vòng khói vừa to vừa tròn: “Hiện giờ tôi đang nảy sinh hứng thú với người trong hai căn phòng đó, thậm chí còn vô cùng hứng thú nữa.”

Đường Phong trầm ngâm một hồi, nói: “Có khi anh đa nghi rồi, biết đâu người ta tới để leo núi thật.”

Hàn Giang đứng dậy, vỗ vai Đường Phong một cái: “Cậu nói tôi hùng hùng hổ hổ, vậy lần này tới lượt cậu đấy. Ân cần nhiệt tình với bà chủ chút, cố moi chút gì đấy từ miệng bà ta ra.”

Đường Phong nghe thấy vậy liền muốn ọe, nhưng cũng đành phải tự mình ra tay, xuống nịnh nọt bà chủ. Đường Phong và Hàn Giang cùng quay lại phòng đón khách tầng một, Đường Phong tươi cười, dối lòng nịnh nọt bà chủ một hồi, sau đó mới bắt đầu moi thông tin từ bà ta.

“Hiện giờ kinh doanh thế nào?”

Bà chủ nghe lời mấy ngon ngọt từ Đường Phong, giờ vẫn còn đang hớn hở, đối với Đường Phong ắt hẳn hỏi gì đáp nấy: “Theo lý mà nói thì hiện giờ không phải là mùa du lịch, kinh doanh đáng lẽ không tốt lắm, nhưng chắc năm nay số tôi may mắn, lúc này không phải nhà trọ đều kín phòng đó sao!”

“Hai phòng đó là ai thuê vậy? Sao buổi trưa không thấy họ xuống ăn cơm?”, Đường Phong lại hỏi. 

Bà chủ liếc một cái lên lầu: “Phòng phía nam là một đôi tình nhân, hú ha hú hí, giống như đi trăng mật vậy, bữa trưa của họ tôi đều phải bưng lên đấy!”

“Trăng mật mà đi leo núi sao?”

“Ý tôi là họ thắm thiết giống như mới cưới nhau đi trăng mật, còn người ta có phải thế thật hay không thì tôi không biết...”

“Vậy còn phòng phía đông thì sao?”, Đường Phong kịp thời ngắt lời bà chủ.

“Phòng phía đông là một người đàn ông.”

“Mỗi mình?”

“ừm, mỗi một mình.”

“Cũng đến leo núi?”

“Chắc là vậy. Nhưng người đó rất ít nói, mặt mũi lầm lì, còn lầm lì hơn cả cái anh kia!”, nói xong bà chủ liền chỉ sang Hàn Giang bên cạnh.

Hàn Giang lập tức lườm một cái, hậm hực nói: ‘Đúng là đã giả chết rồi mà vẫn còn bị trúng đạn! Hai người nói chuyện nhé, tôi đi đây!”

Hàn Giang nói là đi, nhưng thực ra là ngồi xổm ngoài cửa, dỏng tai nghe ngóng, không bỏ sót lấy một từ của bà chủ.

“Ông ta trông thế nào?”, Đường Phong lại hỏi.

Bà chủ ngẫm nghĩ một lúc: “Chẳng biết dược, không cao không thấp, không béo không gầy, mặt mũi cũng chẳng có gì đặc biệt, chắc tầm 40 tuổi”.

“Ông ấy đến đây mấy hôm rồi?”

“Đến được vài hôm rồi đấy. Ông ta rất kì lạ, đến cái là trốn trong phòng, cũng không cần tôi đưa cơm. Mỗi sáng sớm ra ngoài leo núi hai tiếng đồng hồ, sau đó quay về cứ ở lì trong phòng, cũng chả nói gì với tôi.”

“Ồ?”, Đường Phong giật mình ngạc nhiên ngửa đầu nhìn lên cầu thang dẫn lên tầng hai.

“Giờ này chắc ông ấy đang ở trong phòng!”, bà chủ bổ sung thêm.

Đường Phong chìm trong suy tư. Mãi lúc sau anh mới đột nhiên hỏi bà chủ: “Gần đây còn có người nào có vẻ đặc biệt tới đây nữa không?”

“Người nào đặc biệt?”, bà chủ không hiểu ý Đường Phong.

“Ví dụ như người nước ngoài ấy!”

“Người nước ngoài à? Không phải ban nãy các anh có hai người đó sao?”

“Ngoài ra có còn ai nữa không?”

Bà chủ lắc đầu: “Chỗ xa xôi hẻo lánh thế này lấy đâu ra người nước ngoài, cả năm cũng chẳng trông thấy mấy người ấy chứ.”

Lúc này Đường Phong mới thở phào một cái, nhớ ra việc quan trọng nhất vẫn chưa hỏi: “Bà chủ, bà là người địa phương phải không?”

“Đúng vậy. Từ nhỏ tôi đã lớn lên ở núi Hạ Lan, hiện giờ cả gia đình tôi đều trông vào nhà trọ này!”, nghe khẩu âm của bà ta thì quả thực đúng là người địa phương. 

“Vậy bà đã từng nghe nói chỗ nào trên núi Hạ Lan có một nơi tên là chùa Hắc Thứu chưa?”

“Chùa Hắc Thứu? Là một ngôi miếu ư?”

Đường Phong vừa nghe thấy hình như có manh mối liền vội vàng nói: “Đúng, đúng, là ngôi miếu.”

Bà chủ ngẫm nghĩ: “Tôi sống ở núi Hạ Lan mấy chục năm nay, nhưng chưa từng nghe thấy nơi nào có chùa Hắc Thứu cả. Xung quanh đây cũng chẳng có miếu mạo nào hết!”

Đường Phong nghe thấy vậy liền lập tức ỉu xìu. Nhưng anh không tuyệt vọng, hỏi tiếp: “Bà nghĩ kĩ lại xem, có thể hiện giờ ngôi miếu đó không còn nữa”.

Bà chủ lắc đầu dứt khoát: “Quả thực không nhớ gần đây có chùa Hắc Thứu nào cả. Hay là các anh thử hỏi người khác xem?”

Đường Phong thất vọng đến đỉnh điểm. Hỏi người khác? Nơi này vẫn còn người khác để hỏi sao? Đường Phong lại hỏi thăm bà chủ về đường xá quanh đây, bà chủ nhiệt tình chỉ đường cho anh: “Qua nhà trọ này của chúng tôi, đi tiếp vào trong núi thì chẳng còn bóng người nào đâu.

Tới dưới chân núi thì đến cả đường đất như trước cửa cũng không có thì lấy đâu ra miếu mạo được?”

Đường Phong ngoài miệng cảm ơn bà chủ, nhưng trong bụng lại nhủ thầm: “Lẽ nào ngay từ đầu chúng ta đã đi nhầm? Sổ ghi chép của Misha sao có thể sai được, như vậy xem ra chùa Hắc Thứu đã không tồn tại từ lâu rồi, thế nên người dân địa phương cũng không biết tới nó.”  

Đường Phong mang theo mớ suy nghĩ rối rắm bước ra khỏi nhà trọ, đúng lúc gặp Hàn Giang, anh hỏi: “Anh đã nghe thấy cả rồi chứ?”

“ừm”, Hàn Giang gật đầu.

“Xem ra khởi đầu chúng ta đã không thuận lợi rồi, ngôi chùa Hắc Thứu đó quả thực không dễ tìm.”

Hàn Giang trầm ngâm một lúc mới nói: “Tạm thời không quan tâm tới chùa Hắc Thứu vội, ngược lại, giờ tôi vô cùng tò mò về người đàn ông bí ẩn ở phòng trọ phía đông kia.”

“Còn cả đôi tình nhân trong phòng phía tây nữa, cũng phải để ý.”

“Đúng, xem bữa tối nay có thể gặp họ không, nếu họ không chịu lộ diện thì tôi sẽ nghĩ cách”, Hàn Giang tự lẩm bẩm.

“Anh có cách gì?”

“Lúc đó cậu sẽ biết.”

Đường Phong và Hàn Giang lại quan sát tình hình xung quanh, nhưng không phát hiện ra điều gì đặc biệt. Chắng mấy chốc, mặt trời đã xuống núi, giờ ăn tối đã đến.

3

Đường Phong cùng mọi người tới phòng ăn tầng một từ sớm. họ tìm một chiếc bàn dài to nhất ngồi xuống. Trong phòng ăn, ánh đèn trắng âm u, Đường Phong liếc chiếc bàn hình vuông bên cạnh rồi lại nhìn lên cửa cầu thang trên tầng hai. Đúng lúc này, trên lầu có tiếng động, là tiếng đóng mở cửa, ngay sau đó là tiếng bước chân, lát sau, một đôi nam nữ đã bước xuống cầu thang.

Hai người này nhìn thấy hội Hàn Giang cũng có chút ngạc nhiên, bước chân chậm lại. Nhưng chẳng mấy chốc họ đã tự nhiên trở lại, cô gái cười nói với chàng trai: “Người đến leo núi càng lúc càng đông nhỉ!”

“Đúng vậy, anh cứ tưởng mùa này chẳng có ai đến đây!”, chàng trai nói.

Hai người ngồi xuống bàn bên cạnh, gọi mấy món,

ăn ngon lành. Ngược lại, năm người Hàn Giang bàn bên này, mặt mũi vô cảm, im lặng không nói năng gì. Cuối cùng vẫn là Hàn Giang phá vỡ sự im lặng, hỏi chàng trai đó: “Hai bạn cũng tới đây leo núi sao?”

“Đúng vậy! Các anh thì sao?”

“Chúng tôi cũng vậy, lần đầu tiên tới đây, muốn hỏi đường các bạn.”

“Thật trùng hợp, chúng tôi cũng đến đây lần đầu!”

Nghe thấy họ vậy, Hàn Giang đành phải bỏ qua những câu hỏi mà anh đã chuẩn bị trước đó.

Mọi người ăn cơm xong, những người khác đều trở về phòng, Đường Phong và Hàn Giang vẫn ngồi trong phòng ăn, nhìn lên phía cầu thang. “Xem ra vị khách bí ẩn ở phòng phía đông tối nay không lộ diện đâu!”, Đường Phong thất vọng nói.

“Tôi có cách để ông ta lộ diện.”  

Đường Phong không hiểu Hàn Giang định làm trò gì, hai người vẫn ngồi lại trong phòng ăn thêm một lúc, vẫn không thấy bóng dáng người đó đâu cả. Hàn Giang đang định về phòng thì Đường Phong bỗng trông thấy một tấm bản đồ treo trên bức tường ngoài phòng đón khách. Tấm bản đồ đó nhàu nhĩ, vàng ố, xem ra đã cũ lắm rồi. Đường Phong hoàn toàn bị cuốn hút bởi nó, Hàn Giang không hiểu liền bước tới cạnh anh, cũng chăm chú nhìn tấm bản đồ, chậm rãi đọc mấy chữ Hán phồn thể bên mép tranh: “Hạ... Lan... Sơn… tàng... bảo... đồ”.

“Đây là cái gì?”, Hàn Giang nhìn Đường Phong.

“Một tấm bản đồ kho báu!”, Đường Phong lẩm bẩm.

“Hừm, chỗ này mà cũng có một bản đồ kho báu sao? Lại còn treo trên tường nữa chứ?”, Hàn Giang cảm thấy nực cười.

“Đây là bản đồ kho báu giả!”, hai phút sau, Đường Phong nói ra phán đoán của mình.

“Giả ư?”

“Ừm!”, Đường Phong miết miết tấm bản đồ kho báu ố vàng trên tường, giải thích: “Tuy tấm bản đồ kho báu này vẽ rất giống, nhưng nhìn kĩ những thứ trên đố thì vẫn còn cả trăm chỗ sai sót, đặc biệt là tờ giấy này đã khiến tấm bản đồ lộ nguyên hình!”

“Giấy làm sao? Trông có vẻ rất cũ!”, Hàn Giang không nhận thấy điều gì.

“Loại giấy này mới được sản xuất cách đây vài năm, cố ý làm cho cũ, giả thành giấy thời kì Dân quốc, thời đó căn bản chưa thê sản xuất được loại giấy này. Hiện giờ trên thị trường đồ cổ xuất hiện loại hàng giả thế này, bởi vậy mà tôi mới nói rằng loại giấy này đã khiến tấm bản đồ kho báu này lộ nguyên hình.

Đường Phong đang giải thích thì đột nhiên một giọng nói cất lên phía sau lưng: “Có mỗi một tờ giấy mà các anh cũng nghiên cứu nửa ngày vậy sao?”

Hai người giật mình, quay lại nhìn, dưới ánh đèn vàng vọt, không biết từ lúc nào, bà chủ đã lặng lẽ xuất hiện sau lưng họ.

Bà chủ thấy họ hứng thú với bức bản đồ kho báu trên tường liền kéo họ tới quầy lễ tân, chỉ hai bức tranh ngả vàng khác trên tường phía sau quầy lễ tân, nói: “Nếu các anh hứng thú với bản đồ kho báu thì chỗ tôi đây vẫn còn đây này.”

Đường Phong vừa trông thấy vậy đã choáng, hai bức đó cũng là giả, hoàn toàn được in bằng giấy bây giờ để làm giả đồ cổ. “Bà chủ, lượng thứ cho tôi nói thẳng, mấy tấm bản đồ kho báu của bà đều là đồ rởm, được in lại bằng giấy hiện đại, sau đó bị làm cho cũ đi, giả mạo đồ cổ từ thời Dân quốc”, Đường Phong nói với bà chủ.

Không ngờ, Đường Phong vừa nói xong, bà chủ không những không nổi cáu, ngược lại còn hớn hở vỗ vai anh “bộp” một cái: “Phí lời, tôi cũng có bảo đây là đồ thật đâu, ai mà có bản đồ kho báu thật được chứ?”

“Vậy đây là...”

“Chẳng phải có nó thì có thể tăng thêm chút không khí cho nhà trọ nhỏ của tôi sao?”

“Tăng thêm chút không khí?”, Đường Phong không hiểu.

Bả chủ giải thích: “Chắc các cậu không biết chứ những người chúng tôi ở đây từ già đến trẻ đều lan truyền một truyền thuyết liên quan tới bản đồ kho báu..

“Ồ?”, cả Đường Phong và Hàn Giang đều thấy phấn chấn.

“Tôi cũng nghe ông nội tôi kể lại rằng, từ thời Dân quốc, chiến tranh loạn lạc, có một nhóm người hùng mạnh chuyên đi cướp bóc tài sản, tích lũy một lượng lớn vàng bạc châu báu. Sau này nhóm người đó bị chính phủ tóm gọn, những tên đạo tặc trốn thoát đã đem vàng bạc châu báu mà chúng tích lũy được cất giấu trong núi Hạ Lan”, bà chủ kể lại rất sinh động.

“Bởi vậy mọi người ở đây mới có truyền thuyết về bản đồ kho báu ư?”, Đường Phong nói.

“ừm, từ khi tôi còn nhỏ thì người trong thôn chúng tôi đã lưu truyền về bản đồ kho báu này rồi, chỉ có điều là tôi chưa từng nhìn thấy bao giờ. Nhưng khi mở nhà trọ này trong núi, để thu hút khách tới, tôi đã nghĩ ra chiêu này, dán những bản đồ kho báu giả này trong quán, cho có chút không khí thần bí.”

“Không ngờ bà chủ có đầu óc kinh doanh đến thế!”, Đường Phong cười nói.

“Đương nhiên, nếu không thì sao nhà trọ của tôi mới khai trương mà đã kín khách vậy được?”, bà chủ có vẻ đắc ý - “Khách trọ ở phòng phía đông và phía nam không phải tới đây vì tấm bản đồ kho báu đấy chứ?”, Hàn Giang trêu chọc.

“Đôi tình nhân ở phòng phía nam thì chắc không phải rồi, còn người đàn ông ở phòng phía đông lúc mới đến đã chăm chú nhìn bản đồ kho báu trên tường rất lâu, còn hỏi, chuyện tôi nữa. Chỉ có mỗi lần đó là tôi nói chuyện với ông ta vài câu, sau đó tôi chẳng chuyện trò gì với ông ấy nữa”.

“Ông ấy hỏi bà gì vậy?”, Hàn Giang sốt sắng hỏi.

“Ông ấy hỏi tôi mấy tấm bản đồ này từ đâu ra. Lúc đầu tôi không nói thật, nói dối ông ấy là do tổ tiên truyền lại. Nhưng ông ấy cũng giống như cậu chàng này, nhìn ngay ra tấm bản đồ kho báu này là giả”, vừa nói bà chủ vừa chỉ vào Đường Phong.

“Xem ra người này cũng có chút nghề đấy!”, Hàn Giang nói.

“Bởi vậy tôi mới nói người đó hình như rất quan tâm tới bản đồ kho báu”, bà chủ nói.

“Bản đồ kho báu? Khách trọ phòng phía đông?”, Hàn Giang nghĩ tới đây mà trong lòng lại trào lên một mối nghi ngờ lớn.

4

Kim đồng hồ vừa nhích qua 10 giờ tối, Từ Nhân Vũ đã ngáy như sấm. Đường Phong cũng bắt đầu buồn ngủ, nhưng đúng lúc này, Hàn Giang lại chọc chọc anh. Đường Phong vẫn chưa hiểu gì cả, nhưng cũng đi cùng Hàn Giang ra ngoài cửa phòng. Phòng đón khách dưới tầng một tối om, tầng hai cũng không có lấy một tia ánh sáng. Hàn Giang cúi đầu dặn dò: “Giờ tôi sẽ vào phòng phía đông, nếu bị người trong đó phát hiện thì tôi giả vờ say rượu, nói rằng phòng anh ta không khóa cửa, cậu lập tức vào đó lôi tôi ra, nếu tôi phát ra tiếng chuột kêu trong đó thì cậu vào nhé!”

Đường Phong có chút lo lắng: “Anh vào bằng cách nào?”

Hàn Giang lại lôi ra một đoạn dây thép: “vẫn theo cách cũ”.

Đường Phong choáng: “Xem ra anh quen phạm tội rồi!”

“Đại trượng phu hành sự, không câu nệ tiểu tiết!”, Hàn Giang nghiêm túc nói.

Nói xong, Hàn Giang rón rén nép vào cửa phòng phía đông, áp tai vào cửa nghe ngóng một lúc, không thấy động tĩnh gì cả. Lúc này, Hàn Giang mới bắt đầu đưa sợi dây thép vào chọc ngoáy. Nhiều lúc Đường Phong thấy thật thần kì, chỉ loáng một cái, chưa tới hai giây mà cửa phòng phía đông đã bị Hàn Giang mở ra rồi.

Hàn Giang mở hé cửa phòng phía đông, lách người chui vào. Đường Phong căng thẳng nhìn vào trong phòng, năm phút sau, trong phòng vọng ra hai tiếng chuột kêu chít chít.

Đường Phong đã chuẩn bị để lao vào lôi Hàn Giang ra nhưng lại nghe thấy tiếng chuột kêu. Anh cảm thấy kì lạ, lẽ nào người trong phòng không phát hiện ra Hàn Giang xông vào? Đường Phong nghi ngờ, chầm chậm bước tới phía cánh cửa gỗ đó. Anh khẽ đẩy cửa, sợ rằng tiếng cót két của cửa sẽ làm người đàn ông trong phòng tỉnh dậy.

“Quả đúng như tôi dự liệu!”, giọng nói chắc nịch của I làn Giang khiến Đường Phong giật bắn mình.

Ngay sau đó là một chùm ánh sáng đèn pin sáng trưng rọi lên người Đường Phong. Đường Phong khẽ kêu lên: “Anh điên à?”

Hàn Giang bước đến, đóng cửa lại, sau đó dùng đèn pin quét nhanh một lượt khắp phòng, cuối cùng, chùm ánh sáng chiếu lên giường. Lúc này Đường Phong mới phát hiện ra, trên giường không có ai, cả căn phòng trống không!

“Thế là thế nào?”, Đường Phong vô cùng ngạc nhiên.

“Buổi chiều lúc cậu hỏi han bà chủ về tình hình phòng trọ này, tôi đã nghĩ ngay tới khả năng người đó không ở trong phòng”, Hàn Giang nói.

“Ồ? Tại sao?”

“Cậu nghĩ xem, ai lại chạy tới vùng núi xa xôi hẻo lánh này để mỗi ngày chỉ xuất hiện có một lần, thời gian còn lại thì tự nhốt mình trong phòng?”

“Ừm, vậy ông ta đi đâu nhỉ?”

“Tầm này đến núi Hạ Lan, lại bí ẩn như vậy, theo cậu đó có thể là ai?”, Hàn Giang hỏi lại Đường Phong.

“Anh nghi ngờ Stechkin? Nhưng bà chủ nói rằng không trông thấy người nước ngoài nào mà!”

“Đừng quên người bạn cũ của chúng ta “Stephen!”, Đường Phong kinh ngạc, “Hắn ta cũng tới núi Hạ Lan rồi, vậy thì chỗ này sát khí tứ bề mai phục, nguy hiểm khôn lường rồi!”

“Dĩ nhiên, hiện giờ ta vẫn chưa thể khẳng định người ở phòng này có phải là Stephen hay không, cũng có thể là một người khác, nhưng tôi nghĩ người này chắc chắn có liên quan tới thứ mà chúng ta cần tìm”, Hàn Giang vừa nói, vừa di chuyển đèn pin tới những góc khác trong phòng: “Thử xem gã này để lại vết tích gì”.

5

Đường Phong cũng bật đèn pin, hai người tỉ mỉ tìm kiếm trong phòng. Lục soát một lượt, chỉ có một chiếc va li màu xám đặt dưới giường là thu hút sự chú ý của hai người. Họ đưa mắt nhìn nhau, sau đó kéo chiếc va li ra. “Tách” một tiếng, chiếc va li không khóa nhanh chóng được mở ra. Lòng Đường Phong vô cùng hụt hẫng, có vẻ trong va li không có thứ gì quan trọng. Quả nhiên, trong đó chỉ có một bộ quần áo gió, một đôi giày leo núi, một đôi găng tay và vài bộ quần áo thông thường.

“Cao thủ từ trước tới nay đâu dễ để lại manh mối cho người khác.”

Đường Phong nói xong định đóng va li lại, nhưng Hàn Giang đã hất tay anh, rồi lôi từ trong xấp quần áo gió được gấp chỉnh tề ra một chiếc túi ni lông trong. Đường Phong giật mình, chăm chú nhìn, hóa ra trong túi ni lông là một tờ giấy đã ngả vàng. Hàn Giang hết nhìn tờ giấy trong túi ni lông, rồi lại nhìn Đường Phong, rồi anh đưa chiếc túi cho Đường Phong.

Dù sao Đường Phong cũng là dân chuyên nghiệp, anh mở túi ni lông ra, cẩn thận nhẹ nhàng lấy tờ giấy trong túi, mở ra, dàn phẳng. Lúc này họ mới phát hiện, tờ giấy trong túi hóa ra là một tấm bản đồ, chính xác mà nói, là một tấm bản đồ cũ.

“Xem ra cao thủ cũng có lúc sơ sẩy!”, Hàn Giang mở to mắt, mong có được tin tức quan trọng từ trên tấm bản đồ đó.

Đường Phong tức tốc xem một lượt tấm bản đồ:

“Đây là một tấm bản đồ được vẽ bằng tay từ thời Dân quốc, vẽ địa hình địa lý núi non dải tây bắc từ Tây Hạ tới Cam Túc.”

“Đừng lòng vòng nữa, chụp lại tấm bản đồ cũ này rồi rời khỏi đây đã!”, Hàn Giang nói.

Vậy là Đường Phong lấy điện thoại chuẩn bị chụp ánh. Ai ngờ, Hàn Giang giống như làm ảo thuật, móc từ thắt lưng ra một chiếc máy ảnh mi ni: “Cái điện thoại đó của cậu làm sao mà chụp rõ được?”

“Còn phải nói, tôi làm sao mà so được với đặc công già như anh?”

“Cái gì mà đặc công già, cái này gọi là chuyên nghiệp!”, vừa nói, Hàn Giang vừa chụp lại tấm bản đồ thật nhanh rồi lại nhét nó vào túi ni lông, đặt về vị trí cũ.

Mọi việc xong xuôi, Hàn Giang đang định bỏ đi thì Đường Phong bỗng tóm anh lại: “Chúng ta theo dõi cả ngày trời cũng không thấy căn phòng này có người ra vào. Vậy anh nói xem, người trong phòng ra ngoài bằng cách nào?”

“Tôi thấy cậu càng ngày càng ngốc hơn đấy. Cái này mà cũng phải hỏi?”

Hàn Giang dẫn Đường Phong bước đến cạnh cửa sổ. Quả nhiên, Đường Phong trông thấy chốt cửa sổ không cài, rõ ràng là có người cố tình để vậy để tiện chui vào phòng từ bên ngoài. Đường Phong nhìn những rặng núi tĩnh mịch bên ngoài cửa sổ, bất giác chìm trong suy tư.

“Đừng nghĩ lung tung nữa, mau đi thôi!”, Hàn Giang cất máy ảnh, rồi lại giống như làm ảo thuật móc ngay một chiếc bình nhỏ từ trong thắt lưng ra. Đường Phong nhìn mà ngớ cả người: “Đặc công giả như anh lắm trò thật đấy, lôi lọ thuốc xịt muỗi ra làm gì thế?”

“Thuốc xịt muỗi cái gì cơ chứ, đây là thuốc làm sạch không khí!”.

Hai người rón ra rón rén rút lui khỏi căn phòng phía đông, trở về căn phòng phía bắc, bật laptop lên, cắm máy ảnh của Hàn Giang vào, tấm bản đồ ban nãy hiện lên rõ nét Có trên màn hình máy tính. Địa hình dải núi từ vành đai Hà Tây tới Ninh Hạ, thành phố, thị trấn, sông ngòi... từng chút từng chút một hiện lên trước mắt họ.

“Đây là bản đồ cũ từ thời Dân quốc, rất có khả năng có ghi chú vị trí cụ thể của chùa Hắc Thứu.”

Lời của Đường Phong nhắc nhở Hàn Giang, cả hai đánh dấu rõ ràng trên bản đồ, nhưng lại không thấy “chùa Hắc Thứu” đâu cả.

“Xem ra từ thời Dân quốc, đã chẳng có ai biết về chùa Hắc Thứu nữa rồi!”, Đường Phong thở dài chán nản.

Hàn Giang thất vọng gật đầu, bỗng anh chỉ chữ “Lan” trong ba chữ “Hạ Lan Sơn” trên bản đồ, nói: “Cậu nhìn chỗ này xem!”

Đường Phong nhìn theo hướng ngón tay Hàn Giang chỉ, nhìn thấy một vòng tròn màu đỏ nhàn nhạt bên cạnh chữ “Lan”: “Cái này tượng trưng cho điều gì?”

“Không biết, có lẽ tượng trưng ột thị trấn!”, Hàn Giang suy đoán.

“Thị trấn ư?”, Đường Phong lắc đầu, “Những thị trấn trên tấm bản đồ cũ này đều được đánh dấu bằng hình vuông, hơn nữa còn được vẽ bằng bút mực”.

“Bút mực?”, lúc này Hàn Giang mới chú ý thấy tới sự khác nhau này.

“Vòng tròn màu đỏ đó được đánh dấu đặc biệt bằng mực nước màu đỏ, không giống với những thị trấn thông thường. Hơn nữa, anh nhìn vị trí mà nó được đánh dấu, vừa đúng nằm giữa núi Hạ Lan. Đó chắc chắn là khu vực núi cao rừng rậm, sao lại có thị trấn được?”

“Ô? Những gì cậu nói lại khiến tôi nghĩ tới ‘chùa Hắc Thứu!”, Hàn Giang liếc nhìn Đường Phong một cái.  

Đường Phong giật mình, chăm chú quan sát. Anh cẩn thận tìm kiếm mấy lượt bên cạnh vòng tròn màu đỏ đó, nhưng vẫn không thấy mấy chữ “chùa Hắc Thứu”. Nhưng khi từ từ di chuyển sang hướng tây thì mắt anh bỗng mở to.

6

Đường Phong phát hiện trên bản đồ, phía tây của vòng tròn đỏ đó, xuất hiện một đường nét mờ mờ đứt quãng, hình như là được vẽ bằng bút mực. Đường vẽ đó cong cong ốn lượn, kéo dài về hướng tây.

Hàn Giang cũng để ý thấy, vẽ nếu không nhìn kĩ thì khó mà thấy được đường đứt quãng đó trên bản đồ: “Cái gì vậy nhỉ?”

“Giống như một dòng sông chảy theo mùa!”, Đường Phong suy đoán theo kiến thức địa lý thông thường.

Quả nhiên, đường vẽ này hướng về phía tây chẳng mấy chốc đã rời khỏi núi Hạ Lan, tiến đến vị trí sa mạc Tengger, sau đó là tới sa mạc Badain Jaran, uốn lượn quanh co bên rìa sa mạc, khúc khuỷu nhấp nhô, cuối cùng dừng tại một nơi gọi là “núi Mã Tung”.

“Núi Mã Tung?”, ánh mắt Đường Phong lại di chuyển về phía tây, nhưng không thấy đường đứt quãng này đâu nữa.

“Từ núi Hạ Lan tới núi Mã Tung, cái này tượng trưng cho điều gì?”, Hàn Giang chau mày. 

“Một dòng sông theo mùa khởi nguồn từ trên núi Hạ Lan, chảy qua rìa sa mạc, cuối cùng mất hút tại núi Mã Tung!”, Đường Phong suy đoán theo kiến thức địa lý thông thường.

“Cậu phán đoán như vậy sao?”, Hàn Giang nghe thấy sự do dự trong giọng điệu của Đường Phong.

“Còn có cách giải thích nào khác không?”, Đường Phong hỏi lại Hàn Giang.

Hàn Giang ngầm nghĩ rồi nói: “Theo cách vẽ bản đồ thông thường thì cứ cho rằng, đường đứt quãng này tượng trưng cho dòng sông theo mùa đi chăng nữa thì cũng không cần phải dùng bút đỏ cố ý vẽ một vòng tròn tại nơi khởi nguồn của nó. Hơn nữa, ban nãy tôi cũng đã xem kĩ rồi, bên cạnh đường đứt quãng này không có bất cứ chữ nào ghi chú nào cả, dòng sông chảy theo mùa thì cũng phải có tên gọi mới đúng chứ”.

Đường Phong lắc đầu tỏ ý không giải thích được, rồi lại nhìn một lượt từ trên xuống dưới tấm bản đồ, nhưng cũng không có bất cứ phát hiện gì đặc biệt: “Ngoài cách giải thích đó ra, tôi không nghĩ được khả năng nào khác?”

Hai người trở nên im lặng, đột nhiên một giọng nói cất lên phía sau lưng: “Đây không phải là một tấm bản đồ kho báu sao?”

Đường Phong và Hàn Giang đều bị giọng nói này làm cho giật bắn mình, đồng loạt quay lại nhìn, là một người đàn ông. Không biết từ bao giờ, Từ Nhân Vũ đang ngủ say như chết, đã chẳng nói chẳng rằng lù lù đứng ngay sau lưng họ. “Anh bị hâm à? Dậy từ bao giờ mà chẳng ai nghe thấy gì vậy?”, Đường Phong bất mãn kêu lên.

“Có phát ra âm thanh mà!”, mặt Từ Nhân Vũ đầy vẻ vô tội, “Tại hai cậu xem tấm bản đồ đó quá nhập tâm đấy chứ!”

Đường Phong vẫn định tranh luận với Từ Nhân Vũ nhưng Hàn Giang hất tay: “Đừng nói nhiều nữa. Tiến sỹ, ban nãy anh nói rằng đây là một tấm bản đồ kho báu ư?”

“Anh nghe anh ta nói linh tinh làm gì, ban nãy anh ta cố ý dọa chúng ta đấy!”, Đường Phong làu bàu.

“Ai dọa các cậu làm gì, đây rõ ràng là bản đồ kho báu mà!”, tính ngang ngạnh của Từ Nhân Vũ lại trỗi dậy.

“Sao anh biết? Lẽ nào trước đây anh đã từng nhìn thấy nó?”, Đường Phong hỏi.

“Chưa”, Từ Nhân Vũ lắc đầu.

“Vậy tại sao anh lại nhận ra đây là tấm bản đồ kho báu?”, Hàn Giang hỏi.

“Chẳng phải trên đó viết rành rành đấy sao?”

“Viết ư?”, Đường Phong không hiểu.

“Hai cậu chỉ chăm chăm vào xem bản đồ, không chú ý tới góc dưới bên phải”, Từ Nhân Vũ nhắc nhở.

“Ồ! Ớ đây đúng là có chữ thật!”, Hàn Giang ngạc nhiên.

Đường Phong nhìn theo ngón tay Hàn Giang chỉ, nhìn thấy góc dưới bên phải bản đồ dòng chữ được viết bằng bút mực “Dân quốc tam thập ngũ niên, Xướng Quốc Hán phụ sử thuật, hội tàng bảo đồ nhất trương”. Chữ rất nhỏ, lại cộng thêm bị năm tháng mài mòn, nếu không nhìn kĩ thì cũng khó mà thấy được.

“Đây đúng là một tấm bản đồ kho báu!”, Đường Phong hưng phấn hẳn lên, nhưng ngay lập tức im lặng. Anh nhớ lại mấy tấm bản đồ kho báu buổi tối trông thấy trong phòng ăn, lòng bất giác nguội lạnh. “Lại mọc ra một tấm bản đồ kho báu…”, anh lẩm bẩm.

Còn Hàn Giang thì lại lặng thinh không nói năng gì.

“Sao thế? Ngạc nhiên đến đờ đẫn rồi à?”, Đường Phong chọc chọc Hàn Giang.

“Thảo nào người khách phòng phía đông lại hứng thú với tấm bản đồ kho báu trong phòng ăn đến vậy!”, Hàn Giang nhớ lại lời bà chủ nói.

“Đúng thế! Xem ra đúng là người đó đến đây để tìm kho báu rồi, bởi vậy mới đêm đi ngày phục. Chỉ... chỉ có điều mấy tấm bản đồ kho báu của bà chủ đều là giả, tấm này liệu có phải là thật không? Ban nãy đi vội quá tôi chưa kịp xem kĩ xem nó là thật hay giả?”. Đường Phong tiếc rẻ nói.

“Đường Phong, tôi đang nghĩ, giả sử tấm bản đồ kho báu này là thật, vậy thì có thêm câu này: trên tấm bản đồ, hàng loạt vấn đề đã liên tiếp nối đuôi nhau xuất hiện rồi đấy!”

Đường Phong hiểu ý Hàn Giang: “Vậy chúng ta xem ý nghĩa của câu này trước đã. Trước tiên, câu này cho thấy thời gian vẽ tấm bản đồ này, năm Dân quốc thứ 35, tức là năm 1946; câu phía sau ‘Xướng Quốc án phụ sở thuật, hội tàng bảo đồ nhất trương’, theo tôi thấy thì ‘Xướng Quốc’ là tên của một người, ‘án phụ sở thuật’ nghĩa là theo như những gì cha ông kể để vẽ một tấm bản đồ kho báu, cũng chính là tấm bản đồ kho báu mà chúng ta nhìn thấy này”.

“Xướng Quốc, chính là người vẽ nên tấm bản đồ này. Vậy cha ông ta là người thế nào nhỉ?”, Hàn Giang nghi ngờ nói.

“Cái này thì chịu!”

“Vậy tấm bản đồ này chỉ dẫn tới kho báu gì nhỉ?”, Hàn Giang trầm ngâm hồi lâu, nói: “Nếu như vậy thì vòng tròn màu đỏ đó trên bản đồ chắc không phải bình thường đâu?”

“Ý anh là...”, Đường Phong ngạc nhiên rồi bất giác rùng mình.

“Vòng tròn đó rất khác thường, khả năng là nó đánh dấu vị trí kho báu!”, Hàn Giang suy đoán.

“Kho báu trong núi Hạ Lan?! Vậy có liên quan gì tới chùa Hắc Thứu mà chúng ta đang tìm không? Đường nét quanh co uốn lượn kéo dài tới sa mạc đó rốt cuộc tượng trưng cho điều gì? Còn núi Mã Tung là nơi nào?”, Hàn Giang mụ mị hết cả đầu óc, không biết đâu mà lần.

Đường Phong cũng không sao trả lời được câu hỏi của Hàn Giang. Từ Nhân Vũ đứng bên canh đã lờ mờ hiểu vài điều: “Thật thú vị, trên núi Hạ Lan này bổng dưng có tận mấy đoàn khách đến để tìm kho báu”.

Đường Phong đột nhiên nghĩ ra điều gì đó, nói: “Giả sử vòng tròn đỏ đó chính là chùa Hắc Thứu mà chúng ta cần tìm, lại giả sử đường đứt quãng kia chính là đường dẫn đến kho báu, vậy chúng ta lại thử xem…”

Ba người cùng chụm đầu vào màn hình máy tính quan sát. “Như vậy cũng không đúng, đường đứt quãng 2 phía tây không đi qua hai ngọn tháp ở cổng núi, rõ ràng không giống với tuyến đường của chúng ta”, Đường Phong suy đoán.

“Nếu dựa vào suy đoán của cậu, vậy thì người khách bí ẩn ở phòng phía đông tại sao lại phải trọ ở đây làm gì, ông ta nên vào núi từ chỗ khác chứ!”, Hàn Giang nói.

“Người ở phòng phía đông là người thế nào? Suy đoán theo thời gian, từ năm Dân quốc thứ 35 tới giờ, thì nhiều khả năng người vẽ nên tấm bản đồ kho báu này đã chết. Cho dù là còn sống đi chăng nữa, thì cũng không thể chạy tới núi Hạ Lan để tìm kho báu được!”, Đường Phong nói.

“Hơn nữa ông ấy muốn đến tìm kho báu thì cứ vào thẳng núi mà tìm, sao phải trọ ở đây làm gì, lại còn lén lén lút lút ra ngoài vào buổi tối nữa chứ?”, Hàn Giang càng nghĩ càng rối.

“Tôi thấy các cậu ăn no rửng mỡ rồi đấy, chạy vào phòng người ta tìm thấy tấm bản đồ kho báu vớ vẩn gì đấy xong lại không giải thích được, tự chuốc mệt vào thân”, Từ Nhân Vũ dường như hết kiên nhẫn: “Hãy nghĩ tới cái chúng ta cần tìm đi đã!”

Lời của Từ Nhân Vũ khiến Đường Phong và Hàn Giang hết đường nói tiếp. Họ không tài nào liên hệ được mục đích hành động của mình với người đàn ông bí ẩn đi tìm kho báu ở gian phòng phía đông kia.

7

Cả đêm Đường Phong cứ trằn trọc. Sáng hôm sau, khi trời còn chưa sáng, trong lúc mơ màng, anh cảm thấy hình như có người đang đứng cạnh cửa sổ. Anh liền mở bừng mắt, hóa ra là Hàn Giang. Hàn Giang đứng cạnh rèm cửa sổ, vén một góc rèm lên, lặng lẽ nhìn ra bốn ngoài. Anh đã mặc quần áo xong xuôi, đến cạnh Đường Phong: “Cả đêm không ngủ được à?”

“Kì lạ thật?!”, Hàn Giang hình như hỏi mà không cần trả lời.

“Anh lại phát hiện ra gì vậy?”

“Từ tối qua đến giờ tôi vẫn theo dõi căn phòng phía đông, nhưng không thấy người đó về phòng.”

“Còn phải nói, người đó đã lén lút ra ngoài thì đương nhiên không thể đường đường quay về từ cửa chính của nhà trọ được.”

“Điều này tôi biết chứ. Cậu xem, cửa sổ phía sau phòng chúng ta vừa đúng có thể nhìn ra con đường trên núi đây này, cả đêm không thấy bóng đáng, cứ cho rằng người đó trốn được sự xăm soi đi chăng nữa, nếu về bằng đường cửa sổ phòng phía đông thì chắc chắn phải có động tình gì chứ, vậy mà tôi chẳng nghe thấy động tĩnh gì cả.”

“Có khi đang canh thì anh ngủ gật, không để ý thấy là chuyện bình thường mà.”

Hàn Giang không nói nữa, Đường Phong nhìn đôi mắt đỏ mọng đỏ của Hàn Giang, nói: “Để tôi theo dõi cho, anh mau đi ngủ một lúc đi. Hôm nay chúng ta còn phải xuất phát nữa đấy”.

“Hôm nay không đi nữa!”, Hàn Giang nói.

“Không đi nữa?”, Đường Phong có chút ngạc nhiên.

“Nghỉ thêm một ngày hẵng đi. Tôi phải gặp được cái người bí ẩn ở phòng phía đông đó đã.”

“Vậy thì anh cần gì phải canh như vậy chứ! Chẳng phải hôm qua bà chủ đã nói rồi đấy thôi, người đó hàng sáng đều xuất hiện mà.”

Hàn Giang thấy sắc trời đã sáng, liền nói: “Chúng ta đến phòng ăn đợi, tôi không tin là không có cách gì thấy được người đó.”

Đường Phong hết cách, đành cùng Hàn Giang xuống phòng ăn. Nhưng hai người họ đợi từ sáng sớm tới gần 10 giờ cũng không thấy phòng phía đông có bất cứ động tĩnh gì.

Đường Phong đành đến hỏi thăm bà chủ. Bà chủ nghe xong lắc đầu, nói: “Hôm nay lạ quá, mấy hôm trước cứ buổi sáng là ông đó xuất hiện, hôm nay thì ngược lại, từ sáng tới giờ chả thấy bóng dáng đâu cả!”

Đường Phong định hỏi tiếp thì trên lầu bỗng có tiếng động. Chẳng mấy chốc, đôi tình nhân phòng phía nam đeo ba lô bước xuống. “Các bạn đi bây giờ sao?”, Đường Phong hỏi.

“Ừm, chúng tôi xuất phát đây!”, cô gái rạng rỡ trả lời.

Hai người thanh toán tiền trọ cho bà chủ, rồi cười cười nói nói ra khỏi nhà trọ. Nhìn theo bóng dáng họ xa dần, Đường Phong và Hàn Giang không hẹn mà gặp, đều chìm trong cảm giác bất an, nặng nề.

8

Trở về phòng, mọi người thảo luận đối sách. Hàn Giang quyết định buổi tối sẽ đột nhập vào phòng phía đông lần nữa, bất luận có kết quả hay không, sáng sớm hôm sau sẽ xuất phát. Mọi người cũng đành phải nghe theo sự sắp xếp của anh.

Cả ngày, trong nhà trọ không thấy khách mới, cũng không thấy bóng dáng bà chủ đâu. Khi trời tối, nhà trọ yên tĩnh trở lại, yên tĩnh đến mức như nhập thành một thể với rặng núi tĩnh lặng xung quanh.

Hàn Giang nhìn đồng hồ trên cổ tay, kim đồng hồ chầm chậm chỉ tới 9 giờ 30, phòng phía đông vẫn không chút động tĩnh. Kim đồng hồ từng giây từng phút nhích lên phía trước, 10 giờ 15 phút, đúng lúc Hàn Giang bắt đầu thất vọng thì đột nhiên, trong phòng phía đông vọng ra chuỗi âm thanh rõ nét. Anh mở trừng mắt, âm thanh này rõ ràng vượt qua sự dự liệu của anh. Tiếng gì vậy nhỉ?

Đường Phong cũng cảm thấy kì lạ. Nhưng chỉ trong chốc lát, âm thanh lạ đó lại im bặt, trong và ngoài nhà trọ trở về với sự tĩnh lặng đáng sợ. Đó là âm thanh gì vậy?

Tiếng bước chân hỗn loạn? Tiếng dịch chuyển đồ đạc?...

Trong lúc Đường Phong suy nghĩ rối bời thì Hàn Giang đã mở cửa phòng, rón rén đến trước cửa phòng phía dông, Đường Phong cũng đi theo. Hàn Giang đưa tay đẩy thử cửa phòng, giống hệt hôm qua, cửa đóng then cài. Anh lại lấy “công cụ gây án” của mình ra khẽ chọc ngoáy ổ khóa một lúc đã mở được cửa ra. Đường Phong theo phản xạ thò tay ra định mở cửa, nhưng lần này đã bị Hàn Giang kéo lại. Anh ra hiệu cho Đường Phong theo sau mình, còn anh nghiêng người, đưa tay trái ra, khẽ đẩy cửa phòng. Đường Phong để ý thấy ngay trong giây phút cửa phòng được đẩy ra, Hàn Giang tức tốc móc khẩu súng ngắn 92 của mình từ trong eo ra.

Đường Phong hiểu rằng, chắc hẳn Hàn Giang đã cảm nhận thấy sự nguy hiểm nên bản thân anh cũng trở nên căng thẳng. Hàn Giang lách người một cái, bước vào phòng, Đường Phong cũng bắt chước theo Hàn Giang, lách người bước vào.

Hàn Giang không dám mạo nhiên bật đèn pin, chỉ chầm chậm dò giẫm trong bóng tối, anh đứng im trong phòng, quan sát trong bóng tối. Kiểu quan sát này có lúc vốn không dựa vào mắt mà là dựa vào từng giác quan trên cơ thể, từng lỗ chân lông, từng tế bào... sau 30 giây đằng đẵng, anh bật đèn pin lên. Trước tiên là giường ngủ, trên giường giống hệt tối qua, gọn gàng ngăn nắp, không có người!

Ngay sau đó, Hàn Giang dùng đèn pin quét khắp phòng một lượt, không có người. “Tiếng động ban nãy là thế nào?”, cảnh tượng trong phòng khiến Đường Phong cũng không kìm được sự tò mò của mình.

Hàn Giang không trả lời Đường Phong. Anh bước tới cạnh giường, áp người xuống, mò chiếc va li dưới giường, dưới đó trống trơn! Hàn Giang sững người. Đường Phong ngạc nhiên hỏi: “Thế là thế nào?”

Hàn Giang ngẫm nghĩ một lúc, đứng dậy, bước nhanh tới cửa sổ, nhìn ra ngoài cửa sổ, ngoài đó không động tĩnh gì, sau đó anh đẩy nhẹ cánh cửa sổ đang khép hờ ra. “Cậu nhìn đây!”, anh dùng đen pin soi lên thành cửa sổ.

“Bụi đất!”, Đường Phong trông thấy không ít bụi đất xuất hiện trên cửa sổ.

“Không! Chính xác mà nói là vết chân, hơn nữa rõ ràng không phải của một người để lại!”, Hàn Giang vừa nói, vừa cẩn thận thò đầu ra ngoài cửa sổ, “Tôi dám khẳng định, ban nãy ít nhất cũng có hai người vào phòng”.

“Hai người?”

“Đúng! Dĩ nhiên, điều khiến tôi ngạc nhiên hơn không phải là vì có hai người, mà là trên bục cửa sổ sao lại có nhiều bụi đất như vậy.

“Điều đó nói lên gì vậy?”

“Hôm qua tôi cũng kiêm tra bục cửa sổ, trên đó không có bụi đất. Nếu giống như trước đây chúng ta suy đoán, người khách ở phòng phía đông vào bằng đường cửa sổ, vậy thì chắc chắn mỗi lần ra vào đây, ông ta đều cố ý phủi những bụi đất đi mới đúng.”

“Ừm, đúng phải là như vậy. Nhưng lần này…”

“Nhưng lần này trên bục cửa sổ lại xuất hiện rất nhiều bụi đất, cộng thêm âm thanh kì lạ ban nãy, va li hành lý cũng không thấy đâu nữa, tôi linh cảm nhất định đã xảy ra chuyện gì đó, hoặc là…. hoặc là sắp xảy ra chuyện gì đó..

Nói tới đây, mắt Hàn Giang sáng lên. Anh nhảy ra ngoài cửa sổ, nói với Đường Phong: “Theo tôi!”

Nói xong, Hàn Giang liền khom người nhảy khỏi tầng hai. Đường Phong không tài như Hàn Giang được, chần chừ do dự một lúc, cuối cùng anh mới nhắm mắt nhảy xuống dưới.

Chân vừa chạm đất, Đường Phong đã nổi khùng, oán thán Hàn Giang: “Từ nay không nhắm mắt làm liều theo anh nữa, tôi bị anh hại sắp chết rồi đấy. Anh định làm cái trò gì thế hả?”

“Tôi linh cảm sắp xảy ra chuyện rồi!”, Hàn Giang vừa nói vừa bước nhanh về phía con đường trên núi, Đường Phong đành vội đi theo. Trong bóng tối, hai người bước nhanh về phía núi hoang tĩnh mịch.

9

Sau khi Hàn Giang đi được vài trăm mét thì đột nhiên dừng lại, quay người lại nhìn chằm chằm về khoảnh rừng rậm bên cạnh. Đường Phong cũng dừng bước, khẽ hỏi Hàn Giang: “Sao thế?”

“Tôi ngửi thấy mùi máu”, giọng Hàn Giang không to nhưng chắc nịch.

“Mùi máu?”, Đường Phong giật mình, anh cảm thấy ớn lạnh, chân mềm nhũn cả ra.

Hàn Giang kéo Đường Phong đi nhanh, tiến vào vùng rừng rậm. Chưa đi được mấy bước thì chân Đường Phong vướng vào thứ gì đó, mềm mềm, hình như vẫn còn ấm. Hai người giật bắn mình, bật đèn pin lên xem thì hóa ra đó là một người, một người nằm trên mặt đất!

“Hình như là phụ nữ!”, Đường Phong lẩm bẩm. Hàn Giang đã lật người phụ nữ đang nằm úp lưng này lại, một cô gái tóc vàng, hóa ra là cô ta!

“Fanny!”, Đường Phong kêu lên thất thanh.

“Sao cô ta lại xuất hiện ở đây?”, Hàn Giang cũng vô cùng ngạc nhiên. Anh cúi người xuống, kiểm tra hơi thở của cô ta thì thấy cô ta đã tắt thở rồi. Nhìn xuống phía dưới, thấy máu tươi đang xối xả tuôn ra từ ngực cô ta.

“Hạ sát từ cự ly gần bằng khẩu súng lục không âm thanh 7,62 ly, một phát chết luôn!”, Hàn Giang nhanh chóng phán đoán.

“Thi thể vẫn còn mềm, xem ra vừa mới trúng đạn.”

“Sát thủ ở gần đây?!”

Hàn Giang nói vậy khiến Đường Phong trở nên căng thẳng. Hàn Giang rút súng ra, quan sát xung quanh, rừng cây tối đen im lìm, chỉ có tiếng gió thổi vọng lại.

Năm phút sau, khi Hàn Giang đã đi hết một vòng quanh khoảnh rừng không rộng lắm, để chắc chắn rằng anh và Đường Phong không gặp nguy hiểm gì, họ mới quay lại cạnh xác Fanny.

“Chuyện này rốt cuộc là thế nào? Trước đây mỗi lần Fanny xuất hiện đều cùng với Stephen, nhưng lần này…

“Lần này cũng vậy…”, Hàn Giang ngắt lời Đường Phong.

“Sao cơ? Anh đã phát hiện thấy Stephen?”

“Không, nhưng tôi ngửi thấy mùi của hắn. Chúng ta đã tới núi Hạ Lan rồi, người bạn cũ của chúng ta không thể không xuất hiện.”

“Ý anh nói là người đàn ông ở trong phòng phía đông?”

“Tôi không dám khẳng định, nhưng khả năng này ngay từ đầu đã tồn tại rồi.”

“Bởi vậy ban nãy anh nói phát hiện vết chân hai người trong phòng. Vậy còn va li hành lí đâu?”

“Tôi tìm kiếm qua rồi, ở đây không có. Chắc là bị kẻ đã giết Fanny mang đi rồi.”

“Vậy tại sao Fanny lại chết? Lẽ nào bị Stephen giết ư?”

“Ai biết được? Có khi là chó cắn chó, chia chác không đều, có lẽ sự tình còn phức tạp hơn chúng ta tưởng nhiều.”

“Vậy bây giờ chúng ta làm thế nào?”

“Sáng sớm mai báo cảnh sát, sau đó chúng ta theo kế hoạch ban đầu tiến vào núi.”

Hai người thất thểu trở về nhà trọ, Đường Phong bỗng nhớ ra gì đó: “Cái chết của Fanny khiến tôi không thể không nghiên cứu lại tấm bản đồ kho báu kia lần nữa. Nếu tấm bản đồ đó quả thực thuộc về Stephen, vậy thì vòng tròn đỏ trên bản đồ kho báu có nhiều chuyện để nói đấy!”

“Ý cậu là Stephen cũng đang tìm chùa Hắc Thứu? Còn vòng tròn đỏ trên bản đồ kho báu chính là kí hiệu chùa Hắc Thứu?”, Hàn Giang ngạc nhiên hỏi.

Đường Phong gật gù: “Chỉ có cách giải thích đó thôi. Nhưng cũng có rất nhiều nghi vấn, bất luận vòng tròn đỏ đó tượng trưng cho chùa Hắc Thứu hay kho báu nào khác, nhưng tại sao trên bản đồ chúng ta không thấy kí hiệu của tuyến đường cụ thể để đến được nơi đó, cũng không có chữ chú thích? Tôi thật sự không hiểu, cái này gọi là bản đồ kho báu gì chứ?”

“Lẽ nào đường đứt quãng đó tượng trưng cho tuyến đường?”

“Cứ cho rằng đường đó tượng trưng cho tuyến đường đến vòng tròn đỏ đi chăng nữa thì cũng vô ích. Xung quanh đường đứt quãng đó cũng không có bất cứ kí hiệu tham chiếu nào, hơn nữa lại mờ ảo không rõ, đứt quãng liên tục. Không ai có thể chỉ dựa vào cái gọi là bản đồ kho báu đó mà tìm thấy đường đi đến vòng tròn đỏ đó được.”

Hàn Giang không thể giải thích được mọi chuyện, đành lựa chọn im lặng. Hai người bận rộn hồi lâu cũng đã mệt mỏi rã rời, hôm sau còn phải khẩn trương lên đường nên liền chìm vào giấc ngủ.
 

hoahongden12

Active Member

Đường Phong bước từng bước nhỏ trên những phiến đá khổng lồ, anh vô cùng thận trọng. Khi chắc chắn chân mình đã đặt lên vách núi đá, anh mới dùng búa leo núi cắm một lỗ nông trên phiến đá khổng lồ. Cứ như vậy lặp di lặp lại, anh khó nhọc liến lên phía trước... Gió đông lạnh buốt kêu gào bên tai, dưới chân là một vùng tối đen, anh không dám cúi đầu nhìn xuống. Một trận cuồng phong ào tới, anh nhắm mắt lại, bám thật chặt vào vách núi...

1

Trằn trọc tới sáng hôm sau, để không loạn lòng mọi người, Hàn Giang không kể lại cho họ nghe chuyện xảy ra đêm qua. Nhưng anh cũng nhận ra chút khác thường trong mắt Yelena, có lẽ việc tối qua đã không lọt qua được mắt cô ấy.

Hàn Giang âm thâm báo cảnh sát, tất cả mọi người nhân lúc cảnh sát chưa tới đã vội vàng xuất phát.

Sau khi xe chạy được tiếng rưỡi đồng hồ, con đường đất bằng phẳng, rộng rãi cũng biến mất. Đường Phong nhảy xuống xe, phát hiện họ đã tới một khe núi, phía trước thấp thoáng xuất hiện ba con đường mòn trái, phải và ở giữa, uốn lượn quanh co, dẫn sâu vào trong núi.

Trong cuốn sổ ghi chép của Misha cũng không nói là đi theo con đường nào để vào núi!”, Makarov nói.

Hàn Giang quan sát trái phải một hồi lâu, cũng không quyết định được, ngược lại, Đường Phong chỉ con đường mòn bên phải bị bụi rậm và cỏ hoang che kín, anh nói: “Tôi nghĩ chúng ta nên đi đường này.”

“Tại sao?”

Trong cuốn sổ ghi chép của mình, Misha đã viết rất rõ, vào những năm 50 của thế kỷ 20, khi ông và Lương Vân Kiệt tới núi Hạ Lan khảo sát thì chùa Hắc Thứu đã rất ít vết tích của con người. Đã bao năm qua rồi, tôi nghĩ ở đó chắc chắn càng thêm hoang vu, không một bóng người. Ba con đường trước mặt chúng ta, đường bên trái và ở giữa chắc là thường có người đi qua, bởi vậy mới không bị cỏ hoang che phủ, còn đường bên phải lại bị bụi rậm và cỏ hoang che kín, rõ ràng rất ít người đi đường đó, tôi nghĩ có lẽ đây mới chính là con đường tới chùa Hắc Thứu.”

“Nhưng trong sổ ghi chép của Misha viết rằng, gần chùa Hắc Thứu có một thôn trang, không phải hoàn toàn là không một bóng người”, Từ Nhân Vũ phản bác lại.

Năm đó có lẽ là có một thôn trang, nhưng sau bao nhiêu năm, vật đổi sao dời, ai còn sống trong núi sâu như vậy làm gì nữa? Nếu như là nơi mà người ta thường tới thì bí mật của chùa Hắc Thứu đã khám phá từ lâu rồi!’

Đường Phong đáp lại.

“Ai mà biết được? Không phải cậu có tấm bản đồ kho báu đấy sao?”, Từ Nhân Vũ nhắc nhở Đường Phong.

“Tôi chẳng thấy tấm bản đồ đó giúp ích được gì cho chúng ta cả, chúng ta đừng để bị nó chi phối, hãy cứ đi theo kế hoạch ban đầu định ra!”, Đường Phong kiên định nói.

Hàn Giang gật gù, cảm thấy Đường Phong phân tích có lý. Vậy là năm người mang theo những vật dụng cần thiết, bắt đầu men theo con đường lúc ẩn lúc hiện phía bên phải dẫn lên núi Hạ Lan.

Đi men theo con đường nhỏ được vài trăm mét, Dường Phong đi đầu bỗng phát hiện ra con đường nhỏ dưới chân đã biến mất: “Sao đường đi bỗng nhiên mất dấu vậy?”, Đường Phong nghi ngờ tiếp tục dò giẫm tiến lên phía trước, chân đạp lên lớp cỏ dại dày cộm, chới với một cái, suýt nữa thì ngã nhào. Từ Nhân Vũ nói: “Xem ra đường này không đi được thật. Đường Phong, cậu chọn nhầm đường rồi đấy!”

Đường Phong không cam lòng, vẫn tiếp tục tiến lên phía trước, bước thấp bước cao, đi khoảng bốn năm trăm mét trong cỏ hoang và bụi rậm mới lại trông thấy một con đường mòn thấp thoáng quanh co. Đường Phong quay lại hét lên với mọi người: “Ở đây có đường, xem ra rất nhiều người leo núi đi đến đây cho rằng hết đường rồi nên đã quay lại.”

Mọi người đuổi lên theo, con đường mòn ban nãy họ vừa đi qua giờ đã chìm nghỉm trong cỏ hoang, không chút tung tích. Tiếp tục nhìn phía trước, xuất hiện một khoảnh rừng rậm âm u tối đen, anh bất giác giật thót tim. Anh cũng không biết con đường mòn dưới chân mình sẽ đi về hướng nào, nhưng đã tới đây rồi thì cũng đành phải bất chấp mà tiến lên thôi.

Hàn Giang tán đồng phán đoán của Đường Phong, Từ Nhân Vũ không nói được gì cả, đành theo Đường Phong men theo con đường mòn dưới chân tiến vào khoảnh rừng rậm. Rừng rậm mênh mông, cây cổ thụ chạm trời, cành lá sum xuê, che kín ánh nắng, người đi vào trong đó, dường như đang từ khoảnh khắc ban ngày tiến vào đêm đen, chỉ có những tia nắng lọt qua kẽ lá rọi xuống chỉ hướng cho nhóm của Đường Phong.

Đường Phong lo lắng sợ rằng đường đi dưới chân sẽ càng lúc càng hẹp lại, càng đi càng không dễ nhận ra, sau đó sẽ mất tích hoàn toàn trong khu rừng rậm mênh mông tối đen này. Nhưng điều anh lo lắng đã không xảy ra, có lẽ là do ông trời rủ lòng thương, đường đi dưới chân Đường Phong càng đi càng rộng mở, càng đi càng sáng tỏ. Họ rất thuận lợi đi ra khỏi khoảnh rừng rậm, tới một vùng cây rậm khác.

Con đường dưới chân vẫn vươn dài lên núi, Đường Phong cảm nhận rõ độ cao so với mặt nước biển đang tăng dần, thực vật hai bên đường cũng thay đổi. Bước ra khỏi vùng cây rậm, mọi người đến một vùng cỏ rậm trên núi cao, đường đi dưới chân đột nhiên biến mất.

Từ Nhân Vũ lo lắng: “Tôi đã nói chúng ta đi sai đường rồi mà! Giờ thì hay quá, leo cao như vậy rồi, hết đường rồi đấy. Đây là nơi khỉ ho cò gáy nào thế này, trời Sắp tối rồi, lễ nào buổi tối chúng ta phải ngủ lại ở cái nơi quái quỷ này?”

Đường Phong cũng lo lắng trong lòng, đường đi ban nãy còn rất rõ ràng, sao lúc này lại đột nhiên biến mất?

Anh quay lại hỏi Makarov: “Lão Mã, năm đó trong đội khảo sát, Misha có kể lại cho bác nghe về chuyến khảo sát trên núi Hạ Lan không ạ?”

Makarov trầm ngâm một hồi, nói: “Hai hôm nay tôi cũng nghĩ mãi về chuyện của đội khảo sát năm nào, nhưng thời gian qua lâu lắm rồi, ngoài những gì tôi đã nói với cậu thì quả thực tôi không nhớ ra được Misha đã từng nói gì với tôi nữa.”

“Ở đây mất sóng rồi, xem ra chúng ta lại bị mất liên lạc với thế giới bên ngoài rồi!”, Hàn Giang đột nhiên nói.

Mọi người trở nên im lặng, Đường Phong thất vọng nhìn mọi người, rồi lại nhìn ra đồng cỏ mênh mông. Đột nhiên, trong bụi cỏ cách đó khoảng trăm mét có thứ gì đó khẽ động đậy. “Cừu hoang Himalaya!”, Đường Phong ngạc nhiên kêu lên.

Một con cừu hoang Himalaya vạm vỡ đột nhiên nhảy ra từ một bụi cỏ cao đến bụng người, lao về phía trước. “Đi theo cừu hoang Himalaya, chắc chắn có đường!”, nói xong, Đường Phong lao vào bụi cỏ, chạy như bay, đuổi theo con cừu. Mọi người cũng vội nhảy theo vào trong bụi cỏ.

Một cuộc rượt đuổi bão táp, Đường Phong không nhìn rõ đường đi trước mặt, mấy lần vấp ngã. Lại khuỵu chân một cái, nhung lần này khi anh đứng dậy thì con cừu hoang đó đã mất hút khỏi tầm mắt.

2

Một làn khói trắng bốc lên trên núi, Đường Phong đang nghi ngờ, đôi chân theo phản xạ bước lên phía trước vài bước, dù không muốn nhưng anh vẫn bước hụt. Lần bước hụt này khá sâu, bởi vì dưới chân Đường Phong là vực sâu ngàn mét.

Hai mắt Đường Phong tối sầm lại, anh tưởng rằng mình đã rơi xuống, chắc chắn sẽ một đi không trở lại, nhưng cơn đau thấu tận xương tủy đã khiến anh trở nên tỉnh táo. Đây là đâu? Đường Phong mở mắt ra thì thấy mình đang nằm trên một mỏm núi nhô ra, một bên là vách núi cheo leo cao chừng năm, sáu mét, còn bên kia lại là vực sâu không đáy. Xem ra chính mỏm núi nhô ra này đã cứu mạng anh, không thì anh đã bỏ mạng tại chốn này rồi.

Phía trên vọng, lên tiếng gọi của Hàn Giang và mọi người, Đường Phong vội vàng đáp lại: “Tôi ở đây.”

Hàn Giang thò đầu ra khỏi vách núi: “Tôi tưởng rằng tiểu tử cậu lần này khỏi cứu rồi!”

“Chắc mạng tôi lớn!”, Đường Phong vẫn nói cứng.

“Tôi đã khuyên cậu quay lại rồi, ở đây vốn không có đường. Giờ thì hay rồi, chạy như điên theo con cừu hoang đó, tí nữa là toi mạng rồi!”, Từ Nhân Vũ cũng thò đầu ra khỏi vách núi cằn nhằn.

“Cậu có thể lên được không?”, Hàn Giang ở phía trên hét lên.

Đường Phong nhìn trái nhìn phải, nói: “Tại sao tôi phải lên đó?”

“Thế cậu định ở dưới đấy luôn hả?”

“Ban nãy con cừu biến mất ở đây. Tôi nghĩ ở đây chắc chắn có đường!”, Đường Phong hét về phía Hàn Giang.

“Trên vách núi có đường sao?”, Hàn Giang do dự.

“Cậu điên rồi!”, Từ Nhân Vũ hét lên.

Đường Phong mặc kệ họ, tìm kiếm hai bên mỏm núi, vách núi phía tây chưa đi được mấy bước đã hết đường. Đường Phong lại đi sang vách núi phía đông, trong một đám cỏ dại, một con đường mòn thấp thoáng xuất hiện: “Ở đây quả nhiên có đường”.

Đường Phong giục Hàn Giang và mọi người cùng xuống dưới này. Mọi người nghe theo anh, đành phải men theo những chỗ khá bằng phẳng trên vách núi, thả dây thừng để leo xuống mỏm núi nhô ra đó.

Trời sắp tối rồi, khói sương đậm đặc bốc lên trong những khe núi, Đường Phong cẩn thận, rón rén tiến từng bước về phía trước, anh không nhìn thấy cảnh vật cách đó ba mét, đành phải cố gắng hết sức áp sát người vào vách núi bên cạnh. Đột nhiên, anh trông thấy rõ mồn một dấu chân của cừu hoang trên đường mòn bên cạnh vách núi.

“Rõ ràng là cậu chàng đó đi đường này rồi!”, anh lẩm bẩm.

Đường Phong tin rằng con cừu hoang cứng đầu cứng cổ đó chắc chắn sẽ dẫn họ tới một con đường lớn. Nhưng điều khiến anh thất vọng là, họ đi mãi theo dấu chân cừu để lại trên đường, càng đi đường càng hẹp lại, càng cheo leo, hiểm trở hơn, rốt cuộc thì... không thấy đường đâu nữa.

Trời ngày một tối hơn, mọi người bắt đầu oán thán Đường Phong. Trong lòng Đường Phong cũng hoảng loạn, chân bất giác bước nhanh hơn.

“May mà vách núi nhô ra chỗ vực sâu này không bị đứt đoạn!”, Đường Phong vừa nghĩ vừa bước nhanh hơn. Nhưng khi sương khói cách đó ba mét tản đi, hiện lên trước mắt anh lại là một vách đá nhô ra, vách núi dưới chân lẽ nào đứt đoạn tại đây sao?

3

Đầu tiên là tiếng oán thán của tiến sỹ vang lên: “Tôi đã nói con đường này không dẫn đi đâu rồi mà cậu không tin. Giờ thì hay rồi, trời thì đã tối, đêm nay chúng ta ngủ lại trên vách núi này nhé!”

“Không thể nào!”, Đường Phong vẫn mạnh miệng, anh không tin rằng mình đã phán đoán sai. Anh và Hàn Giang chăm chú quan sát vách núi đột ngột nhô ra, vách núi này giống như một bức tường chặn đứng đường đi của họ.

“Vậy con cừu hoang đó làm thế nào vượt qua được đây nhỉ?”, Đường Phong nhìn vách núi, miệng làu bàu. 

“Cừu hoang qua được nhưng chắc gì chúng ta đã qua được?”

“Tại sao?”, Đường Phong thấy giọng Hàn Giang có vẻ như đã biết chút gì đó.

“Tôi nghĩ con cừu đáng yêu đó chắc chắn đi đường này.”

Hàn Giang chỉ vào một tảng đá khổng lồ nhô ra phía mép vách núi, Đường Phong chỉ nhìn một cái đã thấy lạnh toát cả người. Bên dưới tảng đá đó là vực sâu hun hút, lẽ nào con cừu hoang có thể nhảy qua tảng đá này sang bên kia?

Hàn Giang nhìn sang Đường Phong hỏi: “Sao, có dám leo qua không?”

“Leo qua? Ý anh nói là leo qua tảng đá đó? Đầu anh chắc chắn có vấn đề rồi!”, Đường Phong chưa kịp trả lời thì Từ Nhân Vũ đã hét lên.

“Tiến sỹ, đừng có kích động như thế! Vì Đường Phong đã đưa chúng ta tới đây rồi, muốn leo qua thì cũng phải để cậu ấy làm mẫu tnrớc đã!”, trên mặt Hàn Giang còn có chút tươi cười.

Sắc mặt Đường Phong thật khó coi, anh cảm thấy tim mình đang đập nhanh hơn, đột nhiên có cảm giác muốn nổ tung. Nhưng cuối cùng, anh cũng không chịu nhận mình kém cỏi, mặt đỏ phừng phừng, gào lên với Hàn Giang:

“Leo thì leo! Nhưng tôi leo sang được rồi thì mọi người cũng phải leo qua đấy nhé!”

“Chỉ cần cậu có thể qua được thì bọn tôi cũng sẽ qua được!”, Từ Nhân Vũ cổ vũ Đường Phong.

Đường Phong bất lực, đành chuẩn bị dụng cụ. Anh thắt dây thừng vào quanh thắt lưng, chuẩn bị leo qua tảng đá khổng lồ trước mặt. “Tôi thấy sao anh lại yên tâm về tôi vậy nhỉ? Ngộ nhỡ tôi rơi xuống đó một cái thì anh cũng không thể kiếm đâu ra được cộng sự nào xuất sắc như tôi đâu!”, Đường Phong thấy Hàn Giang mặt mày thản nhiên nên tức tối nói.

Hàn Giang cười: “Cậu là do chính tay tôi huấn luyện ra, nên tôi rất yên tâm về cậu. Chút việc nhỏ này đối với cậu khó gì.”

Đường Phong bị Hàn Giang chọc tức tới nỗi cứng họng nên đành im lặng, leo thẳng lên tảng đá khổng lồ nhô ra khỏi vách núi đó. Hàn Giang vẻ ngoài tỏ ra rất thản nhiên, nhưng khi Đường Phong dần mất hút khỏi tầm mắt, anh cũng nắm chặt sợi dây thừng trong tay.

Đường Phong bước từng bước nhỏ trên những phiến đá khổng lồ, anh vô cùng thận trọng. Khi chắc chắn chân mình đã đặt lên vách núi đá, anh mới dùng búa leo núi cắm một lỗ nông trên phiến đá khổng lồ. Cứ như vậy lặp đi lặp lại, anh khó nhọc tiến lên phía trước... Gió đông lạnh buốt kêu gào bên tai, dưới chân là một vùng tối đen, anh không dám cúi đầu nhìn xuống. Một trận cuồng phong ào tới, anh nhắm mắt lại, bám thật chặt vào vách núi, đợi khi gió lặng anh mới dám bước từng bước nhỏ lên phía trước.

Cuối cùng, Đường Phong có cảm giác mình sắp leo qua được tảng đá khổng lồ này rồi; anh đã vòng qua được phía sau tảng đá đó, quay đầu nhìn phía sau tảng đá, một vùng tối đen. Anh bật đèn pin lên, và lúc này mới chắc chắn mình đã không phán đoán sai, vách núi đằng sau tảng đá khổng lồ hiện ra một khoảng bằng phẳng. Anh không biết ở đó có gì, nhưng ít nhất cũng có một chỗ để đặt chân.

Đường Phong lại bước từng bước ngắn về phía trước. Rốt cuộc anh đã trông thấy mặt đất rắn chắc trước mặt, chỉ cần mình bước tiếp vài bước nữa là đã có thể đặt chân lên dải đất chưa từng biết tới phía sau tảng đá khổng lồ đó.

Nhưng Đường Phong lại tính toán sai khoảng cách giữa anh và dải đất chưa từng biết tới này. Khi anh nhấc chân phải chuẩn bị đặt lên đó thì lại bị hụt chân, cơ thể bỗng mất thăng bằng, hai chân treo lơ lửng trong không trung. Trong thời khắc ngàn cân treo sợi tóc ấy, theo bản năng, anh vươn tay ra bám chặt vào cái hố nông mà anh mới vừa đào được trên vách núi.

Phía bên kia tảng đá, bốn người: Hàn Giang, tiến sỹ Từ, lão Mã và Yelena đang giữ chặt lấy sợi dây thừng. Khi Đường Phong bị hụt chân, Hàn Giang cảm nhận rõ rệt bàn tay vẫn giữ sợi dây thừng của mình đau buốt thấu tận xương tủy. “Tóm chặt!”, anh hét lên với mọi người.

“Đường Phong, cậu không sao chứ?”, Hàn Giang hét về phía bên kia tảng đá.

Đường Phong sống chết bám thật chặt vào cái hố nông trên vách đá. Anh cảm giác cơ thể mình đang dần cứng đờ từng chút từng chút một trong gió rét, giống như một ngọn cỏ nhỏ gồng mình trong gió vậy, nó sẽ lập tức bị cuồng phong cuốn đi, sau đó rơi xuống vực sâu ngàn mét.  

Tiếng gọi của Hàn Giang đã khiến Đường Phong đang dần dần tê dại bỗng tỉnh táo trở lại. Anh ngước nhìn đôi bàn tay đang rỉ máu của mình. Một vài hòn đá to từ phía trên đầu rơi xuống. Anh hiểu rằng nếu chỉ dựa vào đôi bàn tay để chống đỡ thì sẽ không thể gắng gượng được bao lâu nữa. Bản năng muốn sống đã thôi thúc Đường Phong bắt đầu tìm kiếm sự chổng đỡ dưới chân. Sau một hồi vùng vẫy, giầm đạp loạn xạ, anh cảm thấy chân trái của mình hình như đã đạp lên một vách đá cứng rắn. Nghiêng người nhìn về phía cách đó không xa lắm, lần này thì Đường Phong đã tính toán chính xác khoảng cách giữa anh và mặt đất, anh dốc hết sức lực, bay người một cái, rốt cuộc đã ngã nhào ra mặt đất rắn chắc.

Đôi bàn tay Đường Phong bị cào rách chảy máu, cơ thể cũng bị đá vụn rơi đập, đau nhức. Lúc này những tiếng kêu gọi của Hàn Giang và mọi người liên tiếp vọng lại. Anh lấy lại tinh thần, đứng dậy, hét về phía sau tảng đá khổng lồ: “Tôi không sao, mọi người men theo những cái lỗ mà tôi đã khoét trên vách đá để qua đây đi, đằng sau có đường đi”.

Đường Phong nói xong, thắt chặt dây thừng trên người, sau đó tìm một vách núi vững chắc, bám thật chặt vào đó, chờ đợi mọi người leo qua. Người thứ hai qua là lão Mã, sau đó là tiến sỹ Từ, Yelena, cuối cùng là Hàn Giang. Khi năm người đã leo qua được tảng đá khổng lồ j đó, đến dải đất chưa từng biết tới, thì trời đã tối mịt, không còn chút ánh sáng nào cả.

4

Mọi người nghỉ ngơi một lúc rồi lại tiếp tục lên đường. Từ Nhân Vũ muốn dựng lều tại đây, nhưng Hàn Giang và Đường Phong đều muốn đi tiếp, tìm một chỗ tốt hơn để dựng lều. Vậy là, mọi người tiếp tục tiến lên trong màn đêm, con đường phía sau vách núi càng đi càng rộng ra, hơn nữa cũng bằng phẳng hơn trước rất nhiều. Rốt cuộc Dường Phong cũng thở phào nhẹ nhõm, nhưng chẳng mấy chốc trong lòng anh lại có chút hoang mang.

Vòng qua một ngã rẽ, Đường Phong bỗng cảm thấy phía trước rộng mở thênh thang. Anh ngẩng đầu nhìn lên, ngọn núi cao sừng sững bên cạnh trong màn đêm, giống như một con quái thú đang nhìn mình chằm chằm. Bật đèn pin tiếp tục soi về phía trước, dưới ngọn núi, bên vách đá cheo leo xuất hiện một khoảnh rừng cây bằng phang. Trời tối nên anh vẫn chưa nhìn rõ được phạm vi của khoảnh rừng này, nhưng anh loáng thoáng cảm nhận là khoảnh rừng này rất rộng, và trong này chắc chắn có điều gì đó đang chờ đợi mình.

“Dựng lều ở đây ổn đấy!”, Hàn Giang mở lời trước.

Vậy là mọi người cùng nhau tiến vào khoảnh rừng không rậm rạp lắm này. Trong rừng có những loài cây mà đến Đường Phong cũng không biểt tên. Xem ra môi trường sinh trưởng của những loài cây này vốn không tốt, vì toàn thân cây ốm yếu, nghiêng ngả, hình thù quái dị, ngả đông nghiêng tây, không chút sinh khí. Nhưng cũng dễ hiểu thôi, trên núi cao vực sâu cheo leo thế này, cả ngày hứng chịu gió thổi mưa quật, có thể sống được đã là khó, thì còn mong gì tới việc phát triển mạnh mẽ.

“Một rừng cây thật kì quái!”, Hàn Giang cũng để ý thấy khoảnh rừng khác thường này.

“Sao? Anh nhìn ra vấn đề gì vậy?”, Đường Phong hỏi.

Hàn Giang đứng trên một khoảng đất trống trong rừng cây, tay chống hông, nhìn xung quanh, cuối cùng anh lắc đầu, nói: “Tôi cũng không nói rõ được, chỉ là cảm giác kì lạ thôi”.

“Ha ha! Anh đừng thần hồn nát thần tính, tự mình dọa mình nữa. Tầm này cái gì cũng là ảo hết, đừng để những thứ ảo dọa mình chết khiếp!”, Đường Phong ngược lại đã trêu chọc Hàn Giang.

“Cậu bây giờ lại hớn hở nhỉ, ban nãy đứng trước tảng đá khổng lồ, suýt thì suy sụp đấy!”

“Suy sụp? Tôi đã suy sụp sao? Kể từ sau khi bị cuốn vào cái việc dở hơi này, đã bao giờ tôi nhận là mình sợ sệt chưa?”, Đường Phong lại bắt đầu hăng máu.

“Thôi đừng cãi vã nữa, mau dựng lều nghỉ ngơi đã!”, Yelena nhắc nhở Hàn Giang.

“Ừm, ở đây môi trường nguy hiểm, ban đêm vẫn cần có người thay nhau trực ban!”, Hàn Giang nhìn khắp mọi người: “Lão Mã và tiến sỹ không cần phải trực đâu! Tôi, Đường Phong và Yelena sẽ thay nhau trực.”

Makarov định nói gì đó nhưng đã bị Yelena ngăn lại Hàn Giang lại tiếp tục dặn dò: “Buổi tối là Yelena gần sáng là Đường Phong, nửa đêm là tôi. Ai có ý kiến gì không?”

Hàn Giang nhìn mọi người, không có ai phản đối nên đều đi nhặt chút củi gỗ, bắt đầu nổi lửa nấu ăn, ngọn lửa bùng bùng cháy lên. Đường Phong bỗng ngửi thấy môt mùi lạ, là một mùi hương thơm mát. Anh hít ngửi tìm kiếm phát hiện mùi hương tỏa ra từ đống lửa: “Mọi người ngửi xem, đây là mùi hương gì vậy?”

Yelena hít hít, đoán: “Giống như mùi hương tỏa ra từ củi gỗ vậy”.

“Củi gỗ?!”, Từ Nhân Vũ cũng hít lấy hít để “Đúng!

Chính là mùi hương tỏa ra từ củi gồ.”

“Anh kiếm những thanh củi này từ đâu ra vậy?”

Đường Phong nghi ngờ hỏi Hàn Giang.

“Tôi... nhặt trong rừng cây!”, Hàn Giang mặt ngơ ngác

“Vậy là cành của những cây gỗ kì lạ này, sao loại gỗ này lại tỏa ra mùi thơm nhỉ?”, Yelena không hiểu

Đường Phong ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi mọi người trước: “Mọi người ngửi mùi này có cảm giác gì không?”

“Cảm giác? Chẳng có cảm giác gì cả. Nhung mùi này rất thơm!”, Từ Nhân Vũ nói.

“Trong những khu rừng rậm nhiệt đới hoặc cận nhiêt đới, có những loại gỗ khi bị đốt cháy sẽ có mùi thơm ví dụ như gỗ bạch đàn đốt lên sẽ có mùi thơm. Nhưng ở đây không phải là rừng ẩm nhiệt đới, loài cây không biết tên này sao đốt lên lại có mùi thơm nhỉ?”, Đường Phong mụ mị không hiểu.

“Đừng quan tâm đến những thứ này nữa, mọi người không bị phản ứng phụ gì là được!”, Hàn Giang ngừng lại một lúc rồi nói tiếp: “Mọi người ăn xong nhanh chóng đi nghỉ đi, ngày mai còn phải lên đường”.

Ăn xong, mọi người đều chẳng nói năng gì, khẩn trương dựng lều, dựng tạm trại nghỉ ngơi.

5

Buổi tối là Yelena canh gác. Đường Phong sợ mình nửa đêm sau không dậy nổi, nên sau khi ăn cơm xong đã vội vàng đi ngủ, cho tới qua nửa đêm thì bị Hàn Giang lôi dậy.

“Mấy giờ rồi mà anh đã lôi tôi dậy?”, Đường Phong dụi dụi mắt bực mình hỏi Hàn Giang.

“Trông cậu ngủ như chết kìa, tôi như vậy là đã rộng lượng với cậu lắm rồi đấy. Cậu tự nhìn đồng hồ đi, đã 3 rưỡi rồi. Cậu chậm chút nữa là trời sáng rồi đấy!”

Đường Phong nhìn đồng hồ, quả nhiên đã 3 rưỡi sáng, đành phải cầm đèn pin và khẩu súng ngắn 92, miễn cưỡng bước ra khỏi lều: “Đúng rồi, không có chuyện gì chứ?”, Đường Phong không quên hỏi một câu.

Hàn Giang lắc lắc đầu: “Chẳng có chuyện gì cả, tất cả đều bình thường!”, anh nhìn bộ dạng thiểu não của

Đường Phong: “Lấy lại chút tinh thần đi, đừng có ngủ quên đấy!”

Đường Phong phẩy phẩy tay với Hàn Giang: “Anh nhàm chán thật đấy!”

Hàn Giang quay vào lều ngủ, Đường Phong đành cố gắng lấy lại tinh thần, bắt đầu gác đêm. Nhưng anh ngồi bên đống lửa, mấy lần suýt bị ngủ gật. Để tỉnh táo trở lại, anh đành phải đứng dậy, bắt đầu đi quanh hai cái lều. Rồi anh bất giác tiến vào trong rừng cây. Mải nhìn những thân cây hình thù quái dị này, anh càng đi càng xa. Dần dần, Dường Phong đã đi khá xa, tới khi anh nhận ra và quay đầu nhìn lại thì đã không còn thấy bóng dáng của hai cái lều đâu nữa.

Đường Phong giật mình, thấy có cảm giác bất an. Anh nhớ là mình đã theo hướng kim đồng hồ, đi một vòng quanh trại dựng lều, tuy đã đi rất lâu, nhưng khoảng cách đường kính với chỗ dựng lều chắc không quá xa, bây giờ thì lại hoàn toàn không thấy bóng dáng của lều trại đâu cả.

Đường Phong bước thật nhanh, đi về phía lều trại trong trí nhớ, mười bước, hai mươi bước, ba mươi bước, bốn mươi bước, năm mươi bước! Anh ghi nhớ số bước chân chính xác mà lần này mình đi: nhưng sau khi bước năm mươi bước về phía dựng lều như trong trí nhớ thì xung quanh anh vẫn là rừng cây hình thù quái dị.

Đường Phong hoảng loạn, mình đã đi tới chỗ nào đây? Trong lòng đầy lo lắng, bước chân không điều khiển được, anh lại bước về hướng khác mấy chục bước, vẫn y nguyên, thậm chí rừng cây ở đây còn trở nên rậm rạp hơn lúc trước. Anh bắt đầu hối hận, đáng lẽ mình không nên tự ý đi lung tung. Nhìn bên ngoài rừng cây thưa thớt là vậy, không ngờ bên trong lại rậm rạp thế này!

Đường Phong bắt đầu kêu to, anh đoán rằng kể cả mình có đi nhầm đường đi chăng nữa, thì ở đây cũng không thể cách chỗ dựng lều quá hai trăm mét! Trong đêm khuya thanh vắng tĩnh mịch thế này, thể nào hội Hàn Giang cũng nghe thấy tiếng kêu cứu của mình.

Nhưng từng tiếng kêu gào của Đường Phong đều chìm trong đêm vắng, không chút phản hồi. Anh nhìn xung quanh tối đen mà rơi vào hoảng sợ, mình đã đi đến đâu thế này? Sao kêu cứu liên hồi như vậy mà không ai nghe thấy?

Kêu gào mệt quá, anh ngồi phịch xuống một gốc cây, tuyệt vọng dựa vào thân cây, rồi bất giác từ từ nhắm mắt lại...

6

Một cô gái xinh đẹp bước tới cạnh Đường Phong. Đường Phong từ từ mở mắt, cô gái trước mắt cho anh một cảm giác quen thuộc đâu đó. Cô khoác một chiếc áo choàng trắng, trên đầu đội một chiếc vương miện cao, khẽ mấp máy đôi môi, hỏi Đường Phong: “Anh từ đâu đến? Sao lại tới đây?”

“Tôi...”, Đường Phong mở miệng, nhưng không thốt nên lời.

“Là Hạo Vương phái anh tới phải không?”, cô gái đó lại cất lời.

“Hạo... Vương...”

“Nhất định là Hạo Vương sai anh tới đón tôi về phải không?”, giọng cô gái đó có chút gấp gáp.

“Không...”, Đường Phong chỉ có thể thốt ra giọng nói mơ hồ.

“Chắc chắn là vậy, Hạo Vương không thể quên tôi đâu”, nói xong, cô gái đó bật ra tràng cười lanh lảnh, chầm chậm lùi lại phía sau, rồi từ từ, từ từ mất tích trong rừng cây.

Đường Phong nhìn rừng cây tối đen xung quanh, hoảng hốt không biết phải làm gì. Đúng lúc này, một con kền kền từ trên trời bay xuống, đậu trên cành cây. Đột nhiên, con kền kền giương móng vuốt sắc nhọn lên, hung hãn lao về phía anh. Thấy vậy, Đường Phong định né tránh nhưng không sao nhúc nhích được. Anh cảm thấy khó thở, cảm thấy nghẹt thở, muốn hét lên nhưng lại hét không thành tiếng. Anh cảm giác đôi chân mình đang từng chút, từng chút một rời khỏi mặt đất...

Một cơn gió lạnh buốt thổi qua, toàn thân Đường Phong run rẩy, ngay tức khắc anh tỉnh táo trở lại. Lúc này, anh đang bị đôi móng vuốt sắc nhọn của kền kền nhấc lên khỏi mặt đất, bay lên, bay qua thảo nguyên, bay qua dòng sông, bay qua núi cao, cuối cùng đến một vùng rừng rậm nguyên sinh. Kền kền bắt đầu hạ xuống, tốc độ rất nhanh, anh sợ đến nồi nhắm mắt lại.

Đến khi Đường Phong mở mắt ra, phát hiện mình đang ở trong một thế giới của bóng tối bao trùm. Anh ngẩng đầu nhìn lên, cây sam đại thụ cao gần bằng tòa nhà sáu, bảy tầng che kín mặt trời, anh cũng không biết mình sẽ phải đi theo hướng nào. Đi mãi đi mãi, đột nhiên, một tia sáng lọt vào tầm mắt của Đường Phong, con ngươi anh mở to, đó là gì vậy? Đường Phong cảm thấy ở đó đang có một sức mạnh kì lạ thu hút mình, sự đau đớn trên chân anh lập tức biến mất, anh tiếp tục bước thấp bước cao đi tiếp, hướng về phía ánh sáng đó, xuyên qua rừng rậm, đi qua bụi rậm, băng qua khe suối...

Đôi mắt Đường Phong dường như đã đông cứng lại, thẫn thờ nhìn về ánh sáng phía trước, bất động, anh cũng không chớp mắt lấy một cái, nhưng ánh sáng đó lại giữ mãi khoảng cách với anh. Anh cảm thấy mơ hồ, cảm thấy khủng hoảng. Anh dừng chân lại, mắt vẫn nhìn ánh sáng trong rừng không chớp. Anh đang do dự, tiếp tục tiến lên hay là...

Trong rừng cây tối đen, mình có thể đi đâu chứ? Ánh sáng đó hình như có sức hút ma quái, Đường Phong bị nó cuốn hút, vẫn quyết định tiếp tục tiến lên phía trước... Cuối cùng, Đường Phong đã chạm vào ánh sáng đó. Xuyên qua rừng cây rậm rạp, anh nhìn thấy một đống lửa đang cháy bập bùng. Bên cạnh đống lửa, một nhóm người đang nhảy múa theo điệu nhạc quái đản, nhảy múa điệu gì mà anh cũng không biết. Đi lại gần hơn một chút, Đường Phong sững sờ, bởi anh phát hiện ra những người đó đều đeo những chiếc mặt nạ đáng sợ, mặt mày hung tợn, giống như những hung thần độc ác. Và trong đám người này, có một cô gái đang nằm trên mặt đất lạnh cóng, cô ấy là... chính là cô gái xinh đẹp khoác áo choàng trắng ban nãy.

Không hiểu lấy dũng khí từ đâu ra, Đường Phong bất chấp tất cả lao vào đám người đó, đến bên cạnh đống lửa, đỡ cô gái đang chìm trong giấc ngủ, bất tỉnh. Nhưng mặc cho anh kêu gọi thế nào, vỗ đập thế nào, cô gái đó vẫn giống như nàng công chúa trong câu chuyện cô tích “Người đẹp ngủ trong rừng”, vẫn chìm trong giấc ngủ say, bất động.

Âm nhạc quái đản, vũ đạo kì dị không ngừng vây lấy Đường Phong. Anh không thể chịu đựng được nữa, giống như điên dại, anh lao về phía những người đó, nhưng có lẽ họ vốn dĩ không phải là người, mà chỉ là ma quỷ của địa ngục! Nên cho dù anh ngăn cản thế nào, đeo bám thế nào thì những người này vẫn thản nhiên tự tung tự tác, nhảy múa. Đường Phong lực bất tòng tâm, vậy là anh cúi người xuống, định ôm cô gái khoác áo choàng trắng lên, lao ra khỏi vòng vây của “ma quỷ”.

Nhưng đúng lúc Đường Phong ôm lấy cô gái thì cô ta mở trừng mắt. Đường Phong sững sờ, anh phát hiện ra khuôn mặt của cô gái có sự biến đổi gì đó. “Lương Viện? Hắc Vân?”, anh lẩm bẩm. Ngay sau đó, khuôn mặt cô gái biến hóa khôn lường, Đường Phong trông thấy một khuôn mặt khủng khiếp mà anh chưa từng thấy trong đời mình. Anh nhìn thấy da thịt trên khuôn mặt cô gái đang nát vữa ra từng chút một, đôi mắt trở nên rỗng tuếch, chỉ còn lại hai hốc mắt lúc nhúc dòi bò ra, thịt trên miệng không biết đã biến mất tự lúc nào, lộ ra hàm răng vàng cháy lung lay đầy ngập miệng, da đầu cũng bị xé rách một góc, óc trắng đang bắn tung tóe ra ngoài...

Đường Phong vô cùng hoảng loạn, kêu lên thất thanh. Anh muốn buông cô gái trong lòng ra nhưng miệng cô ta đang lẩm bẩm gì đó. Tim Đường Phong đập loạn xạ, anh cố gắng giữ bình tĩnh, muốn nghe cho rõ cô ấy nói gì. Một chuỗi ngôn ngữ kì quái thốt ra từ miệng cô gái, từng chữ từng chữ đập vào não Đường Phong, nhưng anh vẫn không hiếu rốt cuộc cô ta đang nói gì.

Đường Phong không thể chịu đựng được nữa, anh muốn nhìn rõ xem cô gái này rốt cuộc là ai. Nhưng trong đúng giây phút này, cô gái trong lòng anh bỗng biến mất, anh phát hiện đôi tay mình đang ôm một bộ hài cốt màu trắng đáng sợ. Bộ hài cốt còn đang nhe răng ra như muốn nói với Đường Phong điều gì đó, Đường Phong sợ đến nỗi hất bộ hài cốt ra. Anh cảm thấy mình không còn chỗ nào để rút lui, đành phải tuyệt vọng hét lên...

7

Đường Phong tỉnh dậy, anh quệt mồ hôi trên trán và phát hiện ra rằng mình vẫn đang ở dưới gốc cây. Anh nhìn khoảnh rừng đã khiến anh mê man này mà mặt trắng bệch. Cô gái mặc áo choàng trắng trong giấc ma ban nãy là ai?

Giống một cô gái từ thời cổ đại, lại trông giống Lương Viện, có cả nét giống Hắc Vân. Bộ hài cốt cuối cùng lẽ nào chính là xương sọ mà Kozlov đào được trong đại Phật tháp ở Hắc Thủy Thành?

Không, không thể như vậy được! Đường Phong ra sức phủ nhận suy nghĩ hoang đường trong lòng mình, anh cảm thấy đầu đau như búa bổ, gắng gượng đứng dậy, bám vào những thân cây kì quái bên cạnh, dò giẫm tiến về phía trước. Anh cũng không biết phương hướng của mình, chỉ biết đi thẳng. Đột nhiên, một cơn cuồng phong thổi qua, không biết từ hướng nào, loáng thoáng có một âm thanh kì lạ vọng lại, giống như tiếng cười vui vẻ của trẻ con, lại giống như tiếng phụ nữ khóc thút thít, ma quỷ đáng sợ… Đường Phong mở to đôi mắt hoảng hốt, đây là âm thanh gì vậy?

Đường Phong dường như sắp suy sụp, anh bất chấp tất cả lao về phía trước, va đập lung tung, cứ nhìn thấy đường là chạy, không thấy đường lại quay lại, gai góc cào rách cánh tay anh. Anh đã quên hết sự đau đớn, chỉ biết cắm đầu chạy, muốn lao vào một con đường nào đó.

Cũng không biết đã lòng vòng trong rừng bao lâu, rốt cuộc Đường Phong đã nghe thấy âm thanh. Anh không dám mạo hiểm xông đến, sợ rằng âm thanh đó là tiếng gọi của ma quỷ. Anh dừng lại, im lặng dỏng tai nghe ngóng, là tiếng người, là giọng Hàn Giang và Yelena. Rốt cuộc anh đã nghe thấy âm thanh của nhân gian.

Đường Phong lần theo phương hướng mà âm thanh vọng lại, chẳng mấy chốc đã lao về chỗ dựng lều. “Cậu chạy đi đâu đấy?”, Hàn Giang vừa trông thấy Đường Phong liền trách móc.  

“Tôi... tôi đã gặp ma!”, Đường Phong thở hổn hển, ngồi bệt xuống đất.

“Cái gì? Ma?”, Yelena vội vàng hỏi.

“Mọi người... mọi người ban nãy có nghe thấy âm thanh đáng sợ gì không?”, Đường Phong hỏi.

“Âm thanh đáng sợ? Chúng tôi nghe thấy tiếng gọi của cậu, nhưng khi chúng tôi trả lời thì sao không thấy cậu nói gì hả?”, Hàn Giang hỏi.

“Tôi chẳng nghe thấy tiếng mọi người gì cả!”, Đường Phong lớn tiếng kêu lên.

“Sao lại như vậy được, bọn tôi đã gọi bao nhiêu lần như thế, cậu chạy bao xa mà không nghe thấy?”, Hàn Giang không tin.

Yelena nhìn rừng cây xung quanh, hỏi lại: “Lẽ nào rừng cây này rất rộng sao?”

“Em đừng nghe cậu ta nói linh tinh, ở đây cạnh vực thẳm, lại không phải là rừng rậm nguyên sinh, khoảnh rừng này to chừng nào mà cậu ấy không nghe thấy tiếng chúng ta chứ?”, Hàn Giang tỏ ra khó chịu.

Đường Phong hiểu rằng anh có nói gì đi chăng nữa thì họ cũng không tin.

Lúc này, lão Mã và Từ Nhân Vũ cũng chụm lại. Lại một cơn cuồng phong, âm thanh quái dị đó theo gió lần nữa ùa tới, đứt quãng, từ xa tới gần, càng lúc càng vang, càng lúc càng rõ. Hàn Giang, Yelena, lão Mã và Từ Nhân Vũ cũng đều nghe thấy âm thanh quái dị đó, tất cả mọi người đều hoảng hốt trọn trừng mắt, nhìn xung quanh, xung quanh là một vùng tối đen.

Hàn Giang nhìn Yelena trong bóng tối: “Đây... đây là gì vậy?”, giọng Hàn Giang rõ ràng cũng hơi run rẩy.

“Lẽ nào đây chính là âm thanh kì lạ mà cuốn sổ ghi chép của Misha nhắc tới?”, Yelena nhớ ngay tới những dòng ghi chép của Misha.

“Sao cơ?”, mọi người cùng ngạc nhiên đồng thanh kêu lên.

“Cũng có nghĩa là chùa Hắc Thứu ở gần đây!”, Từ Nhân Vũ hốt hoảng thốt lên.

“Không biết chừng là chỗ này, tôi thấy chỗ này đầy tà khí!”, Đường Phong theo phản xạ rút súng ra…
 

hoahongden12

Active Member

“Gia lăng tần già ” là phiên âm chữ Phạn, còn tên thường gọi là “Diệu âm điểu”, mình người đầu chim, được tín đồ đạo Phật cho rằng đó là loài chim của thế giới cực lạc. Kiểu kết cấu kiến trúc “Gia lăng tần già” chỉ từng được thấy khi khai quật lăng mộ vua chúa Tây Hạ. Bây giờ ở đây lại xuất hiện kiểu kết cấu kiến trúc “Gia tăng tần già” thì cũng có thể đoán định rằng đây chính là chùa Hắc Thứu rồi.

1

Cuồng phong mang theo những âm thanh quái dị kéo dài rất lâu mới dần dần tan biến. Mọi người đều không có tâm trạng đâu để ngủ, đành đợi mãi cho tới khi hừng đông. Sương khói đậm đặc ban mai từ từ tản đi, Đường Phong đứng giữa nơi dựng lều. Lúc này anh mới nhìn rõ nơi mà bọn anh đang ở, ở phía bắc lều trại là một đỉnh núi cao sừng sững, nếu lấy đỉnh núi này làm trọng tâm, thì hai hướng đông và tây, mỗi hướng đều vươn ra hai dãy núi, kéo dài mãi về hướng nam, cho tới vị trí ngọn núi phía nam đối diện thì hai dãy núi đó đột ngột đứt quãng, chỉ còn lại khe núi rộng không tới chục mét. Vách núi hai bên lại thẳng đứng như dao chém rìu phạt, khiến người ta nhìn mà khiếp sợ. Và chính trong quần thể núi bao quanh này là một khung cảnh diễm lệ như đào nguyên ngoại thế, những cây cổ thụ chạm trời, um tùm tươi tốt, có tiếng chim hot, cỏ hoa tỏa hương, ong bay bướm lượn, nơi họ dựng lều tối qua vừa đúng ngay một thềm núi cao dưới ngọn núi phía bắc.

“Đây quả là một cảnh sắc tuyệt diệu!”, Makarov thốt lên.

“Xem ra hôm qua chúng ta đã từ phía sau đỉnh núi phía bắc vòng tới đây. Nếu như chúng ta lên thẳng đây từ miệng núi phía dưới này thì bớt đi được bao nhiêu phiền phức!”, Từ Nhân Vũ chỉ miệng núi nhỏ hẹp phía dưới nói.

“Lấy đâu ra nhiều cái nếu như vậy?”, Đường Phong phản bác Từ Nhân Vũ.

Hàn Giang vẫn lặng thinh không nói năng gì. “Anh đang nghĩ gì vậy?”, Đường Phong hỏi.

“Những gì tiến sỹ nói đã thức tỉnh tôi. Ban nãy tôi cứ nghĩ mãi, nếu như ở đây chính là chùa Hắc Thứu, năm đó hoàng thất Tây Hạ muốn tới đây dâng hương lễ Phật thì bao nhiêu con người như vậy lên đây thế nào nhỉ? Chắc chắn không thể giống chúng ta đi đường vách đá cheo leo?

Xem ra con đường phía dưới núi mới chính là đường đi chính!”, Hàn Giang suy đoán nói.

“Thôi đi! Anh có trông thấy phía dưới có đường dẫn lên đây không? Cứ cho là năm đó có đường đi chăng nữa thì bây giờ cũng biến mất từ lâu rồi!”, mọi người nhìn xuống dưới theo hướng ngón tay Đường Phong chỉ. Dưới núi um tùm tươi tốt, căn bản chẳng thấy có con đường nào. Đường Phong lại nói tiếp: “Hơn nữa, ở đây có phải là chùa Hắc Thứu hay không thì vẫn chưa biết được! Đừng vội kết luận như thế!”, Đường Phong có vẻ còn cẩn thận hơn.

“Vậy làm thế nào mới có thể phán đoán đây có phải là chùa Hắc Thứu hay không?”, Makarov hỏi.

“Dĩ nhiên phải tìm kiếm chứng cứ xác thực hơn. Không nên vì những âm thanh quái dị đêm qua mà nói ngay rằng ở đây chính là chùa Hắc Thứu!”, Đường Phong ngẫm nghĩ rồi nói tiếp: “Trong cuốn sổ ghi chép của mình, Misha đã viết rằng: những năm 50 của thế kỷ trước, đã phát hiện ra di chỉ kiến trúc thời kì Tây Hạ tại di chỉ chùa Hắc Thứu, đặc biệt ông còn trông thấy di chỉ của đại điện. Chúng ta phải tìm kiếm ở đây xem sao!”

“Vậy thì bắt đầu thôi!”, Hàn Giang vừa dứt lời thì thấy ngay Đường Phong nhìn rừng cây xung quanh, chần chừ không đi tiếp, “Sao thế? Sợ rồi à?”

“Anh cứ không chịu tin tôi. Tôi đã nói với anh rồi, khu rừng này sẽ khiến chúng ta lạc đường, mọi người không chịu tin!”, Đường Phong vẫn còn muốn thuật lại sự khủng khiếp mà anh gặp phải lúc sáng sớm, nhưng Hàn Giang đã hất tay: “Được rồi, cứ cho rằng khu rừng này dễ bị lạc đường đi chăng nữa, thì bây giờ là ban ngày ban ngày ban mặt có gì để sợ chứ? Hơn nữa, còn có tôi đi cùng cậu nữa cơ mà!”

Đường Phong nghe thấy có Hàn Giang đi cùng, trong lòng cũng bình tĩnh hơn. Vậy là, Hàn Giang để ba người Yelena, lão Mã và Từ Nhân Vũ ở lại canh lều, còn mình và Đường Phong mang theo vũ khí cùng những trang bị cần thiết xuất phát về phía khu rừng phía bắc.

2

Từ chỗ dựng lều tới đỉnh núi cheo leo phía bắc, bị che phủ bởi một khoảnh rừng, ước chừng khoảng hơn 100 mét, nhưng khoảnh rừng này lại lần nữa đã khiến Đường Phong và Hàn Giang phán đoán sai, may mà lần này họ không lạc đường trong rừng. Đến khi họ ra khỏi rừng, quay đầu nhìn lại thì đã cách chỗ dựng lều khoảng hơn 200 mét, còn muốn tới phía dưới đỉnh núi phía bắc, xem ra vẫn còn 200 mét nữa.

Hai người đi lên một con dốc bằng đất, Đường Phong cảm giác thấy điều gì đó, anh tóm ngay Hàn Giang lại.

“Sao thế?”, Hàn Giang nhìn nhìn Đường Phong.

“Con dốc này...”

“Con dốc này làm sao?”, Hàn Giang không hiểu.

Đường Phong ngồi xổm xuống, cẩn thận kiểm tra dốc đất dưới chân. Sau đó, anh bước nhanh vài bước, leo lên chỗ cao nhất của con dốc. Sau khi kiểm tra một lượt, Đường Phong ngẩng đầu nhìn lên đỉnh núi phía bắc vươn mãi lên tận trời mây, cuối cùng quay người lại, mắt đờ đẫn nhìn thẳng phía trước.

Hàn Giang đưa tay ra khua khua trước mặt Đường Phong: “Bị ma nhập à?”

“Tôi... tôi nghĩ quả thật chúng ta đã tìm thấy Chùa Hắc Thứu rồi!”, Đường Phong vẫn nhìn thẳng phía trước, miệng lẩm bẩm.

“Cái gì? Chỉ dựa vào con dốc đất này sao?”, Hàn Giang thấy mụ mị đầu óc.

Đường Phong định thần lại, giải thích với Hàn Giang: “Trên thềm núi này đột nhiên nhô ra một con dốc bằng đất lớn như vậy, vốn dĩ đã là một chuyện không bình thường. Ban nãy tôi kiểm tra qua rồi, trên con dốc toàn là đất nén”.

“Đất nén?”

“Rõ ràng đây chính là kiệt tác của người xưa. Tôi tính toán sơ qua thì thấy, lượng đất nén này có thể trọng khổng lồ, trên này trước kia vốn có một kiến trúc kiểu cung điện hoành tráng diễm lệ. Nhìn tiếp vị trí của tầng đất nén này, thì nó nằm ở vị trí chính giữa phía dưới đỉnh núi phía bắc, mặt hướng về miệng núi phía dưới. Một kiến trúc hùng vĩ đồ sộ như thế, nằm ở vị trí cao quý tôn nghiêm tuyệt diệu như vậy, trong núi Hạ Lan này, ngoài chùa Hắc Thứu ra thì còn có kiến trúc nào khác chứ?”, Đường Phong phân tích rất hợp lí.

Hàn Giang đứng trên thềm đất nén, phóng tầm mắt ra xa, quả nhiên, địa thế ở đây rồng cuốn hổ phục, giữ gió tản khí, phong thủy tuyệt vời. “Xem ra chúng ta đã tìm thấy chùa Hắc Thứu rồi!”, Hàn Giang phụ họa.

“Tạm thời đừng kết luận vội vàng, tìm kiếm thêm những di tích khác đã!”, Đường Phong từ thềm đất nén nhìn ra xung quanh, quanh đây lại xuất hiện thêm vài con dốc bằng đất nhỏ hơn, “Này! Mấy con dốc nhỏ này chắc là

di chỉ của những kiến trúc khác của chùa Hắc Thứu. Nếu ở đây mà được khai quật khảo cổ chính quy thì chắc chắn sẽ thu được không ít văn vật có giá trị đâu.”

Đường Phong chỉ cho Hàn Giang mấy con dốc nhỏ, sau đó tiện tay nhặt một hòn gạch vỡ dưới chân lên, nói với làn Giang: “Đây gần như là chứng cứ rồi”.

“Ưm, còn cả cái này nữa!”, Đường Phong lại nhặt một mảnh kiến trúc có hình thù kì lạ từ trong đất lên, nói với Hàn Giang: “Mảnh kiến trúc này gọi là: Gia lăng tần già”.

“Gia lăng tần già là gì?”, Hàn Giang không hiểu.

‘“Gia lăng tần già’ là phiên âm chữ Phạn, tên thường gọi là “Diệu âm điểu”, mình người đầu chim, được tín đồ đạo Phật cho rằng đó là loài chim của thế giới cực lạc.

Kiểu kiến trúc “Gia lăng tần già” chỉ tìm được khi khai quật lăng mộ của vua chúa Tây Hạ. Bây giờ ở đây lại xuất hiện kiểu kết cấu kiến trúc “Gia tăng tần già” thì gần như tôi có thể đoán định: đây chính là chùa Hắc Thứu rồi!”, Đường Phong giải thích.

“Di chỉ kiến trúc, gạch ngói Tây Hạ, mảnh kiến trúc, vị trí địa lí độc đáo và cả âm thanh quái dị đêm qua, tất cả đều phù hợp với những gì Misha miêu tả trong cuốn sổ ghi chép, xem ra chúng ta đã tìm thấy chùa Hắc Thứu thật rồi!”, giọng Hàn Giang rõ ràng hưng phấn hắn lên.

Đường Phong gật gù, nhưng ngay lập tức lại trở nên do dự: “Nhưng kệ tranh ngọc thứ ba ở đâu nhỉ?”

Hàn Giang nhìn lại xung quanh di chỉ chùa Hắc Thứu hoang vu: “Ai mà biết được? Có lẽ đã bị hủy diệt trong trận lửa thiêu cùng với ngôi chùa hoàng gia từng một thời huy hoàng này rồi, cũng có khả năng đã bị ai đó lấy đi trong lịch sử...”

“Cũng có thể đang bị vùi trong đống đất vàng này…”, Đường Phong ngắt lời Hàn Giang.

Hàn Giang quay lại giật mình nhìn Đường Phong: “Ý cậu nói là chúng ta phải đào tung đống đất này lên?”

Đường Phong nhìn Hàn Giang cười cười, sau đó nghiêm túc nói với Hàn Giang: “Đồng chí Hàn Giang, mời đồng chí dùng đầu óc tư duy một vấn đề. Giả sử người cất giữ kệ tranh ngọc hồi đó không quá ngu ngốc, vậy thì kệ tranh ngọc đó phải được cất giữ tại một vị trí rất đặc biệt, chắc chắn không thể để ở một điện thờ thông thường. Trong những năm tháng biến động như thế, người cất giấu kệ tranh ngọc chắc chắn còn tính toán kĩ lưỡng hơn cả chúng ta đấy”.

Hàn Giang bị Đường Phong giáo huấn ột trận, nhưng nghe Đường Phong nói có lý, anh không những không tức giận mà còn gật đầu lia lịa: “Đúng! Chắc là phải có nơi đặc biệt để cất giữ kệ tranh ngọc đó, không thể dễ dàng bị thiêu hủy trong khói lửa, cũng không thể dễ dàng bị người ta đánh cắp được.”

“ừm, đồng chí Hàn Giang rốt cuộc đã thông suốt rồi đấy!”, Đường Phong được đằng chân lân đằng đầu cười nói.

“Cậu nói như vậy làm tôi tự nhiên lại nhớ tới tấm bản đồ kho báu!”, một câu nói của Hàn Giang đã khiến Đường Phong tỉnh ra.

Đường Phong lập tức nhớ tới vòng tròn màu đỏ đánh lau núi Hạ Lan trên tấm bản đồ kho báu, tuy bên cạnh vòng tròn đỏ đó không có vật tham chiếu, nhưng trực giác mách bảo anh rằng, vòng tròn màu đỏ đó và vị trí hiện giờ họ đang đứng, chắc chắn có mối liên hệ tất yếu nào đó.

3

Đường Phong ra sức hồi tưởng lại vị trí của vòng tròn đỏ trên tấm bản đồ. “Vị trí của vòng tròn đỏ trên tấm bản đồ quả thực rất gần với vị trí này!”, anh suy đoán.

Hàn Giang chau mày: “Lẽ nào chữ ‘Bảo’ trên tấm bản đồ kho báu chính là kệ tranh ngọc?”

“Nếu đúng là như vậy thì toi rồi! Cậu nghĩ mà xem, thời Dân quốc đã có người biết được kệ tranh ngọc ở đâu, còn vẽ cả bản đồ kho báu, vậy thì có lẽ kệ tranh ngọc đã không còn ở đây từ lâu rồi!”

Nghe Đường Phong nói vậy, lòng Hàn Giang bỗng chùng xuống, nhưng anh lại thay đổi suy nghĩ rất nhanh, và nói: “Nếu kệ tranh ngọc không còn nữa, vậy Fanny xuất hiện ở đây làm gì? Hơn nữa còn bị giết hại!”

“Ý anh là...”

“Tôi cũng không rõ, phải chăng sự việc này không đơn giản như chúng ta nghĩ?”, Hàn Giang thở dài não nề.

“Vậy bước tiếp theo chúng ta nên làm gì? Tôi không muốn ở lại cái nơi quái quỷ này thêm một đêm nữa đâu!”, Đường Phong bắt đầu càu nhàu.

“Việc này thì không thể thuận theo ý của cậu được rồi. Tôi thấy vùng di chỉ này rất rộng, tất cả chúng ta đều phải đi xem sao, không thể bỏ sót bất cứ dấu vết nào. Đêm nay chắc chắn chúng ta không đi hết được đâu.”

“Nếu muốn khảo sát chi tiết một lượt khu vực này, giống như khai quật khảo cổ thực sự, thì tôi thấy chắc chúng ta phải ở đây cả tháng mất!”, Đường Phong vừa nói vừa nghĩ tới âm thanh quái dị đêm qua mà đã nổi đa gà.

“Có lẽ không cần nhiều thời gian như vậy đâu!”, Hàn Giang an ủi Đường Phong.

Hai người tâm trạng thấp thỏm không yên, đi thẳng tới trước một vách núi dưới chân đỉnh núi phía bắc, cả vùng di tích hình như đến đây là kịch đường. Sau khi quan sát vách núi một hồi, Hàn Giang quay lại định bỏ đi, nhưng Đường Phong lại thẫn thờ nhìn vách đá trước mặt.

“Đờ đẫn cái gì thế hả? Mau quay về thôi, chắc chắn bọn họ đợi sốt một rồi đấy!”, Hàn Giang thúc giục.

Đường Phong vẫn im lặng, ngây người nhìn vào vách đá đó. Hàn Giang kéo anh một cái: “Cậu vẫn cho rằng vách đá này sẽ mang tới cho cậu cánh cửa vừng ơi mở ra sao!”

“Anh có phát hiện thấy không, vách đá trước mặt tôi bằng phẳng hơn hẳn những chỗ khác!”, cuối cùng Đường Phong đã định thần lại.

Hàn Giang cùng nhìn chăm chú vách đá, rồi gật gật đầu: “Đúng là bằng phẳng hơn những chỗ khác, nhưng điều này thì nói lên cái gì chứ? Trên vách đá lẽ nào có cánh cửa gì đó sao?”

Nói xong, Hàn Giang đưa tay ra, bám chặt vào vách đá, ra sức đẩy đẩy, vách đá không có bất cứ phản ứng gì.

Ở đây sao mà có cửa được!”, miệng Hàn Giang lẩm bẩm.

Đường Phong không đi đẩy vách đá, nhưng lại lùi lại phía sau mấy bước, đứng thẳng, chăm chú nhìn vách đá trước măt môt lúc. Đôt nhiên, anh ngạc nhiên hét lên: “Quả đúng là có điều bât ngờ!

“Ồ!”, Hàn Giang cũng ngạc nhiên.

Đường Phong bỏ ba lô xuống, lục tung ba lô một hồi.

Hàn Giang sốt ruột, thúc giục: “Cậu la hét to như thế, rốt cuộc phát hiện thấy gì vậy?”

Đường Phong vẫn tập trung vào tìm kiếm trong ba lô, mặc kệ Hàn Giang. “Cậu nói ra đi chứ! Rốt cuộc cậu phát hiện thấy cái gì hả?”, Hàn Giang ra sức thúc giục.

“Đợi chút nữa anh sẽ biết thôi!”, Đường Phong lấy từ trong ba lô ra một chai nước suối.

Đường Phong mở nắp chai nước, đổ nước lên tay, sau đó bôi lên vách đá, dần dần, dần dần, bề mặt vách đá thay đổi từng chút, từng chút một. “Trên vách đá này có một bức tranh!”, Hàn Giang ngạc nhiên kêu lên.

“Anh đã nghe tới tranh trên vách đá núi Hạ Lan chưa?”, Đường Phong hỏi lại Hàn Giang.

“Trước đây thì không biết, nhưng tất cả chỉ vì chuyện đi tìm mấy kệ tranh ngọc đó đấy. Thời gian trước tôi đã phải ra sức bổ sung kiến thức lịch sử, nên mới đọc qua sách về tranh trên vách đá núi Hạ Lan.”  

“Tranh trên vách đá núi Hạ Lan là quần thể tranh trên vách đá lớn nhất từ trước tới nay, được phát hiện tại Trung Quốc, từ thời kì đồ đá mới, kéo dài mãi cho tới tận thời Tây Hạ. Cha ông chúng ta ngay từ thuở sơ khai đã dùng những nhiên liệu khoáng vật tự nhiên để vẽ tranh trên vách đá, sáng tạo ra nghệ thuật cổ xưa nhất như thế này.”

Những điều này trên sách đều nói cả rồi. Việc phát hiện tranh trên vách đá trên núi Hạ Lan cũng không phải hiếm, vậy có gì mà cậu phải ngạc nhiên đến thế?”

“Phát hiện tranh vách đá trên núi Hạ Lan thì không phải hiếm, nhưng tôi không ngờ ở chỗ hẻo lánh và cao như thế này mà lại có tranh trên vách đá. Nếu tôi nhớ không nhầm, thì chưa từng có kỉ lục nào ghi chép về chuyện phát hiện ra tranh trên vách đá ở khu vực có độ cao so với mực nước biển như thế này trên núi Hạ Lan cả.”

“Cứ cho rằng đây là phát hiện mới đi chăng nữa, thì liên quan gì tới thứ mà chúng ta cần tìm? Những thứ không liên quan gì tới phát hiện của chúng ta, tôi chẳng húng thứ!”, Hàn Giang chẳng mấy hào hứng với bức tranh trên vách đá.

Đường Phong bị nhũng lời của Hàn Giang làm cho cứng miệng: “Sao anh không liên tưởng một chút nhỉ? Chúng ta đã xác định đây chính là vị trí chùa Hắc Thứu mà chúng ta cần tìm rồi, vậy thì tranh vách đá xuất hiện ở đây chắc chắn sẽ có liên quan tới chùa Hắc Thứu, không chừng còn liên quan trực tiếp tới thứ mà chúng ta cần tìm cũng nên.”

Được Đường Phong nhắc nhở như vậy, Hàn Giang mới cảm nhận được chút mùi vị. Vách đá trước mặt bị nước gột rửa đi một khoảnh, bức tranh trên đá đã lộ ra rõ nét. 

4

Một bức tranh trên vách đá khổng lồ rõ nét hiện lên trước mắt Đường Phong và Hàn Giang. Hai người lùi lại vài bước, chăm chú quan sát, chỉ thấy trên cả bề mặt vách đá đều là một màu đỏ sậm phủ kín bức tranh. Cả bức tranh có thể phân thành ba phần: trên, giữa, dưới. Phía dưới vẽ ba cảnh, bên trái là cảnh lao động, bên phải là cảnh chiến trận, ở giữa lại giống như cảnh ăn mừng vụ mùa bội thu.

Phần tranh phía dưới này nhân vật đông đúc, kín mít cả vách đá. Nhìn lên phía trên, ở giữa có vẽ một nhân vật, mũi ắt sâu, thân hình vạm vỡ, đầu đội mũ vàng, thân khoác áo bào, uy phong lẫm liệt, mắt nhìn thẳng về phía trước. Tiếp tục nhìn lên phía trên, nhân vật lại nhiều hơn, ở giữa phần phía trên vẽ Phật Tổ nhập niết bàn, Quan Âm, La hán, người hầu vây xung quanh Phật Tổ, một cảnh tượng long trọng trang nghiêm.

“Bức tranh này nói lên điều gì?”, Hàn Giang xem xong bức tranh trên vách đá, vội vàng hỏi Đường Phong.

“Từ kỹ thuật sáng tác và hình vẽ cho thấy, không còn gì nghi ngờ, đây chính là tranh vẽ trên đá thời kì Tây Hạ!”, Đường Phong vẫn nhìn hình vẽ trên vách đá bên phải.

“Tôi không hỏi cậu cái này, ý tôi là bức tranh này nghĩa là gì? Hoặc người vẽ bức tranh này muốn thể hiện điều gì?”  

“Cái đó thì phải giảng giải từng chút, từng chút một. Anh nhìn hình vẽ phần dưới bức tranh, có lao động, có chiến đấu, còn có cả cảnh tượng ăn mừng bội thu, đây có lẽ đêu là nhũng miêu tả về cuộc sống chân thực của người Đảng Hạng thời đó.”

“Phí lời, cái này thì tôi cũng nhìn ra. Cậu nói mau lên, bức tranh ở giữa ý gì?”

“Bức tranh ở giữa vẽ một người…”

“Tôi thấy cậu lúc này toàn phí lời. Cậu xem người ở giữa này là ai?”, Hàn Giang bất mãn kêu lên.

“Là ai? Bây giờ làm sao tôi nói được!”

“Thôi đi! Nói thế khác gì không nói.”

Đường Phong cười cười: “Anh đừng nóng vội. Chúng ta nhìn phần trên bức tranh cái đã, đợi lúc nữa sẽ nói tới người ở giữa bức tranh. Phía trên này là một bức..

“Là một bức Phật Tổ thích ca mâu ni nhập niết bàn!”, Hàn Giang hậm hực nói.

Đường Phong chán nản nhìn Hàn Giang, lắc đầu: “Chúc mừng anh, giờ thì cũng biết tranh giành trả lời rồi đấy!”

“Cậu coi thường tôi quá đấy, chút kiến thức này tôi cũng biết.”

“Được rồi, anh nói đúng, đây là một bức Phật tổ nhập niết bàn. Vậy thì có phải chúng ta có thể cho rằng thế này không nhé, phần phía trên của bức tranh trên vách đá này tượng trưng cho thế giới Phật giáo trong thiên quốc, còn phần phía dưới lại tượng trưng cho thế giới trần tục, hoặc có thể nói là tượng trưng cho nhân gian. Vậy thì, chúng ta ngẫm nghĩ một chút, người ở giữa này sẽ là ai?”

Hàn Giang ngắm bức tranh trên đá, rồi lại hoang mang nhìn Đường Phong: “Cậu hỏi tôi á?”

“Tất nhiên là hỏi anh rồi, tôi nghĩ dựa vào sự thông minh uyên bác của anh thì chắc chắn sẽ đoán được.”

Bị Đường Phong hỏi tới, Hàn Giang im lặng hồi lâu, ra sức vận dụng sự thông minh và kiến thức của mình, rốt cuộc lắc đầu: “Không biết!”, nhưng Hàn Giang hình như lại nghĩ ra điều gì đó, bổ sung thêm một câu: “Chắc không phải là Nguyên Hạo chứ?”

“Đúng! Tôi nghĩ người ở giữa bức tranh chính là Nguyên Hạo!”, Đường Phong đáp.

“Nguyên Hạo?”, Hàn Giang bán tín bán nghi.

“Thời kì Tây Hạ, giữa những người ở nhân gian và thiên quốc, ngoài Nguyên Hạo ra, thì còn có thể là ai? Trong thời cổ đại, đức vua của các nước trên thế giới đều hi vọng nương tựa vào sự bảo hộ và sức mạnh của thần thánh, đại diện cho thần thánh thống trị thế giới vạn vật, đây chính là cái gọi là quân quyền thần thụ. Đương nhiên, là những người vô thần, chúng ta không tin có thần tồn tại, thần cũng không thể biến những ông vua đó thành sứ giả của họ. Vậy là, những ông vua đó của các nước trên thế giới lần lượt bắt đầu vận động tạo thần, không phải anh không muốn tôi làm thần sao? Tôi tự tạo nên một vị thần khoác lên người tôi. Tây Hạ cũng không ngoại lệ, người Đảng Hạng tín ngưỡng Phật giáo, dĩ nhiên rất có thể Nguyên Hạo tự ình là hóa thân của Phật, hoặc là sứ giả của Phật để đến thống trị Tây Hạ, thống trị nhân gian”, Đường Phong giải thích một hồi.

Hàn Giang gật gù: “Nói cũng có lý!”

“Anh mau tới đây xem!”, nói xong, Đường Phong bước lại gần vách đá, chỉ vào phần đầu của người ở giữa bức tranh, nói với Hàn Giang: “Phần đầu của Nguyên Hạo được vẽ trên này hoàn toàn phù hợp với những ghi chép trong lịch sử, hơn nữa trên bức tranh này, phía sau đầu Nguyên Hạo có vẽ vàng hào quang.”

“Điều này nói lên gì vậy?”

“Vầng hào quang thông thường chỉ xuất hiện trên những bức tranh hoặc điêu khắc Phật giáo, thường thì chỉ có Phật hoặc Bồ tát mới có vầng hào quang. Điều này một lần nữa chứng minh cho phán đoán của tôi trước đó, bức tranh trên vách núi này là sản phẩm mà Nguyên Hạo tự sáng tạo thần thánh ình. Phật Tổ niết bàn phía trên là Nguyên Hạo tự miêu tả mình là truyền kiếp của Phật Tổ, đến Tây Hạ, đến với nhân gian, thống trị vạn vật, đem lại mùa màng bội thu, đem lại thắng lợi cho Tây Hạ.”

“Được rồi, cứ cho rằng cậu phân tích đúng đi, nhưng như vậy thì liên quan gì tới thứ mà chúng ta cần tìm? Bức tranh trên đá này chỉ có thể nói lên rằng đây chính là chùa Hắc Thứu, ngoài ra nó không mang lại manh mối mới nào cho chúng ta cả.”

“Đừng nóng vội, đây chính là một phát hiện rất có giá trị đấy, không biết chừng chúng ta còn có phát hiện lớn hơn ở đây cũng nên!”, Đường Phong vẫn ngắm nghía bức tranh trên đá trước mặt.

“Vậy chúng ta khẩn trương đi xem chỗ khác xem sao, chúng ta đã đi khá lâu rồi đấy!”

Đường Phong miệng thì đồng ý nhưng mắt vẫn không rời khỏi bức tranh. Trong lòng anh đột nhiên dâng trào một cảm giác kì lạ, hình như bức tranh này vẫn cất giấu một bí mật nào đó, nhưng không dễ dàng tiết lộ cho anh biết.

5

Hàn Giang cảm thấy đứng trước bức tranh này tốn mất bao nhiêu thời gian, vậy là, anh thúc giục Đường Phong: “Mau đi thôi!”, rồi anh kéo Đường Phong đi, nhưng Đường Phong vẫn đứng như trời trồng. Thấy vậy, Hàn Giang hỏi: “Cậu sao vậy?”

“Tôi vẫn cảm thấy bức tranh này có chút gì đó không bình thường.”

“Không phải là đã phân tích hết rồi đấy thôi! Rất thấu đáo rồi, đừng có thần hồn nát thần tính nữa!”

Đường Phong nghiêng đầu sang bên này, rồi lại ngả đầu sang bên kia, vẫn nhìn bức tranh chằm chằm, miệng lẩm bẩm: “Bức tranh này..

“Tôi thấy cậu còn mỗi nước trồng cây chuối lên xem nó thôi đấy. Có cần tôi giúp cậu không vậy!”, Hàn Giang cười nhạt.

“Trồng cây chuối? Sao tôi lại không nghĩ ra nhỉ?”

“Cái gì? Không phải cậu định trồng cây chuối thật đấy chứ?”, Hàn Giang ngạc nhiên.

“Tại sao không thử xem? Biết đâu trồng cây chuối lại có được phát hiện gì mới!”

Hàn Giang bó tay, đành phải nhấc chân Đường Phong lên, giúp anh thực hiện tư thế trồng cây chuối.

Bức tranh khổng lồ xuất hiện trong thế giới đảo ngược, Đường Phong tỉ mỉ quan sát một hồi, thiên quốc, Hạo Vương, nhân gian...

“Cậu xong chưa đấy?”, rõ ràng Hàn Giang cảm thấy chán nản trước ảo giác của Đường Phong.

Đường Phong không nói năng gì.

“Không phải cậu ngủ quên rồi đấy chứ?”, Hàn Giang vừa nói vừa ra sức cấu vào cổ Đường Phong một cái.

Đường Phong bị Hàn Giang cấu ột cái, liền bật ngay người lại: “Anh ra tay hiểm ác vậy hả! Suýt nữa là gãy cổ tôi rồi!”

“Tôi tưởng cậu ngủ quên chứ!”

“Ngủ cái đầu anh ấy! Hình như tôi phát hiện ra điều bí ấn thật rồi!”, nói xong, Đường Phong áp sát bức tranh rồi lại nghiêng đầu về phía bên phải, ngây người nhìn chằm chằm vào đôi mắt Nguyên Hạo trên bức tranh. Đột nhiên, mắt anh sáng lên, hét lên với Hàn Giang: “Tôi đã thấy bức tranh này có vấn đề rồi mà, anh xem, tôi đã bảo là trồng cây chuối nhìn thì chắc chắn sẽ phát hiện mới mà!” 

Hàn Giang vội vàng bước tới, Đường Phong chỉ vào đôi mắt của Hạo Vương trên bức tranh nói: “Anh xem đôi mắt này đúng là có gì đó không bình thường phải không?”

“Không bình thường?”, Hàn Giang chăm chú nhìn hồi lâu, “ừm, đúng là có chút không bình thường, đôi mắt này rõ ràng vẽ rất to, không cân xứng với cả bức tranh”.

“Điều này vẫn không phải là chủ yếu, anh trồng cây chuối lên mà xem!”, Đường Phong gợi ý.

Hàn Giang cũng bắt chước theo Đường Phong, ra sức nghiêng đầu nhìn. Nhìn mãi nhìn mãi, Hàn Giang đột nhiên reo lên: “Đây...đây là cái gì?”

“Anh nhìn thấy gì vậy?”, Đường Phong vẫn khá bình tĩnh.

“Tôi trông thấy trong mắt trái của Nguyên Hạo là mấy bức tranh xoay ngược lại, chính... chính là mấy bức tranh tượng trưng cho nhân gian, dĩ nhiên là được thu nhỏ rồi, còn trong mắt phải của Nguyên Hạo lại là bức tranh Phật niết bàn xoay ngược lại!”, Hàn Giang miêu tả lại những gì anh nhìn thấy.

Đường Phong gật gù, chìm trong suy tư.

Nhưng Hàn Giang lại hỏi: “Đây nghĩa là gì? Tại sao lại phải vẽ thu nhỏ hai phần trên và phần dưới của bức tranh vào mắt Nguyên Hạo? Tại sao phải đảo ngược lại?”

Đường Phong lắc đầu: “Trường hợp này quả thực chưa gặp bao giờ. Ban nãy anh bảo mắt của Hạo Vương vẽ quá to, không cân với những đường nét trên khuôn mặt, tôi đoán chắc là do hai bức tranh vẽ trong mắt Nguyên Hạo tạo thành như vậy. Còn về hai câu hỏi mà anh nhắc tới, tại sao phải vẽ thu nhỏ hai phần trên và phần dưới của bức tranh vào mắt Nguyên Hạo? Điều này tôi còn có thể giải thích một chút, làm như vậy có lẽ là để tượng trưng cho nhân gian và thiên quốc đều đã nằm trong đôi mắt Nguyên Hạo.”

“Nếu như để biểu đạt ý đó thì những bức tranh đúng chiều là thế nào, vậy tại sao phải đảo lại vẽ làm gì?”

“Điều này... điều này thì tôi thực sự chưa đoán ra được!”, Đường Phong chau mày lắc đầu.

“Được rồi, chúng ta quay về từ từ nghĩ, chụp lại bức tranh này trước đã!”

Đường Phong lấy máy ảnh kĩ thuật số, chụp lại ba bức tranh trên vách đá rồi mới cùng Hàn Giang quay về chỗ dựng lều.

Xuyên qua khu rừng từng khiến Đường Phong hồn xiêu phách lạc, mọi chuyện đều thuận lợi, hai người chẳng mấy chốc đã về tới nơi dựng lều.

6

“Các cậu đi đâu đấy? Sao mãi mới về vậy?”, Từ Nhân Vũ vừa trông thấy Đường Phong và Hàn Giang liền kêu lên.

“Đã phát hiện ra gì đó rồi phải không?”, Yelena đã đoán được vài phần.

“Tôi nghĩ chắc chắn đã phát hiện thấy điều gì đó!”, lão Mã rất tự tin.

Đường Phong uống ngụm nước, nói: “Đúng! Chúng ta đã có phát hiện lớn. Giờ thì tôi có thể khẳng định ở đây chính là chùa Hắc Thứu...”, Đường Phong kể lại chuyện anh cùng Đường Phong phát hiện thấy di chỉ chùa Hắc Thứu và tranh vẽ trên vách đá.

“Hình như những điều bí ẩn càng nhiều hơn rồi đấy!”, Yelena nghe Đường Phong kể lại xong, khẽ kêu lên.

“Đúng vậy! Những phát hiện này xem ra chẳng giúp ích gì cho thứ chúng ta cần tìm cả!”, Từ Nhân Vũ nói.

“Mọi người ở đây ổn cả chứ?”, Hàn Giang đột nhiên hỏi Yelena.

“vẫn ổn, chẳng có chuyện gì cả.”

“Xem ra âm thanh kì dị đó chỉ xuất hiện vào ban đêm!”, Hàn Giang suy đoán.

“Chính xác mà nói thì trong một thời gian cố định nào đó, hoặc là trong một điều kiện đặc biệt nào đó!”, Yelena nói.

“Hàn, kế hoạch bước tiếp theo của các cậu là gì?”, lão Mã hỏi Hàn Giang.

Hàn Giang nhìn Đường Phong rồi trả lời: “Tôi nghĩ chúng ta ăn trưa trước đã, buổi chiều sẽ đến di tích đó thăm dò.”

“Đúng! Biết đâu có thêm phát hiện mới!”, Đường Phong cũng phụ họa theo.

“Đã đến đây rồi, cũng đã chắc chắn ở đây chính là chùa Hắc Thứu, vậy thì chúng ta phải tìm kiếm cho ra kết quả mới thôi!”, Hàn Giang kiên định nói.

Đường Phong và Hàn Giang ăn chút lương khô, nghỉ ngơi một lúc. Sau đó vẫn theo phân công ban sáng, Yelena, lão Mã và tiến sỹ ở lại canh lều, Đường Phong và Hàn Giang đến di chỉ khảo sát.

Nhưng hai người chưa xuất phát đã xảy ra cãi cọ về lộ trình hành động. Đường Phong vẫn muốn đến di chỉ phát hiện thấy vào buổi sáng xem sao, sau đó mới mở rộng tìm kiếm những di chỉ khác, nhưng Hàn Giang lại không muốn như vậy: “Tôi đã kiểm tra cẩn thận khu rừng này và tuyến đường chúng ta đến đây. Đêm qua chúng ta đến đây từ vách đá vực sâu phía tây của ngọn núi phía bắc, mà phía bắc là di chỉ mà chúng ta phát hiện ban sáng, còn phía nam chắc là đường xuống núi. Vậy thì chúng ta chỉ còn lại phía đông vẫn chưa đến, chúng ta nên đến phía đông, xuyên qua khu rừng thử xem ở đó có gì.”

“Phán đoán theo địa hình núi thì phía đông chắc chắn giống như phía tây, là vách đá vực sâu, khả năng là đến đường đi như lúc chúng ta tới cũng không có”, Đường Phong nhìn quần thể núi trên đầu suy đoán.

“Bởi vậy mới phải đi thăm dò xem sao, thử xem rốt cuộc có phải là vách đá vực sâu, có đường đi hay không.”

Đường Phong không đấu lại được với Hàn Giang, lần này đành phải nghe theo ý kiến của anh ta, tiến về phía đông, chính xác mà nói là hướng đông bắc. Hai người mang theo đầy đủ trang thiết bị, lại vào trong rừng. Lần này khác với buổi sáng, họ đi hơn nửa tiếng trong rừng cũng không ra được khỏi đây. Hàn Giang nghi ngờ trong lòng, không thể không dừng lại quan sát.

“Theo phán đoán của tôi thì nửa tiếng đồng hồ đủ để đi ra khỏi khu rừng này rồi chứ nhỉ!”, Hàn Giang nhìn xung quanh.

“Đúng vậy! Khu rừng này rốt cuộc rộng chừng nào? Ban sáng chúng ta đi có năm phút đã ra khỏi rừng, sao đi về phía đông lại lâu như vậy nhỉ?”, Đường Phong không hiểu.

Hàn Giang nhìn xuống la bàn: “Phương hướng chắc không sai, hướng đông bắc.”

Đường Phong ngẩng đầu nhìn lên ngọn cây: “Anh có phát hiện thấy không, chúng ta đi cả một đoạn đường mà địa hình chẳng thay đổi gì cả, nhưng cây lại thay đổi rõ rệt.”

“Ừm, cây ở đây càng lúc càng cao, hơn nữa lại càng lúc càng rậm rạp.”

Đường Phong ngẩng đầu, ra sức để ý khoảng cách từ chỗ họ tới vách núi của đỉnh núi phía bắc trên đỉnh đầu: “Nhưng điều khiến tôi không hiểu nổi ở chỗ, tại sao chúng ta đi xa như vậy rồi mà khoảng cách với đỉnh núi phía bắc vẫn chưa hề rút ngắn, hình như vẫn xấp xỉ cự li từ chỗ dựng lều tới vách đá đỉnh núi phía bắc.”

“Đúng vậy! Tôi cũng để ý thấy thế. về lý thì chúng ta đi về hướng đông bắc, thì đáng lẽ ra phải mỗi lúc một gần với vách núi phía bắc, cho tới khi chúng ta đi tới vách núi mới đúng!”

“Bởi vậy, từ cự li mà chúng ta cách đỉnh núi phía bắc cho thấy, chúng ta vẫn còn phải đi một đoạn đường khá dài!”, Đường Phong lộ ra tâm trạng bi quan.

Hàn Giang lắc đầu, than thở: “Không ngờ thềm núi xem ra tưởng chừng không lớn lắm này lại rộng như vậy.”

“Nói cho cùng thì vẫn ứng với câu thơ này: ‘không biết diện mạo thật của lư sơn, chỉ chôn thân ở trong núi’. Nếu chúng ta có thể đứng ở một nơi cao vót, nhìn rõ mọi thứ ở đây thì đã sáng tỏ rồi!”, Đường Phong than vãn.

“Thật là muốn mọc ra đôi cánh để tôi bay lên không trung, nhìn ngắm vùng đất thần kì này.”

“Mấy câu này đầy ý thơ, khà khà, chỉ đáng tiếc là cậu không mọc được cánh thôi.”

Cả hai người nói xong đều im lặng, xung quanh yên ắng tĩnh mịch. Hai người chuẩn bị đi tiếp. Nhưng đúng lúc này, trên không trung vọng lại tiếng chim kêu chói tai, ngay sau đó, một trận cuồng phong cuốn tung ngọn cây, một đám mây đen bay tới khoảng không phía trên khu rừng. Tức khắc, Đường Phong cảm thấy có vật gì đó đè nén trên đỉnh đầu.

7

Đối diện với tình huống bất ngờ này, Đường Phong vô cùng hoảng hốt, vội vàng ngẩng đầu nhìn lên. Nhưng đám mây đen trên không trung đã tan biến trong giây lát, trời lại xanh trong vắt, không có hiện tượng gì khác thường,

rừng cây cũng yên tĩnh trở lại.

“Chuyện gì xảy ra ban nãy vậy?”, Đường Phong vẫn sợ hãi.

Hàn Giang cũng đang ngẩng đầu nhìn lên: “Hình như là một con chim lớn.”

“Chim lớn?”, Đường Phong lập tức nhớ tới con kền kền trong rừng mà buổi sáng mình mơ thấy, bị móng vuốt sắc nhọn của kền kền tóm lấy, bị nó cắp bay qua thảo nguyên, bay qua dòng sông, bay qua núi cao, cuối cùng bay đến vùng trời phía trên một khu rừng rậm nguyên sinh.

Đó là một thế giới tối đen, ở đó anh đã chứng kiến cảnh tượng khủng khiếp nhất từ trước đến nay trong cuộc đời mình, đặc biệt là phần đầu của cô gái khoác áo choàng trắng đó...

“Lẽ nào chính là con kền kền đó?”, Đường Phong khẽ lẩm bẩm.

“Cậu nói gì vậy?”, Đường Phong nói rất nhỏ, nhưng vẫn bị Hàn Giang nghe thấy.

“Anh có còn nhớ giấc mơ tôi kể cho anh không?

Trong mơ tôi đã mơ thấy một con kền kền, tất cả những gì khủng khiếp mà tôi trải qua phía sau giấc mơ đó đều xuất phát từ con kền kền đó.”

“Kền kền?”, Hàn Giang mắt sáng lên, “Cậu quên mất ở đây tên là gì sao?”

“Chùa Hắc Thứu”, Đường Phong giật thót mình.

“Lịch sử đã ghi chép lại, Nguyên Hạo và hoàng hậu Một Tạng tư thông với nhau tại chùa Giới Đàn. Misha đã phán đoán rằng, chùa Giới Đàn chính là chùa Hắc Thứu mà ông đã phát hiện ra, còn cái tên “chùa Hắc Thứu” Misha biết được là do người dân địa phương nói lại. Lẽ nào ở đây đúng là có kền kền?”

“Do người địa phương kể lại, khả năng có hai trường hợp. Trường hợp thứ nhất là thời Tây Hạ, ở đây đã xuất hiện kền kền, bởi vậy lúc đó đã có người gọi chùa Giới Đàn là chùa Hắc Thứu và cứ dùng cái tên này mãi đến tận bây giờ. Còn một trường hợp nữa là chùa Giới Đàn đã sớm biến mất từ lâu, nhưng sau đó ở đây xuất hiện một ngôi miếu nhỏ, điều này thì trong cuốn sổ ghi chép của Misha có thể làm chứng. Người dân địa phương không biết trước đó chùa ở đây gọi là Giới Đàn, chỉ thấy trên núi xuất hiện chim kền kền nên liền gọi nó là chùa Hắc Thứu”.

“Bất luận thế nào thì bây giờ tôi đã bắt đầu tin rằng ở đây có kền kền. Tôi thực sự lo sợ những gì trong giấc mơ sẽ ứng nghiệm đấy.”

“Đừng có tự dọa mình như thế, đó chẳng qua chỉ là giấc mơ mà thôi. Kể cả ban nãy đúng là con kền kền, thì cũng chẳng có gì đáng sợ cả, vốn dĩ trên núi xuất hiện kền kền cũng là chuyện bình thường.”

Hàn Giang an ủi Đường Phong một hồi, thấy Đường Phong bĩnh tĩnh hơn nhiều, hai người mới tiếp tục hướng đi về phía đông bắc. Chưa đi được bao lâu thì Hàn Giang phát hiện cây cối bên cạnh biến đổi, những loại cây mà không ai biết tên, mà họ trông thấy cả đoạn đường ban nãy, giờ đã chuyển thành những cây tuyết tùng cao lớn.

Đường Phong cũng để ý thấy sự biến đối xung quanh. Không chỉ có vậy, anh còn chú ý thấy địa hình dưới chân họ cũng đang cao dần lên: “Hình như chúng ta đang đi lên núi.”

“Tôi cũng thấy vậy!”

“Lẽ nào con đường phía đông có thể leo lên thẳng đỉnh núi phía bắc?”, Đường Phong ngẩng đầu nhìn lên.

Những cây tuyết tùng cao to che rợp bầu trời, họ không thể nhìn thấy vách đá trên đỉnh núi. Anh không biết lúc này đây, rốt cuộc họ đang cách đỉnh núi bao xa.

Đường Phong nói vậy làm Hàn Giang dừng lại. Con đường leo lên đỉnh núi phía bắc? Từ nơi cắm trại hướng về phía bắc, đỉnh núi đó cao vót chạm trời mây, không có đường nào để leo lên! Lẽ nào có một con đường leo lên đó thật ư, uốn lượn quanh co lên đó?

“Hay là thế này, chúng ta đã đi gần một tiếng đồng hồ rồi. Nếu như con đường này dẫn lên trên đỉnh núi phía bắc thật thì bây giờ chúng ta phải phán đoán ngay thôi. Tiếp tục tiến lên phía trước hay là quay về nơi dựng lều đã?”

“Đi bao xa vậy rồi, cậu cam tâm quay về sao?”

“Dĩ nhiên không cam tâm.”

“Tôi cũng không cam tâm.”

“Nhưng...”

“Chẳng nhưng cái gì cả, cả hai chúng ta đều không cam tâm vậy rồi, thì phải tiếp tục tiến lên phía trước thám hiểm chứ!”, Hàn Giang ngắt lời Đường Phong, nói như đinh đóng cột.

Đường Phong đang định nói thêm gì đó thì đúng lúc này, trên đỉnh đầu họ lại bị “đám mây đen” che kín lần nữa, một cơn gió lạnh lẽo lướt qua đỉnh đầu hai người. Theo bản năng, họ nhìn theo “đám mây” trên bầu trời, không, là trên ngọn cây! Bởi họ trông thấy lướt qua trên những ngọn cây tuyết tùng, là một thứ khiến rừng cây phủ xuống một vùng bóng tối âm u, cũng khiến cho trong lòng hai người âm u nặng trĩu theo.

“Quả nhiên là kền kền!”, Đường Phong hét lên.

“Tôi chưa bao giờ nhìn thấy con kền kền nào to đến như vậy, rõ ràng giống một con rồng có cánh bay qua đỉnh đầu!”, lời của Hàn Giang khiến hai người bỗng như quay về thời kì của kỷ Phấn trắng.

Trong lúc hai người đang thẫn thờ, thì trên không trung một con kền kền to lớn lại bay qua. Hai người há hốc mồm, ngớ người nhìn lên ngọn cây, Đường Phong không khỏi lẩm bẩm: “Quả thực chúng ta đã trở về kỷ Phấn trắng..

Cảnh tượng trong giấc mơ lần lượt lóe lên trong đầu Đường Phong, anh không dám nghĩ tiếp nữa. Anh lùi lại phía sau nhưng đã bị Hàn Giang tóm ngay lại: “Hay là chúng ta đi theo hai con kền kền thử này xem có thể đến được đâu?”

“Anh điên rồi!”

“Không điên đã chẳng phải là tôi!”

Nói xong, Hàn Giang tóm lấy Đường Phong lao như bay về phía con kền kền bay qua. Anh tức tốc phán đoán nhanh vị trí, điều khiến anh ngạc nhiên ở chỗ, phương hướng mà kền kền bay tới cũng chính là hướng đông bắc mà họ muốn tới. Anh không biết nên vui hay nên lo, cũng không biết kền kền sẽ đưa họ tới đâu.

Bước chân của Hàn Giang dần chậm lại, bởi anh đã không còn trông thấy hai con kền kền đâu nữa. Đường Phong vùng thoát khỏi Hàn Giang, thở hổn hển, nói với Hàn Giang: “Anh lao như điên như vậy, phương hướng có đúng không đấy?”

“Không sai, đi bao lâu như vậy rồi, cũng đến lúc thấy được kết quả rồi!”

Hàn Giang vừa dứt lời, mắt hai người bỗng mở to, rặng tuyết tùng cao lớn đã đến điểm kết thúc. Hai người giật mình nhìn về phía trước, một vách đá giống như một bức tường cao lớn chặn đứng đường đi của họ.
 

hoahongden12

Active Member

Chân giẫm lên bùn đất nhão nhoét, một cảm giác kì lạ trào lên trong lòng Đường Phong. Anh lại đến trước chỗ có bức tranh trên vách đá đã xem lúc sáng, dùng đèn pin soi lên đó, từng chút từng chút một: Anh quan sát trên vách đá trước mặt một lượt lừ đông sang tây, rồi lại tìm từ tây sang đông... Nhưng điều khiến anh cảm thấy thảng thốt lúc này chính là bức tranh khổng lồ trên vách đá ban sáng, túc này đã biến mất!

1

Dù thế nào đi chăng nữa Đường Phong và Hàn Giang cũng không ngờ rằng, phía cuối khoảnh rừng lại là một bức tường đá như thế này. Họ đã nghĩ tới vực sâu, đã nghĩ tới thềm núi, nghĩ tới khe núi, nhưng lại không hề nghĩ tới tường đá.

“Sao lại thế này? Chuyện này thật khác thường!”,

Đường Phong đau khổ kêu lên.

Hàn Giang cũng vỗ mạnh vào tảng đá một cái, anh không tin rằng mọi chuyện lại kết thúc như vậy. Anh ngẩng đầu nhìn lên, vẫn không trông thấy đỉnh núi, tảng đá trước mặt rất cao, nhưng trực giác lại khiến anh tin rằng đây chưa phải là điểm cuối cùng của khu rừng.

Đường Phong cũng để ý tới bức tường đá kì dị này, anh cũng nảy sinh suy nghĩ giống Hàn Giang. Anh men theo tảng đá đi về phía bắc vài bước, phát hiện địa hình đang cao dần lên. Khi quay đầu nhìn lại, anh thấy nếu men theo tảng đá đi về phía nam thì địa hình sẽ thấp dần xuống. Đường Phong bắt đầu đã hiểu ra: “Chúng ta đi men theo tảng đá về phía bắc, có lẽ sẽ phát hiện được gì đó đấy!”

“Tôi cũng nghĩ vậy!”, ý kiến của Đường Phong cũng trùng với ý của Hàn Giang.

Vậy là hai người bước nhanh hơn, càng đi về phía bắc địa hình càng cao, nhưng bức tường đá bên cạnh họ lại không cao lên theo. Mãi cho tới tận khi họ có thể nhìn thấy vết tích của tảng đá.

“Phía trên tảng đá này hình như là một mặt phẳng!”, Đường Phong suy đoán.

“Hơn nữa còn là một mặt phang rất rộng”, Hàn Giang cũng nhận ra.

“Nhưng chúng ta vẫn không lên được, phải có bậc thang mới may ra...”

Đường Phong vừa nói dứt lời thì tảng đá bên cạnh đã rẽ ngoặt một cái, một dãy bậc thang bỗng hiện lên trước mắt hai người.

“Đúng là cuộc đời này không có con đường cùng!”, trong lòng Đường Phong vô cùng phấn khởi.

Tim Hàn Giang cũng đập rộn ràng. Hai người bước lại gần bậc thang đá, quan sát tỉ mỉ. Thang đá không dài, chừng mười lăm, mười sáu bậc, vết tích của bàn tay con người tạo nên còn rõ mồn một, nhưng không giống được tạo ra từ thời cận đại.

“Trên đó chắc chắn có thứ quan trọng, nếu không thì cô nhân năm đó không thể đục một lối bậc thang bằng đá ở trong núi sâu thế này!”, Đường Phong suy đoán.

Hàn Giang gật gù, hai người đều đang suy đoán về thế giới trên bề mặt tảng đá. Ở đó sẽ có gì nhỉ? Kệ tranh ngọc? Tổ kền kền? Cung điện của Hạo Vương? Hay chỉ là một mặt phẳng mà thôi?

Hai người cố gắng kiềm chế sự phấn chấn trong lòng. Đường Phong lao như tên bắn lên bậc thang đá, còn Hàn Giang thì thận trọng hơn, tóm ngay Đường Phong lại. Hàn Giang móc từ trong thắt lưng ra khẩu súng ngắn 92 của mình, lên nòng, đi trước. Anh ra hiệu cho Đường Phong đi sau mình, nhưng phút cuối cùng, Đường Phong vẫn khó lòng kìm nén sự tò mò trong lòng, gần như cùng lúc leo lên bậc thang với Hàn Giang.

Cuộc đời này có lẽ luôn là vậy, khi mà bạn càng hy vọng bao nhiêu thì thường cũng sẽ lại thất vọng bấy nhiêu. Cũng giống như ban nãy, khi họ đi bộ hơn tiếng đồng hồ trong rừng, vốn tưởng rằng đã kịch đường rồi, thì lại gặp ngay tảng đá khổng lồ. Hiện giờ thì tình huống y hệt lại xuất hiện, Đường Phong và Hàn Giang nghĩ ra bao nhiêu là khả năng, nhưng sau khi họ lao lên bậc thang đá, trông thấy phía trên chỉ là một bề mặt rộng rãi, một bề mặt thênh thang được tạo nên sát vách đá phía tây trên đỉnh núi phía bắc, mà không có một thứ gì khác.

“Thế này là thế nào? Phía trên hóa ra chẳng có gì cả!”, Hàn Giang không giấu nổi sự thất vọng.

“Lại là một mặt phẳng rộng lớn. Nhưng khác ở chỗ ở đây toàn là tường đá, không có rừng cây, cũng không có bất cứ di chỉ kiến trúc nào cả!”, Đường Phong quan sát qua mặt phiến đá dưới chân anh.

“Kền kền đâu? Hai con kền kền khổng lồ đó cũng không thấy đâu nữa?”

“Không thể tin được! Lẽ nào cổ nhân đục những bậc thang đá trong rừng rậm chỉ để leo lên đây hóng gió, ngắm cảnh?”, Đường Phong lắc đầu, anh đã cảm nhận được gió lạnh buốt ở đây.

“Ngắm cảnh cái đầu cậu ấy, gió... gió to thế này thì...”, một cơn gió to ào tới khiến Hàn Giang không mở nổi mắt.

Đợi cuồng phong qua đi, Đường Phong dần dần bình tĩnh lại, anh nhìn nền đá trống trơn xung quanh, rồi lại nhìn Hàn Giang: ‘Đã đến đây rồi, hay là cứ cẩn thận quan sát kĩ một chút, biết đâu có dấu vết mà chúng ta chưa phát hiện ra thì sao.”

“ừm, cũng đành phải vậy thôi!”, Hàn Giang gật gù.

Vậy là, hai người chống chọi với gió rét, bắt đầu quan sát một cách kĩ lưỡng bề mặt tảng đá quái dị này.

2

Đường Phong và Hàn Giang áng chừng mặt phẳng dưới chân khoảng năm sáu trăm mét vuông, là nửa hình tròn méo mó. Địa hình phía trên rộng mở, hai người đi men theo bề mặt tới tận sát vực núi. Vực núi phía dưới sâu thăm thẳm, Đường Phong chỉ mới thò đầu ra nhìn một cái mà đã cảm thấy trời đất quay cuồng.

“Cảnh sắc phía trước đẹp thật đấy!”, Hàn Giang chỉ rặng núi xanh ngút ngàn phía trước thềm đá thốt lên.

“Anh vẫn còn tâm trạng ngắm cảnh à?”, Đường Phong cười nhạt một tiếng.

“Thực ra tôi đang quan sát địa hình, nhìn cảnh vật phía trước lẽ nào cậu không phát hiện ra gì sao?”

“Phát hiện gì?”, Đường Phong quan sát kĩ một hồi, “Hình như chúng ta đã vượt qua rặng núi phía đông.”

“Đúng! Thảo nào chúng ta đi bao nhiêu lâu trong rừng như vậy, đã thế còn càng đi càng cao, không ngờ là đã vượt qua rặng núi phía đông cơ đấy!”

“Như vậy cũng có nghĩa là, hiện giờ chúng ta đã tới cạnh vực thẳm phía đông của đỉnh núi phía bắc?”

“Nhưng tôi vẫn không hiểu, ở đây xem ra chẳng có gì cả, những bậc thang đá mà người xưa đục đẽo lẽ nào là để mở một con đường sao? Phải nhớ rằng, ở đây không một bóng người, vốn dĩ không đáng để mở đường như vậy”, Đường Phong ưu tư nói.

“Ai mà biết được?”, Hàn Giang cũng làu bàu.

“Vậy tối nay chúng ta không về được rồi!”, Đường Phong vừa nghĩ tới việc vượt qua vách núi của vực sâu phía tây mà đau cả đầu.

Hai người tiếp tục men theo vách núi hướng về phía đông bắc. Đi được khoảng hơn ba chục bước, Đường Phong lại quay đầu lại nhìn đỉnh núi phía bắc. Anh bỗng nhiên phát hiện ra trên đỉnh núi phía bắc có một vách đá nhô ra, giữa vách đá còn có vài cái cây hình thù kì dị nghiêng ngả mọc ra.

Anh chỉ vách đá đó, nói với Hàn Giang: “Anh xem, mấy cái cây kia giống hệt như mấy cái cây cạnh chồ dựng lều.”

Hàn Giang cũng để ý thấy mấy cái cây: “Đúng là rất kì lạ, trên vách núi trống trơn hình như chẳng có cây cối gì cả, vậy mà mấy cái cây đó lại có thể mọc được!”

“Điều này cũng không lạ. Mấy cây đó chắc chắn là loài cây có sức sống mãnh liệt, chỉ cần chút dưỡng chất là chúng có thể sinh trưởng, giống như cây tùng trên dãy Hoàng Sơn vậy.”

“Vậy sao? Nhưng không nhìn ra trên đó có loại đất nào có thể cung cấp dưỡng chất cả.”

“Anh coi thường sức mạnh của tự nhiên quá đấy. Đừng tưởng đá cứng, đến giọt nước còn có thể làm mòn đá thì đừng nói gì đến cây cối cứng cáp như vậy, chúng cũng có sức sống ngoan cường chứ. Anh nhìn chỗ kia đi, đó, đến đá cũng bị cây xanh đội lên, nhìn như kiểu sắp đổ sụp đến nơi rồi!”

Trong lúc nói chuyện thì vài hòn đá nhỏ từ trên núi lăn xuống, hai người vội vàng né tránh, đá rơi rào rào đầy xuống đất... Đường Phong nhặt một hòn đá lên rồi lại đặt xuống, sau đó rút súng ra, dùng báng súng ra sức đập lên một hòn đá nhỏ, hòn đá lập tức vụn thành vài miếng.

Đường Phong cười nói: “Anh đừng nhìn mà tưởng vách đá kia vô cùng kiên cố nhé, thực ra cấu tạo địa chất ở đây khá lỏng lẻo, cộng thêm gió khá to, nên đá cũng có thể tự rơi xuống, hơn nữa mới đập một cái đã vỡ.”

“Chúng ta vẫn phải cẩn thận chút đi!”, Hàn Giang giục Đường Phong tiếp tục tiến lên phía trước.

Hai người men theo vách đá đi được một đoạn thì tới điểm cuối cùng của nền đá. Hàn Giang có phần thất vọng, nói: “Xem ra suy đoán của cậu không thành hiện thực rồi, ở đây cuối cùng vẫn là một đường cụt.”

“Đúng vậy! Giờ thì không phải lại quay về với vấn đề ban nãy của tôi sao, vì đã là đường cụt rồi, nên những bậc thang đá đó càng khả nghi. Lẽ nào ở đây chỉ là một nền đá để ngắm cảnh?”

“Ngắm cảnh gì chứ, tôi thấy đây là nơi hứng gió thì đúng hơn!”, Hàn Giang thất vọng đến đỉnh điểm.

3

Hai người men theo phía dưới vách đá bắt đầu quay lại. Im lặng một hồi, Hàn Giang đang đi phía sau bỗng thốt ra một câu: “Để xem nào, xem trên vách đá ở đây có còn tranh hay không!”

“Không cần đợi anh nhắc, từ nãy tới giờ tôi đã xem rồi!”

“Chẳng phát hiện được gì à?”

“ừ.”

Hai người lại im lặng, cắm đầu đi. sắp tới chỗ bậc thang đá, Đường Phong lắc lắc đầu, than thở: “Xem ra mất toi cả buổi chiều rồi, chẳng thu hoạch được gì!”

“Đúng vậy! Trời sắp tối rồi, chúng ta phải tăng tốc thôi!”

“Đều tại anh muốn đến...”, Đường Phong đang nói thì đột nhiên im bặt.

“Sao thế?”, Hàn Giang phát hiện ra Đường Phong đã dừng lại.

Đường Phong quay đầu lại: “Trên vách đá vẫn còn có thứ gì đó...”

“Ồ!”, Hàn Giang lập tức phấn chấn trở lại.

“Anh nhìn chỗ này đi!”, Đường Phong chỉ lên vách đá bên cạnh bậc thang.

“Đây là cái gì?”

“Giống chữ Tây Hạ!”, Đường Phong lại lấy chai nước suối tưới lên vách đá, trên đó hiện lên một vài vết tích màu đỏ rực.

Nhưng khi Đường Phong vuốt nước lên xung quanh vách đá, thì lại không phát hiện thấy bức tranh to mà anh kì vọng hay là dấu tích nào khác, cả vách đá bị nước làm ướt chỉ cỏ đúng hai chừ viết bằng ngôn ngữ Tây Hạ. Bên cạnh hai chữ đó, hình như vẫn còn một đường kẻ ngang, không biết tượng trưng cho điều gì.

“Mau dịch đi, hai chữ này có nghĩa là gì?”, Hàn Giang vội vàng hỏi.

Chữ trên vách đá trải qua phong ba bão táp của năm tháng giờ đã trở nên mờ ảo nhòe nhoẹt, rõ ràng không được bảo tồn tốt như bức tranh trên vách đá ở chùa Hắc Thứu. Đường Phong cẩn thận xem xét một hồi, rồi mới ngập ngừng thốt ra hai chữ “...Thượng... tự…”

“Thượng tự?”, Hàn Giang không nghe rõ.

“Là Thượng tự. Tự trong từ ‘miếu tự’, tức là chùa đó!”, Đường Phong giải thích cho Hàn Giang.

“Thượng tự nghĩa là gì?”, đầu óc Hàn Giang vẫn mụ mị.

“Tôi cũng không hiểu lắm, ở đây xuất hiện ‘Thượng tự’ nghĩa là gì. Theo phong tục từ thời Trung Quốc cổ đại thỉ đền chùa to lớn được xây dựng trên núi không chỉ có một cái, chúng thường được xây thêm gần chùa chính hoặc hai ba tự viên, hình thành nên một quần thể đền chùa lớn. Và trong quần thể đền chùa đó, ngôi chùa nào nằm trên cao hoặc ở địa thế cao hơn thì sẽ được gọi là ‘Thượng tự”’, Đường Phong giải thích.

“Vậy có nghĩa là trước kia ở đây từng có một ngôi chùa?”

“Tôi cũng không chắc.”

“Thế chẳng phải dễ hiểu rồi sao, vốn dĩ trên mặt đá bằng phẳng này có một ngôi chùa, gọi là “Thượng tự”, vì thế người ta mới tạo những bậc đá để dẫn lên đây”, Hàn Giang mạnh dạn suy đoán.

Đường Phong ngẫm nghĩ một hồi, rồi lắc đầu: “Có thể như vậy sao? Nếu theo như cách giải thích của anh thì vấn đề của những bậc đá đã được giải đáp rồi. Nhưng lại nảy sinh vấn đề mới, đó là ở đây đều toàn là đá, căn bản chẳng có cách nào để xây dựng nhà cửa, trừ phi là những căn nhà bằng đá, hơn nữa ở đây gió to như vậy, chắc cũng không thể có người muốn sống ở đây đâu.”

Câu hỏi mà Đường Phong đưa ra khiến Hàn Giang không đối đáp lại được, nhưng anh vẫn không từ bỏ, lại hỏi tiếp: “Vậy cái đường kẻ ngang này tượng trưng cho điều gì?”

Đường Phong, bó tay lắc đầu: “Cái này tôi cũng không biết. Nhưng...”, Đường Phong ngập ngừng một lúc, “Nhưng tôi nghĩ liên quan tới ‘Thượng tự’ vẫn còn có một khả năng. ‘Thượng tự’ thực ra không phải chỉ ở đây, mà là chỗ di chỉ chúng ta đã phát hiện ra. Nếu là như vậy thì đường kẻ ngang tượng trưng ũi tên..

“Không thể loại trừ khả năng này. Nhưng nếu ở đó là Thượng Tự thì tại sao lại phải đục những bậc thang đá này?”

Đường Phong và Hàn Giang tranh luận một hồi cũng không tìm ra được vấn đề cốt lõi. Thấy trời sắp tối, hai người đành mau chóng quay về. Xuống dưới bậc thang đá, lần theo đường đi trong trí nhớ, Đường Phong đi men theo vách núi một đoạn, sau đó lại đi vào rừng cây bí ẩn.

4

Lúc đi trong rừng cây, Đường Phong không dám đi một mạch mà cứ một lúc lại dừng lại, xác định phương hướng, vì sợ rằng sẽ đi sai đường. Hàn Giang cười nói: “Cậu yên tâm đi đi, lúc đến tôi đều đã đánh dấu rồi!”

“Chính là những hình tam giác trên thân cây sao?”

“ừm. Nếu chúng ta lạc đường hoặc là không quay về, Yelena sẽ lần theo những kí hiệu đó đến tìm chúng ta.”

“Đúng chỉ có anh nghĩ được chu đáo!”

Chẳng mấy chốc hai người đã đi ra khỏi rừng, bên cạnh lại xuất hiện những thân cây mà họ không biết tên. “Rừng cây này cứ làm tôi thấy sợ thế nào ấy...”, Đường Phong khẽ kêu lên.

“Sợ gì?”

“Sợ lạc đường.”

“Đấy là cậu, cậu đi theo tôi đã lạc đường bao giờ chưa?”, Hàn Giang vẫn tỏ ra rất tự tin.

Đường Phong lắc đầu, đi tụt lại phía sau Hàn Giang, Hàn Giang đi trước dẫn đường. Trời tối dần, Hàn Giang phía trước vừa đi vừa quan sát những kí hiệu hình tam giác mình đánh dấu trên thân cây. Nhưng đi mãi đi mãi, Đường Phong đột nhiên kêu toáng lên: “Không đúng! Hình như lúc đến chúng ta không đi đường này...”

“Ố?!”, Hàn Giang giật bắn mình.

“Hơn nữa chúng ta từ rừng tùng đi ra, đã ở trong khu rừng này nửa tiếng đồng hồ rồi mà vẫn chưa trông thấy lều đâu cả, như vậy tính ra thì thời gian cũng không khớp!”, Đường Phong lo lắng kêu lên.

“Không thể thế được, tôi nhìn vào kí hiệu đánh dấu để đi, phương hướng cũng đúng...”, Hàn Giang vừa nói, vừa lấy la bàn ra nhìn lại phương hướng, không khỏi ngạc nhiên thất sắc, “Thế này là thế nào, ban nãy chúng ta vẫn còn ở hướng tây nam, sao bây giờ lại biến thành hướng tây bắc thế này? Thật... thật là không thể hiểu nổi!”

“Vậy mà anh còn nói ràng từ trước tới nay chưa từng lạc đường, giờ thì lộ tẩy rồi nhé!”

“Cậu xem...”, Hàn Giang không cam chịu, bước thật nhanh tới cạnh một thân cây ban nãy vừa đi‘qua, “Cậu nhìn lên cành cây này mà xem, không phải lúc đến tôi đã đánh dấu rồi đó sao?”

“Anh nhìn kĩ lại đi, xem có phải do anh đánh dấu không vậy?”, Đường Phong nhắc nhở Hàn Giang.

Lời nói của Đường Phong đã thức tỉnh Hàn Giang, anh vội vàng dùng đèn pin soi thẳng vào kí hiệu hình tam giác trên cành cây, quan sát tỉ mỉ, Hàn Giang không khỏi chau mày, trầm ngâm không nói, mãi lâu sau mới vỗ vào thân cây: “Mẹ kiếp, chắc chắn chúng ta bị đứa nào chơi rồi!”

“Thế là thế nào?”, Đường Phong ngạc nhiên.

“Tôi xem kĩ lại hình tam giác trên cành cây, tuy cũng là mới khắc, kích cỡ giống hệt như tôi khắc, nhưng nhìn kĩ lại thì không phải là vết dao của tôi.”

Đường Phong ghé đầu lại nhìn, Hàn Giang chỉ vào kí hiệu hình tam giác trên cành cây, nói: “Hình tam giác tôi khắc một nhát dao là xong, còn hình tam giác này lại được khắc bằng ba nhát dao.”

Quả nhiên, Đường Phong cũng nhận ra sự khác biệt, kí hiệu hình tam giác trước mắt được khắc chuẩn xác hơn của Hàn Giang, hơn nữa lại khắc bằng ba nhát dao. “Bởi vì gã đó chia thành ba nhát dao để khắc nên cậu thấy đấy, mỗi nhát dao của hắn đều rất sâu, còn tôi chỉ khắc bằng một nhát, những nhát dao phía sau không sâu bằng nhát trước”, Hàn Giang lại tiếp tục giải thích.

“Theo anh thì ai đã khắc vậy?”

“Không biết, nhưng xem ra người này cũng có kĩ năng được huấn luyện. Nói thật lòng, kí hiệu mà hắn khắc còn chính xác hơn của tôi”.

“Có khi nào là Yelena hay là lão Mã không nhỉ?”, Đường Phong hỏi.

“Sao họ phải khấc kí tự tam giác quấy rối chúng ta làm gì?”, lòng Hàn Giang đầy hoài nghi.

“Có lẽ họ không đợi được chúng ta nên đã đi tìm chúng ta chăng?”

Hàn Giang ngẫm nghĩ: “Không, chắc chắn không phải, tôi và Yelena đã giao hẹn với nhau rồi.”

“Lẽ... lẽ nào trong này, ngoài chúng ta ra vẫn còn người nào khác đang ẩn nấp?”, Đường Phong nhớ tới Fanny bị chết thảm ở gần nhà trọ dưới núi, không khỏi lo sợ kêu lên.

“Stephen?!”, nỗi lo lắng trong lòng Đường Phong càng thêm nặng nề.

“Vậy bây giờ chúng ta phải làm thế nào? Trời tối rồi!”, Đường Phong giật thót timể

Hàn Giang nhận định lại phương hướng, nói: “Chúng ta nên đi theo hướng tây nam. Nhưng chúng ta không nên mạo hiểm chui vào trong khu rừng chúng ta chưa đi qua này, chỉ có thể đi men theo con đường ban nãy chúng ta đến đây để quay về, về tới đường đó thì tính tiếp.”

5

Đường Phong và Hàn Giang bị bóng tối bao vây, cũng như bị sự hoảng loạn khủng khiếp quây lấy. Họ không ngừng tìm kiếm những kí hiệu đánh dấu trên cành cây và cũng không thấy bất cứ vật tham chiếu nào, thậm chí đến la bàn và phương hướng đánh dấu trên GPS cũng trở nên vô nghĩa, họ hiểu rằng lúc này đây, họ đã không còn bất cứ thứ gì để dựa dẫm vào nữa rồi.

Trong đêm tối, hai người bước thấp bước cao, đột nhiên, một tiếng kêu chói tai vang lên trên đỉnh đầu. “Kền kền?!”, Đường Phong giật mình ngẩng đầu nhìn lên. Rừng cây ở đây không còn rậm rạp như ban nãy nữa, nhưng sắc trời tối om, không có lấy một ánh sao, nên họ chẳng nhìn thấy gì cả.

Hàn Giang cũng đang ngẩng đầu nhìn lên trời, mãi lâu sau anh mới lẩm bẩm: “Rừng cây ở đây thưa thớt hơn ban nãy rất nhiều, hình như là đang rất gần chỗ dựng lều thì phải”.

“Vậy thì chúng ta mau tìm chỗ dựng lều đi!”, Đường Phong nói xong liền lớn tiếng hét lên vài câu, nhưng đáp lại anh chỉ có tiếng vọng cô độc. Tâm trạng hai người tức khắc lại trở về với sự thất vọng cực điểm.

“Có lẽ không phải là chỗ dựng lều nhưng vẫn còn tốt hơn ban nãy!”, Hàn Giang an ủi Đường Phong, sau đó lại tiếp tục bước nhanh về phương hướng mà anh dự đoán.

Đêm đen hun hút bao trùm lấy Đường Phong và Hàn Giang, ác mộng, âm thanh quái dị, kền kền khổng lồ, rừng cây khiến người ta lạc đường... Giờ thì trong lòng Đường Phong đã bắt đầu tin rằng, ở đây có một con ma, có lẽ lúc này đây con ma đó đang kề sát lại mình, có khi đang ở ngay trước mặt. Vừa đi vừa nghĩ, theo phản xạ, Đường Phong giơ cao đèn pin lên, soi về phía trước.

‘Ma!”, một bóng đen đột ngột xuất hiện ở phía trước khiến Đường Phong kêu lên thất thanh.

Hàn Giang cũng soi đèn pin về phía trước, bóng đen to lớn đó lại khiến Hàn Giang phấn khởi hẳn lên: “Có đường đi rồi!”

Đường Phong đã bình tĩnh trở lại, lúc này anh cũng đã nhận ra bóng đen khổng lồ trước mặt chính là tảng đá dưới đỉnh núi phía bắc. Cây cối phía trước mỗi lúc một thưa thớt, mãi cho tới cuối cùng, sau khi Đường Phong và Hàn Giang đi qua hai cái cây, thì phía trước bỗng rộng mở thênh thang.

Đường Phong cầm đèn pin, chăm chú quan sát: “Thật là kì lạ, đi bao lâu vậy rồi sao lại quay về đây nhỉ?”

Hàn Giang cũng nhìn ra vấn đề: “Hóa ra chúng ta lại quay lại chùa Hắc Thứu?”

Chân giẫm lên bùn đất nhão nhoét, một cảm giác kì lạ trào lên trong lòng Đường Phong. Anh lại đến trước chỗ có bức tranh trên vách đá đã xem lúc sáng, dùng đèn pin soi lên đó, từng chút từng chút một. Anh quan sát trên vách đá trước mặt một lượt từ đông sang tây, rồi lại tìm từ tây sang đông... Nhưng điều khiến anh cảm thấy thảng thốt lúc này chính là bức tranh khổng lồ trên vách đá ban sáng lúc này đã biến mất!

“Thế... thế này là thế nào?”, Đường Phong không dám tin vào mắt mình.

“Cậu tìm kĩ lại xem!”, Hàn Giang cũng cảm thấy bất ngờ.

Hai người dùng đèn pin bắt đầu chia ra hai đầu tìm kiếm, ánh đèn pin sáng rực soi lên vách đá ngay ngắn trước mặt, nhưng họ không thấy tung tích của bức tranh đâu nữa.

“Kì lạ thật đấy, âm thanh quái dị ban đêm, lạc đường trong rừng cây, tranh trên đá bị biến mất, bậc thang đá và nền đá thần bí…”Đường Phong không ngừng lắc đầu.

“Ngược lại, tôi nghĩ chính vì nhiều chuyện quái dị như vậy nên ở đây mới chính là chùa Hắc Thứu. Thứ mà chúng ta cần tìm nhất định ở đây rồi!”, Hàn Giang có vẻ bình tĩnh hơn.

“Hôm nay những chồ cần đi thì chúng ta đều đã đi rồi, tuy phát hiện thấy vài di tích, nhưng ngoài việc thêm cho chúng ta một đống mơ hồ rối rắm ra, thì chẳng giúp ích gì cho thứ mà chúng ta cần tìm.”, Đường Phong thất vọng nói.

“Tôi nghĩ... tôi nghĩ muốn tìm thấy thứ chúng ta cần, thì trước tiên phải nhúng tay vào cái mớ bòng bong bí ẩn này đã.”

“Phí lời, điều này tôi cũng biết. Nhưng tình hình mà chúng ta nắm bắt được hiện giờ, vốn không thể hóa giải được mớ bòng bong này.”

“Trên đời này không có con đường cùng.. Có thể vì bây giờ trời tối, nên chúng ta không trông thấy bức tranh trên đá. Hiện giờ chúng ta đã tới đây rồi thì hãy mau về chỗ dựng lều thôi, không thì mọi người sốt ruột đấy!”

Đường Phong cũng không dám ở đây lâu, vậy là hai người dựa vào kinh nghiệm ban sáng đến đây, tiếp tục đi về phía nam, đi qua hai con dốc đất nhỏ, họ lại đi lên thềm đất nện cao lớn nhất trong di chỉ chùa Hắc Thứu.

6

Đường Phong muốn lao về ngay, nên đi trước Hàn Giang. Hai người đi tới con dốc đất, Hàn Giang đang đi sau bỗng dừng lại.

“Sao thế?”, Đường Phong quay lại hỏi.

“Cậu xem dưới chân tôi là gì vậy?”, Hàn Giang chỉ cảm giác chân mình giẫm lên một vũng nước, nhưng anh lại cảm thấy đó không phải là nước. Nếu đó là Đường Phong thì chắc chắn sẽ không phát hiện được gì, còn Hàn Giang thì dù sao cũng dày dạn kinh nghiệm hơn, có tố chất hơn, lại từng qua đào tạo. Thế rồi khi anh từ từ nhấc chân phải lên thì đã ngửi ngay thấy mùi máu tanh.

“Máu, máu đấy!”, đèn pin trong tay Đường Phong soi lên chân phải Hàn Giang, anh hoảng hốt hét lên.

“Đừng có hét lên như vậy!”, Hàn Giang ra sức giữ bình tĩnh.

“Lẽ nào hội tiến sỹ Từ đã xảy ra chuyện gì?”, đầu óc Đường Phong tức tốc hiện lên cảnh tượng đáng sợ.

“Đừng có nói linh tinh!”, Hàn Giang quát Đuừng Phong.

Hàn Giang ngồi xổm xuống, cẩn thận kiểm tra đống máu trên đất. Đường Phong sững sờ nên đứng như trời trồng nhìn Hàn Giang. Hàn Giang đưa tay chấm chút máu, đưa lên mũi ngửi rồi lại thè lưỡi ra, khẽ liếm một cái, “Mẹ kiếp, làm tôi hết hồn một phen. Đây giống như máu của động vật nào đó...”

Nghe Hàn Giang nói vậy, tim Đường Phong đang treo ngược lên mới được hạ xuống: “Anh có thể nhận ra là máu con vật nào không?”

“Cậu nghĩ tôi là thánh chắc! Làm sao nhận ra được là máu động vật nào!”, Hàn Giang ngẫm nahĩ, “Nhưng cái này không khó, chỉ cần kiểm tra xem quanh đây có dấu chân động vật không là biết ngay.”

Hai người chia nhau dùng đèn pin tìm kiếm dấu chân động vật trên con dốc đất nện, quả nhiên trên bụi đất ở đây loáng thoáng xuất hiện một loạt dấu móng vuốt. “Là cừu hoang à?”, Đường Phong nghĩ ngay tới con cừu hoang đã dẫn họ tới đây.

“Cậu hỏi tôi á? Tôi có phải là nhà động vật học đâu! Từ hình dáng của vết chân cho thấy, tôi chỉ có nhận ra đây là dấu chân của loài động vật có vú cỡ trung để lại. Nhưng..

“Nhưng sao?”

“Nhưng quanh đây cũng không trông thấy động vật nào khác hoặc là dấu chân người, đến cả quanh vết máu cũng không thấy dấu chân hồn loạn. Điều này cho-thấy lúc con vật bị tấn công, cơ bản không hề xảy ra sự phản kháng kịch liệt. Vậy thứ gì đã giết chết con vật này và lại khiến nó không phản kháng lại nhỉ?”, Hàn Giang nghi ngờ không hiểu.

Hai người đều chìm trong suy tư, loáng một cái, trong đầu hai người đều hiện lên một đáp án, nhưng Hàn Giang lắc lắc đầu, anh lập tức đã phủ định đáp án đó, còn Đường Phong lại nói ra: “Có khi nào là... kền kền? Ban nãy chúng ta ở trong rừng, hai con kền kền đó lại xuất hiện đấy thôi.”

“Tôi cũng nghĩ tới kền kền, nhưng kền kền là loài động vật ăn xác chết, thông thường sẽ không tấn công động vật sống to lớn thế này đâu!”, Hàn Giang chau mày nói.

“Tôi cũng biêt, nhưng ngoài kền kền ra thì tôi cũng không nghĩ ra còn có loài động vật nào có thể tấn công khiến con cừu hoang chết ngay tức khắc được.”

“Tóm lại, quả thực ở đây đã xảy ra quá nhiều chuyện không thể giải thích nổi. Chúng ta hãy nhanh chóng quay về lều thôi!”, Hàn Giang đoán rằng Yelena và mọi người đang rất sốt ruột.

Hai người tiếp tục đi về phía nam, đúng lúc cả hai đi ra khỏi cửa rừng thi trong rừng cây gần đó vọng ra một chuỗi âm thanh. Hàn Giang vội vàng kéo Đường Phong vào trong rừng, hai người nấp sau một cái cây, quan sát động tĩnh bên ngoài.

Âm thanh đó vọng lại đứt quãng, sau đó là tiếng bước chân gấp gáp và tiếng thở hổn hển - là một người!

Trong giờ phút này có thể là ai vậy nhỉ? Đường Phong và Hàn Giang căng thẳng nín thở, nhìn chằm chằm về phía phát ra tiếng động, cùng lúc rút súng ra.

Chẳng bao lâu sau, quả thật có một người từ trong rừng vụt ra, trời quá tối, hai người không thể nhận biết người đó. Hàn Giang ra hiệu cho Đường Phong, Đường Phong hiểu ý, rón ra rón rén nấp sau một thân cây khác.

Hàn Giang đứng dậy, nghiêng người quan sát bóng đen đó, sau đó đột ngột bật đèn pin lên, nhằm thẳng vào bóng đen đó đồng thời lớn tiếng hét lên: “Ai?”

Người đó phản ứng mau lẹ, đúng lúc Hàn Giang soi thắng đèn pin về phía người này thì cô ta cũng rút súng ra, nhắm thẳng Hàn Giang. Nhưng chỉ cần duy nhất 0,01 giây, dưới ánh sáng đèn pin, Hàn Giang đã nhận ngay ra đó là Yelena.

7

“Yelena, sao em lại chạy đến đây?!”, Hàn Giang chạy thật nhanh tới bên Yelena.

Yelena cũng nhận ra Hàn Giang, cô buông súng xuống, nói: “Trời tối rồi, sao các anh vẫn chưa về, làm em lo quá!”

“Chắc cô lo cho Hàn Giang chứ gì?”, lúc này, Đường Phong cũng chui từ trong rừng ra.

“Ai tôi cũng lo lắng hết. Sao các anh đi lâu vậy?”, Yelena hỏi.

“Tiến sỹ và lão Mã không sao chứ?”, Đường Phong hỏi lại Yelena.

“Sao lại hỏi như vậy? Ban nãy lúc tôi đi thì mọi việc vẫn bình thường.”

Hàn Giang lại hỏi: “Ngoài em ra, lão Mã và tiến sỹ đều không rời khỏi lều chứ?”

Yelena nhìn Hàn Giang bằng ánh mắt kì lạ, rồi lại nhìn Đường Phong hỏi: “Các anh sao vậy? Cả buổi chiều bọn tôi đều ở trong lều, chẳng đi đâu cả, cũng chẳng xảy ra chuyện gì.”

“Vậy thì không ổn rồi!”, Hàn Giang nghe Yelena nói vậy, lẩm bẩm.

“Bởi vì bọn tôi gặp phải rất nhiều chuyện ly kì”, vậy là Đường Phong kể tóm tắt lại cho Yelena nghe những gì họ gặp phải trên đường.

“Thảo nào, em đang định hỏi bọn anh đấy, tại sao em đi theo những kí hiệu tam giác mà Hàn Giang đánh dấu đi về hướng đông bắc mà lại bị lạc trong rừng nên mới đến đây?”, mặt Yelena cũng đầy vẻ bế tắc.

Hàn Giang nhìn Yelena, sự nghi ngờ lướt qua trong ánh mắt. Nhưng chút thay đổi rất nhỏ đó cũng không lọt qua được mắt Yelena: “Hàn, ánh mắt anh nói cho em biết anh không tin em!”

Đường Phong giật mình, anh không hề phát hiện ra Hàn Giang và Yelena nói chuyện với nhau bằng ánh mắt.

“Được rồi! Chẳng có gì qua được mắt em!”, Hàn Giang muốn lảng tránh đôi mắt tuyệt đẹp của Yelena nhưng đã bị cô tóm chặt, anh đành phải nói tiếp: “Kí hiệu đánh dấu này là anh với em đã giao hẹn với nhau, tại sao trong rừng lại xuất hiện thêm một kí hiệu đánh dấu hình tam giác khác?”

Yelena mặt mũi tức tối, đang định mở miệng phản bác lại Hàn Giang thì phía sau vang lên một giọng nói: “Hàn Giang, tôi có thể trả lời cậu câu hỏi đó”.

Ba người cùng quay đầu lại nhìn, là lão Mã và Từ Nhân Vũ, hai người họ cũng vừa mới đi qua chỗ ban nãy Yelena vừa đi qua, xuyên qua khu rừng.

“Hàn, vì cái này mà cậu nghi ngờ tôi và Yelena thì hơi vội đấy!”, Makarov chậm rãi nói.

“Không! Mong bác hãy tin rằng cháu tin tưởng mọi người, chỉ có điều hôm nay gặp phải rất nhiều chuyện không thể giải thích được khiến cháu đau đầu... nói thể nào nhỉ, đầu sắp vỡ ra rồi!”, Hàn Giang nhìn Yelena, anh bắt đầu hối hận vì sự nghi ngờ của mình ban nãy.

Makarov bước lại, vỗ vồ vai Hàn Giang: “Ban nãy chính vì cái kí hiệu đánh dấu này mà chúng tôi cũng bị lạc trong rừng. Nếu là Yelena hoặc là tôi khắc, thì chúng tôi chắc chắn sẽ không bị lạc”.

“Đúng vậy! Tôi và lão Mã thấy các cậu và Yelena đều đi mãi không về nên sốt ruột, mới lần theo kí hiệu đánh dấu hình tam giác để đi tìm mọi người, rốt cuộc đi hơn nửa vòng lớn trong rừng thì đến được đây”, Từ Nhân Vũ phụ họa.

Makarov mỉm cười: “Sau đó tôi cũng phát hiện ra vấn đề, kí hiệu đánh dấu hình, tam giác khiến chúng tôi lạc đường rõ ràng không giống với hình tam giác ban đầu. Vậy là tôi đã cẩn thận kiểm tra kí hiệu hình tam giác đó, hình tam giác khiến chúng ta lạc đường này đã làm tôi nhớ lại chuyện trước đây..

“Chuyện trước đây?”, mọi người lập tức đồng thanh hỏi.

“Lão Mã, bác đừng có bịa chuyện cho bọn cháu nghe đấy. Có mỗi một cái kí hiệu đánh dấu thông thường mà cũng gợi được chuyện cũ của bác sao?”, Hàn Giang cảm giác lão Mã lúc nào cũng chìm đắm trong những kí ức xa xưa.

“Đúng vậy! Những chuyện cũ của bác toàn những chuyện trầm trọng!”, Đường Phong trêu chọc một câu để hóa giải chút không khí.

Makarov thở dài, chậm rãi nói: “Đường Phong, cậu nói không sai, những chuyện cũ của tôi đều là những kí ức nặng nề. Chuyện lạc đường hôm nay làm tôi nhớ lại câu chuyện tương tự mà năm đó tôi và Branch đã gặp phải trong căn cứ.”

“Trời, sao lại liên quan tới chuyện đó nhỉ?”, Hàn Giang cảm thấy thật khó hiểu.

“Chính là cái căn cứ Tiền Tiến ở Mông cổ đó sao?”, Đường Phong lại cảm thấy rất hứng thú.

Makarov gật đầu nói: “Đúng, chính là cái căn cứ Tiền Tiến ấy, năm đó tôi và Branch đã huấn luyện được một tốp học viên chuẩn bị xâm nhập vào Trung Quốc thực thi nhiệm vụ ngầm. Branch đòi hỏi rất nghiêm khắc đối với tốp học viên đó. Trong huấn luyện dã ngoại sinh tồn, chúng tôi đã quy định vài kí hiệu trong dã ngoại, khắc hình tam giác lên cành cây là một trong những kí hiệu đó. Năm đó, Branch yêu cầu khắc kí hiệu hình tam giác thì phải khắc bằng ba nhát dao, như vậy mới đảm bảo được rằng, kí hiệu để lại sẽ rõ nét, dễ nhận diện. Nhưng những học viên này trong quá trình huấn luyện thường quên mất yêu cầu của Branch, dùng một nhát dao khắc liền một lèo, điều đó khiến Branch rất không hài lòng. Nên chỉ cần Branch phát hiện ra học viên nào không thực hiện đúng yêu cầu huấn luyện, là anh ta sẽ phạt. Tôi còn nhớ như in, có một lần chúng tôi đưa học viên vào rừng nguyên sinh Siberia để tiến hành huấn luyện dã ngoại sinh tồn, trong đó có một học viên khắc kí hiệu đánh dấu hình tam giác này, đã không làm theo quy định khắc bằng ba nhát dao của Branch, kết quả là, trong cơn phẫn nộ, Branch đã định sai người khắc hình tam giác bằng ba nhát dao lên cánh tay học viên đó.”

“Tàn nhẫn vậy sao?”, Đường Phong ngạc nhiên thốt lên.

“Đương nhiên, sau đó dưới sự can thiệp của tôi, Branch đã không làm như vậy. Nhưng sự việc đó đã để lại ấn tượng sâu sắc trong đầu tôi.”

“Bác nói như vậy không phải là càng chứng minh cho nghi ngờ của cháu ban nãy sao?”, Hàn Giang đột nhiên lên giọng: “KGB các bác huấn luyện nghiêm khắc là có truyền thống quang vinh vậy đấy!”

“Không! Không! Hàn Giang, cậu chưa hiểu chuyện, KGB bọn tôi không có truyền thống đó. Hồi đó lúc được huấn luyện, giáo viên không dạy chúng tôi nhất định phải khắc kí hiệu hình tam giác bằng ba nhát dao!”, Makarov giải thích thêm.

“Cũng có nghĩa là, bác cho rằng cái người khắc hình tam giác bằng ba nhát dao trong khu rừng này có liên quan tới học viên của Branch và căn cứ Tiền Tiến?”, Hàn Giang ngạc nhiên nói.

“Branch không phải đã chết rồi sao?”, Đường Phong không hiểu.

“Ý cha có phải là đang nghi ngờ tốp học viên mà cha huấn luyện năm đó có liên quan tới việc này phải không?”, Yelena cũng giật mình.

Mọi người đều nhìn Makarov, nhưng ông im lặng hồi lâu. Mãi một lúc sau, ông mới chậm rãi nói: “Không! Ý tôi không phải vậy, chỉ là tôi muốn cung cấp thêm manh mối ọi người thôi mà.”

“Cháu nghĩ rằng bác có ý đó đấy!”, Hàn Giang cố ý kích Makarov, hy vọng ông sẽ kể thêm vài chuyện nào khác năm xưa.

“Hàn, cậu không phải kích tôi, cậu sẽ hiểu ý tôi nhanh thôi!”

Makarov không nói thêm gì nữa, đi thẳng về hướng nam, cũng là hướng dựng lều, mọi người lại đành phải chui vào khu rừng đã khiến họ lạc đường này.
 

hoahongden12

Active Member

Đường Phong bắt đầu chăm chú quan sát đỉnh núi trước mặt; những tia nắng sớm mai soi lên đỉnh núi cao chạm mây xanh; đỉnh núi dường như được khoác một tấm áo choàng nắng mai óng ả, trở nên lấp lánh dưới ánh nắng chan hòa, và thấp thoáng phía xa hình như là một bức tượng Phật, một bức tượng Phật rất lớn...

1

Con đường từ di chỉ chùa Hắc Thứu tới chỗ dựng lều đă không làm mọi người bị lạc đường, chẳng mấy chốc họ đã quay trở lại chỗ dựng lều. Từ Nhân Vũ kiểm tra xong mọi đồ đạc để lại lều, rồi mới thở phào nói: “Mọi thứ đều vẫn còn, xem ra chẳng có ai ghé thăm nhân lúc chúng ta rời khỏi đây cả.”

“Nhìn bộ dạng lo lắng của anh kìa, lại còn nói ở đây không có ai ghé thăm, mà kể cả có người đi chăng nữa, thì những thứ vật dụng quý báu chúng ta đều đã mang theo người rồi, sợ cái gì chứ? Chắc là không có ai lấy trộm cái lều của chúng ta đâu nhỉ?”, Yelena cười Từ Nhân Vũ.

“Em không biết đâu, tiến sỹ Từ của chúng ta lúc nào cũng mang bên mình một đống thứ linh tinh!”, Hàn Giang nói không chút hảo khí.

“Cái gì mà linh tinh, đó đều là bảo bối của tôi đấy!”, Từ Nhân Vũ phản bác lại.

“Được rồi, bảo bối của anh thì phải tự mình cất giữ lấy, đánh mất thì đừng có tìm tôi đấy nhé!”, Hàn Giang quay lại nhìn thì thấy Makarov về tới lều, nhưng trông mặt ông thẫn thờ, giống như lại đang chìm trong kí ức xa xăm.

Hàn Giang đưa mắt nhìn Yelena, nhưng bị cô lườm ột cái. Hàn Giang chán nản lắc đầu, trông thấy Đường Phong cũng đang thẫn thờ. Anh hỏi Đường Phong giọng trêu chọc: “Ngây người ra làm cái gì đó hả?”

“Không đờ đẫn thì làm cái gì bây giờ? Hôm nay mọi thứ đều khiến tôi căng hết cả đầu rồi!”

“Cậu có ý tưởng gì không?”

“Tôi luôn cảm thấy quanh đây có một đôi mắt không chút thiện cảm đang chằm chằm nhìn chúng ta...”, Đường Phong nhìn xung quanh, đêm tối đen, rừng cây tối đen.

“Thôi đừng nghĩ ngợi nhiều nữa, nghỉ ngơi trước đã, có việc gì mai tính tiếp.”

“Nghỉ ngơi? Tôi sợ trong lúc chúng ta ngủ sẽ có người tấn công trộm chúng ta đấy!”

“Bởi vậy vần cần có người canh gác.”

“Nhưng tôi không gác nữa đâu, lúc sáng sớm bị dọa cho sợ lắm rồi!”

Hàn Giang bó tay, đành đi tìm Yelena thương lượng. Mọi người hội ý một hồi, Makarov muốn được canh gác hộ Đường Phong, khiến anh cũng cảm thấy ngại.

“Vì mọi người đều lo lắng ban đêm gặp nguy hiểm nên tôi thấy sắp xếp như vậy nhé, Yelena và lão Mã trực buổi tôi..vừa nói Hàn Giang vừa nhìn nhìn Yelena. Anh cố ý sắp xếp như vậy để chứng tỏ rằng mình tin tưởng hai người họ.

“Gần sáng sẽ là Đường Phong và tiến sỹ!”, Hàn Giang nói tiếp: “Ở giữa là tôi!”

“Không chịu đâu! Tôi không trực lúc đó đâu, âm thanh quái dị đó..Đường Phong vẫn còn sợ sệt.

“Vậy thì anh và tiến sỹ canh gác giữa đêm, còn tôi canh gần sáng!”, Hàn Giang khó chịu lườm Đường Phong một cái.

Đường Phong không ý kiến gì nữa, Hàn Giang lại dặn dò thêm: “Canh gác thì ở cạnh lều, không ai được vào rừng, nhớ kĩ đấy!”

Đường Phong vội vàng ăn chút gì đó để tranh thủ đi ngủ. Nửa đêm, anh bị Từ Nhân Vũ gọi dậy.

Đường Phong và Từ Nhân Vũ, hai người mắt nhắm mắt mở ngồi ngoài lều, chẳng mấy chốc cả hai lại muốn ngủ gật. Đường Phong thấy như vậy không ổn. vậy là anh đứng dậy, bảo Từ Nhân Vũ chợp mắt trước, đợi chút nữa sẽ đến lượt mình, tất nhiên là Từ Nhân Vũ đồng ý ngay. Hai người canh gác, nhưng lại thành một người trực ban.

Một người canh gác có nghĩa là cơ hội ngủ gật không còn nữa, Đường Phong đành phải đứng dậy, lại bắt đầu đi loanh quanh lều, một vòng, một vòng, lại thêm một vòng.

Vòng đi vòng lại, Đường Phong bỗng cảm thấy trước mắt mình lóe một kí hiệu quen thuộc. Anh tưởng rằng ánh sáng của đống lửa làm anh lóa mắt, nên liền dụi dụi mắt, nhưng nhìn kĩ lại, thì không lầm: trên một cành cây bên cạnh anh, rõ ràng xuất hiện một kí hiệu hình tam giác được khắc bằng dao.

Đường Phong nhoài tới nhìn cho kĩ, càng nhìn càng căng thẳng, bỗng giật thót tim, bởi anh phát hiện ra ký hiệu hình tam giác trước mặt được khắc bằng ba nhát dao, lưu lại trên cành cây vết tích vừa sâu vừa sắc lẹm, hơn nữa có thể nhận ra là mới khắc. Trong đầu anh lập tức hiện lên một loạt chuyện đáng sợ, ký hiệu đáng sợ này xuất hiện tại chỗ dựng lều từ lúc nào vậy? Nó tượng trưng cho điều gì?

Lẽ nào có người đã tới đây trong lúc họ vắng mặt?

2

Đường Phong không thể xác định ký hiệu này xuất hiện từ lúc nào, buổi tối lúc họ quay về chồ dựng lều thì Từ Nhân Vũ chỉ kiểm tra đồ đạc, còn chẳng có ai trong số họ đi kiểm tra xung quanh đây có gì thay đổi hay không.

Đường Phong xác định lại một chút vị trí của ký hiệu này, hình như vừa đúng hướng chính nam. Hướng chính nam? Theo như suy đoán của anh, thì hướng chính nam là đường xuống núi. Họ chưa từng đi thăm dò qua hướng nam, mà ký hiệu hình tam giác bí ẩn này lại xuất hiện ở hướng nam... Anh ngẫm nghĩ, rồi đôi chân lại không chịu nghe lời mà tiến vào rừng cây phía nam, bởi anh phát hiện ra trên cái cây cách đó không xa lại xuất hiện một ký hiệu hình tam giác khác.

Đường Phong bước tới ký hiệu hình tam giác thứ hai, cẩn thận quan sát, giống hệt như hình tam giác thứ nhất. Ngay sau đó, anh đã phát hiện ra ký hiệu thứ ba, ký hiệu thứ tư, thứ năm... trong rừng cây hướng nam... tất cả những ký hiệu này đều dẫn về hướng chính nam. Đúng như phán đoán của anh trước đó, địa hình phía nam nhanh chóng dốc xuống, xem ra đây trước kia chính là một con đường lên núi, chẳng qua là bao năm qua rồi nên nó đã bị chôn vùi trong cát bụi lịch sử.

Khoảng gần kí hiệu đánh dấu thứ mười thì Đường Phong lại phát hiện ra một gò đất cao lớn. Anh lấy đèn pin từ từ soi lên gò đất, không to bằng thềm đất nện lớn nhất ở di chỉ chùa Hắc Thứu, nhưng lại cao hơn. Gò đất cao to sừng sừng, giống như một tấm bia bằng đất nện.

Đường Phong bước lại gần gò đất này, một khuôn mặt dữ dằn hung tợn phản chiếu trong mắt anh. Anh giật thót tim, sợ hãi đến nỗi chiếc đèn pin trên tay rơi cả xuống đất. Anh lùi lại phía sau vài bước, mãi cho tới khi tựa lên một thân cây mới đững vững trở lại.

“Ai?”, Đường Phong khẽ hét lên, giọng nói vẫn còn toát lên vẻ sợ hãi.

Không ai đáp lại, xung quanh lặng thinh như tờ, Đường Phong thấy đèn pin của mình vẫn sáng đèn nằm sõng xoài cạnh gò đất. Anh thu hết can đảm, lấy lại bình tĩnh, lần theo ánh đèn pin bước tới cạnh gò đất. Anh cúi người xuống nhặt đèn pin lên, một tay nắm chặt đèn pin, còn tay kia móc súng ra. Nhưng khi anh nhìn thấy khuôn mặt người đó lần nữa thì bỗng bật cười.

Đó là một khuôn mặt bằng đá, chính xác mà nói: đó là một pho tượng võ sỹ Tây Hạ bằng đá. Cơ thể võ sỹ kiện tráng, mặt mũi hung tợn, hai cánh tay nâng lên, eo giắt bảo kiếm, hai mắt hừng hực rất có thần đang chằm chằm nhìn Đường Phong.

Đường Phong bước tới, lấy tay gạt hết lớp bụi đất dày trên thân pho tượng, và không khỏi trầm trồ ngợi khen sự tinh xảo của nghệ thuật điêu khắc Tây Hạ. Cùng lúc, anh cũng chú ý tới hai cánh tay võ sỹ đưa lên cao. Đôi cánh tay vạm vỡ của võ sỳ giơ lên giống như đang đỡ một vật gì đó quan trọng và nặng trịch. Đường Phong ngẩng đầu nhìn lên gò đất cao lớn trước mặt, võ sỹ đang đỡ thứ gì vậy? Ụ đất cao lớn này chắc chắn là đã từng có một kiến trúc quan trọng đến mức phải khiến Nguyên Hạo sai thợ chạm khắc nên một võ sỹ đẹp đến như vậy để nâng lên.

“Phật tháp?”, Đường Phong ngẫm nghĩ, chỉ có Phật tháp mới xứng được với võ sỹ bằng đá đẹp tinh xảo này.

Đường Phong quan sát qua vị trí nơi võ sỹ bằng đá xuất hiện, là góc phía tây của gò đất cao lớn; điều đó cũng có nghĩa là, ba góc còn lại chắc cũng đều có một pho tượng võ sỹ khác. Vậy là anh lần ngược theo chiều kim đồng hồ, đi một vòng quanh gò đất, quả nhiên đúng như anh dự đoán, ở góc phía tây nam và đông bắc của gò đất đều phát hiện thấy một pho tượng giống hệt như pho tượng võ sỹ bằng đá ở góc phía tây bắc, điều này khiến anh càng tin vào suy đoán của mình. Thế nhưng, khi anh đi tới góc phía đông bắc của gò đất thì lại phát hiện ra pho tượng võ sỹ bằng đá ở đây khác hẳn với ba pho tượng kia.

Đường Phong tò mò cúi rạp người xuống, quan sát pho tượng võ sỹ này. So với ba pho tượng trước đó, pho tượng võ sỹ này hình như to hơn một chút. Anh dụi dụi mắt, theo lý mà nói thì kích cỡ phải tương đương chứ, có lẽ là do mình hoa mắt, ở đây không có dụng cụ để đo đạc, nhìn bằng mắt không chính xác được. Nhưng điều khiến anh ngạc nhiên là, sự tạo hình và biểu cảm trên khuôn mặt của pho tượng võ sỹ này đều khác với ba pho tượng kia.

Ba pho tượng võ sỹ đó mặt mũi bặm trợn hung dữ, còn pho tượng này, tuy eo cũng giắt kiếm, nhưng mặt mũi lại hiền từ hơn rất nhiều, thậm chí có thể nói rằng là mặt mày lương thiện. Nhìn tiếp phần tạo hình của ba pho tượng trước là tay giơ lên cao, còn pho tượng võ sỹ này lại chắp tay vào nhau, hai chân được tạc thành dáng khoanh tròn.

“Có lẽ là do thợ điêu khắc lúc đó nảy sinh ý tưởng khác!”, Đường Phong ngẫm nghĩ rồi bỗng thấy pho tượng trước mặt có gì đó không bình thường.

Đường Phong chăm chú nhìn pho tượng võ sỹ trước mặt, chỗ nào không bình thường nhỉ? Eo giắt kiếm, hai chân khoanh lại, mặt mũi hiền từ, hai tay chắp vào nhau... ừm vấn đề là ở chỗ hai tay chắp vào nhau.

Đường Phong phát hiện ra động tác chắp tay của pho tượng võ sỹ này có một điểm không giống với động tác chắp tay của những tín đồ Phật giáo, bàn tay chắp lại của pho tượng hướng về phía trước, ngón tay chĩa thắng về phía trước. Những người thợ vô tình làm vậy hay là có ý gì đây? Dấu hỏi này in đậm trong đầu anh. Nhưng anh chưa nghĩ ngợi lâu, thì lại có thêm một phát hiện khác.

3

Đèn pin trong tay Đường Phong dần dần di chuyển xuống phần dưới của pho tượng võ sỹ bằng đá, anh phát hiện ra pho tượng này còn một chỗ không giống với ba pho tượng trước đó: ba pho tượng kia hay tay giương cao, chân giẫm thẳng lên đất, còn pho tượng này chân khoanh lại, bởi vậy phần dưới xuất hiện một đài sen tạc bằng đá.

Đường Phong gần như bò ra đất, dùng đèn pin soi từng chút từng chút một phần đài sen ở phía dưới pho tượng. Đột nhiên, mắt anh sáng lên, trên đài sen phát hiện thấy chữ, là một dòng chữ Hán. Sao lại là chữ Hán? Từng biết rằng năm đó Tây Hạ thiếu những người thợ lành nghề, nên rất nhiều công trình trọng đại đều do thợ người Hán xây dựng, bởi vậy ở đây mới khắc chữ Hán. Đường Phong ngẫm nghĩ, rồi chẳng bận tâm đến lớp bụi bặm, anh vội vàng dùng tay vuốt bụi đất trên tòa sen đi, một dòng chữ Hán thể chữ Khải nắn nót hiện lên trước mắt anh: “Thiên thụ lễ pháp diên tộ thập niên nhị nguyệt, sắc kiến đại giới đài đàm tự hạ tự kim cương xá lợi bảo tháp”.

Khi Đường Phong khẽ đọc hàng chữ này lên, trong lòng anh vô cùng phấn khởi. Chỉ một câu ngắn gọn như vậy đã lập tức chứng minh cho suy đoán trước đó của mình, mà nói rõ thì không còn gì để nghi ngờ rằng đây chính là chùa Hắc Thứu mà anh muốn kiếm tìm. Tên chính thức của chùa Hắc Thứu trong thời Tây Hạ là “Chùa Giới Thái”, hơn nữa, thời gian xây dựng cũng nói rõ đây là một ngôi chùa từ thời Tây Hạ. Hai chữ “Sắc kiến” cho thấy đây là quần thể chùa hoàng gia được xây dựng dưới sự chỉ đạo của Nguyên Hạo. “Kim cương xá lợi bảo tháp” cũng chứng minh cho suy đoán của anh, gò đất này chính là một tòa bảo tháp, hơn nữa lại là một tòa tháp xá lợi. Nhưng về “Hạ tự” thì sao? Đường Phong lại chìm trong suy tư, lẽ nào di chỉ mà mình vừa phát hiện được chính là “Hạ tự”?, vậy thì “Thượng tự” ở chỗ nào?

Đường Phong lại tỉ mỉ quan sát xung quanh pho tượng võ sỹ bằng đá này, hi vọng có thể có thêm được chút phát hiện mới, nhưng lại chẳng phát hiện thấy gì cả. Anh đứng dậy, bỗng nhiên trời đất quay cuồng, anh vội vàng lấy tay vịn vào một thân cây, lúc đó mới đứng thẳng dậy được. Mình không bị huyết áp cao, sao lại bị chóng mặt nhỉ? Có lẽ do mấy hôm nay nghỉ ngơi không tốt. Sau khi dần bình tĩnh lại, Đường Phong định rời khỏi đây, nhưng khi anh rút bàn tay đang vịn vào thân cây lại, thì bỗng phát hiện ra trên cành cây có ký hiệu đánh dấu hình tam giác thứ 11, đây...

Đường Phong nhìn nhìn xung quanh, vẫn một sự im ắng chết chóc. Một cơn gió lạnh thổi qua, khiến anh đang phấn khích vì có phát hiện mới, đã dần trấn tĩnh lại, bên tai anh văng vẳng lời cảnh báo của Hàn Giang - không được rời khỏi lều trại. Đường Phong run bắn lên, mình đã đi khỏi lều bao xa? Anh vội vàng quay lại, nhìn về hướng anh cho rằng là phía dựng lều, vẫn là một vùng tối đen, không lấy đâu ra chút ánh sáng.

Đường Phong đã thực sự hoảng sợ, anh bắt đầu hồi tưởng lại những gì đã trải qua trên đoạn đường ban nãy, rồi suy đoán khoảng cách đến nơi dựng lều; nhưng nghĩ thế nào anh cũng thấy mình cách lều trại không hề xa? Đúng ra là vẫn phải trông thấy được đống lửa, nhưng giây phút này, chẳng nhìn thấy gì cả.

Đường Phong xác định phương hướng một lần nữa, cuối cùng anh căn cứ theo vị trí di chỉ Phật tháp để xác định lấy một phương hướng. Anh cho rằng đây là hướng chính bắc, cũng chính là hướng lều trại, nhưng anh đi men theo hướng này hơn năm chục bước thì lại bắt đầu thấy bất an vì cảm giác mình đã phán đoán sai hướng. Lúc này, phía trước xuất hiện hai ngã rẽ, Đường Phong quyết định điều chỉnh phương hướng, anh đi theo ngã rẽ hướng về phía tây bắc. Nhưng sau khi đi theo hướng này thì anh lại bất đầu nếm trải cảm giác đau khổ trong rừng cây lúc sáng sớm hôm qua.

4

Đường Phong giống như rơi vào một mê cung, không ngừng vòng vèo, toàn là trông thấy những nơi quen quen. Anh bắt đầu tuyệt vọng kêu gào, nhưng ở đây đến tiếng vọng lại cũng chẳng có, xung quanh chỉ có bóng tối và sự tĩnh lặng chết chóc, sự tĩnh lặng chết chóc và bóng tối.

Đường Phong chìm trong biển bóng đêm, anh không sao hiểu nối tại sao một rừng cây trông bình thường nhường vậy, mà lại không biết bao lần khiến mình rơi vào vùng đất chết. Có lẽ... có lẽ đây chính là tuyệt địa mà Nguyên Hạo không muốn để ai đó bước vào!

Đường Phong sức cùng lực kiệt, tuyệt vọng nhoài xuống một gốc cây, bất giác nhắm mắt lại...

Hai con kền kền to lớn bay sát ngọn cây, đậu lại trên cái cây có hình thù kì dị, chằm chằm nhìn Đường Phong đang say giấc nồng dưới gốc cây. Đột nhiên, một con kền kền lao về phía Đường Phong, và tới khi mở mắt ra thì anh thấy mình đã lơ lửng trên không trung. Bầu trời đen đặc, gió lạnh cắt da cắt thịt, anh muốn kêu cứu nhưng hét không thành tiếng. Chúng bay qua một tòa bảo tháp cao to, rồi lại bay qua vài tòa cung điện hùng vĩ, sau đó lại tới một khu rừng rậm, cuối cùng đến một bậc thềm bên vách núi cheo leo. Ken kền lao xuống bậc thềm đó, tại chỗ cách bậc thềm khoảng năm sáu chục mét, nó thả Đường Phong xuống.

Đường Phong chỉ cảm thấy lục phủ ngũ tạng của mình đang nứt toác cả ra. Anh bò trên vách đá lạnh toát, gió lạnh buốt thổi tới, toàn thân đau đớn. Anh định chống tay đứng dậy nhưng lại kiệt sức ngã nhào xuống vách đá.

Đột nhiên, những âm thanh quái dị từ từ lọt vào tai Đường Phong. Ngay sau đó là một tràng pháo tay rộn ràng, tiếp đó là một chuỗi ngôn ngữ mà Đường Phong nghe không hiểu, giống như có rất nhiều người đang ca hát nhảy múa bên cạnh mình vậy. Anh không biết những người này có ác ý gì với mình hay không, nhưng bản năng sinh tồn thôi thúc anh lật người lại, anh muốn nhìn rõ mặt những người đó.

Đó là một bầy ma quỷ hay là một đám người? Trong lúc hoảng hốt, Đường Phong trông thấy rất nhiều khuôn mặt hung tợn. Anh ra sức dụi mắt, lúc này mới nhìn rõ những khuôn mặt đó. Đó là một đám người đeo mặt nạ, đang vây quanh một đống lửa cháy bùng bùng ca hát, nhảy múa...

Đường Phong không hiểu ngôn ngữ của những người này, nhưng lại nhận ra bậc thềm này, bậc thềm bên cạnh vách đá cheo leo này chính là nền đá mà ban sáng anh và Hàn Giang tìm thấy. Anh nhìn tiếp đám người đó vẫn đang ra sức nhảy nhót, chốc chốc lại thành kính quỳ xuống đất, giơ hai tay lên, ra sức gào thét điều gì đó.

Đường Phong choáng váng, anh nhìn lên núi, định nhìn kĩ xem những người này đang vái lạy cái gì, nhưng ngoài màn đêm tối đen và vách đá lạnh lẽo thì anh không trông thấy gì cả! Hai con kền kền to lớn đó cũng không thấy bóng dáng đâu nữa, nhưng Đường Phong lại luôn cảm giác đôi chim đang ở trên đỉnh núi, trên đỉnh đầu mình, để bất cứ lúc nào cũng có thể lao xuống và cắp mình tới vực sâu không đáy.

Đám người đó gào thét khản cổ một hồi, giống như đang tiến hành một nghi thức thần thánh nào vậy. Khi đám người này đứng dậy thì họ lại không hát, cũng không nhảy nữa, Đường Phong phát hiện ra họ đang lao về phía mình. Anh bỗng nhớ ngay lại những gì đã trải qua tại Thất sắc Cẩm Hải nên liền hớt hải hét lên: “Tôi không phải là ma quỷ, không phải là…”

Nhưng Đường Phong có gào thét thế nào cũng không thành tiếng, đám người đó không buồn để ý, ngay lập tức nhấc anh lên, sau đó từng bước từng bước tiến tới sát vách núi. Đường Phong đã gào thét rách cổ họng rồi, mà phía dưới là vực sâu thăm thẳm; anh tuyệt vọng khi biết sẽ bị ném xuống đó. “Không! Tôi không phải là...”, rốt cuộc anh đã gào thành tiếng, tiếng hét xé rách tâm can, quyện cùng tiếng gió vô tình vang vọng khắp vực thẳm.

……

Đường Phong bừng tỉnh, lại là một cơn ác mộng. Anh ngồi dậy, hồi tưởng kĩ lại giấc mơ ban nãy, hình như có mối liên hệ nào đó với giấc mơ hôm qua. Kền kền? Một đám người đeo mặt nạ?... Đường Phong vẫn chưa kịp ngầm nghĩ mọi thứ, thì âm thanh kì quái khủng khiếp đó lại ùa tới.

Toàn thân Đường Phong run bần bật, anh định đứng dậy, nhưng đôi chân không còn chút sức lực nào cả, nên bất luận anh cố gắng thế nào cũng vẫn đổ kềnh ra dưới gốc cây. Anh ngẩng đầu lên nhìn, ký hiệu thần bí đó lại đập vào mắt, một ký hiệu hình tam giác được khắc bằng ba nhát dao, rõ nét mà bắt mắt. Anh đã thực sự buông xuôi, nhắm mắt lại, mặc cho gió lạnh mang theo chuỗi âm thâm kì dị dày vò màng nhĩ mình.

“Đường Phong, anh sao thế?”

“Sao lại chạy tới đây?”

Cũng không biết phải bao lâu sau, Đường Phong mới thức tỉnh bởi tiếng gọi. Anh dần dần hồi phục lý trí: “Âm thanh... quái dị... lại...lại là âm thanh quái dị đó...”

“Chúng tôi nghe thấy rồi, nhưng sao anh lại chạy tới đây?”, giọng Yelena vang lên.

“Tôi bảo mọi người đừng có đi lung tung, kết cục hay quá, hai cậu, một người thì ngủ li bì, một người lại chạy vào trong rừng!”, Hàn Giang trách móc.

Makarov rót cho Đường Phong uống một chút nước suối, Đường Phong chống tay đứng dậy. Anh không biết mình nên giải thích thế nào với mọi người, nên đã dốc hết sức lực chỉ vào ký hiệu hình tam giác trên cành cây bên cạnh: “Đều... đều tại cái đó.”

“Cái này?”, Hàn Giang lấy tay sờ lên kí hiệu hình tam giác trên cành cây.

“Ở đây cũng có?”, Yelena ngạc nhiên.

“Không chỉ có thế thôi đâu, trong khu rừng này chỗ nào cũng có”, Đường Phong tiếp tục kể lại những gì mình gặp phải ọi người nghe.

Mọi người nghe xong, ai nấy đều hết sức ngạc nhiên. Hàn Giang và Yelena dìu Đường Phong, chưa tới mười phút là đã xuyên qua khu rừng, trở về lều trại. Đường Phong lắc lắc đầu, anh không sao tin được, nơi khiến mình mụ mị, khiến mình mất phương hướng, hóa ra chỉ là đoạn đường đi có mười phút đồng hồ.

5

Chẳng bao lâu, sau khi mọi người về tới nơi dựng lều thì âm thanh quái dị đó cũng biến mất. Hàn Giang nhanh chóng phán đoán tình thế: “Tới trước khi trời sáng tôi sẽ canh gác. Mọi người tiếp tục nghỉ ngơi, bất luận là nghe thấy âm thanh gì đi chăng nữa cũng đều không được ra ngoài.”

Cũng đành phải vậy, mọi người nóng lòng đợi trời sáng trong sự khủng hoảng và giá lạnh. Đường Phong bị dày vò như vậy nên đã mệt mỏi rã rời, liền ngủ một mạch tới sáng.

Sau khi trời sáng, Đường Phong quan tâm hỏi Hàn Giang: “Âm thanh quái dị đó sau đó còn kêu không?”

“Lại vang lên một lần nữa nhưng chỉ ngắn thôi!”, Hàn Giang nói.

Vậy sao?”, Đường Phong vừa nói chuyện với Hàn Giang vừa sắp xếp lại hành lý mang theo người. Anh bật máy ảnh kỹ thuật số lên, chuẩn bị xem lại ảnh hôm qua chụp tại di chỉ chùa Hắc Thứu, nhưng anh vô cùng ngỡ ngàng khi trên ảnh chỉ là vùng trắng phớ, chẳng có gì cả.

“Thế này... là thế nào? Rõ ràng là tôi đã chụp rồi mà, hơn nữa sau khi chụp xong, tôi còn bật lên xem lại một lần!”, Đường Phong kêu lên.

“Cậu xem những bức khác xem sao!”, Hàn Giang giục.

Đường Phong vội vàng xem hai bức ảnh khác: “Cũng trắng phớ cả!”

“Kì lạ thật!”, Hàn Giang cũng có chút hoang mang.

“Không được, tôi phải đến chỗ bức tranh trên đá đó xem sao!”, Đường Phong nói xong liền định đến di chỉ chùa Hắc Thứu, nhưng Hàn Giang lại kéo anh lại: “Đừng đi, hiện giờ ở đó không quan trọng nữa”.

“Ồ, sao lại thế?”, Đường Phong không hiểu ý Hàn Giang.

“Tôi đã nghe kĩ những gì cậu gặp phải trong rừng lúc sáng sớm, ngoài ký hiệu hình tam giác bí ẩn đó ra thì vẫn còn một việc hấp dẫn tôi, đó chính là tòa Phật tháp mà cậu phát hiện ra.”

“Anh nghĩ tới gì vậy?”

“Sau khi trời sáng, tôi và Yelena đã đi kiểm tra tòa Phật tháp đó. Giống hệt như cậu nói, Phật tháp ở vị trí thiên về hướng đông, ở hướng chính nam của lều trại chúng ta, còn di chỉ chùa Hắc Thứu mà chúng ta phát hiện thấy hôm qua ở hướng chính bắc của lều trại chúng ta. Như vậy cho thấy, Phật tháp và di chỉ chùa Hắc Thứu năm đó phải gắn liền với nhau, cũng có nghĩa Phật tháp là một phần của chùa Hắc Thứu. Vậy thì căn cứ theo ghi chép trên Phật tháp, chúng ta cũng có thể đoán định, đây chính là nơi gọi là ‘Đại Giới Đàn tự, Hạ tự”’.

“Đúng, tôi cũng nghĩ vậy!”, Đường Phong đồng ý với ý kiến của Hàn Giang.

“Như vậy cũng đã phủ định giả thuyết hôm qua của cậu, ở đây không thể là ‘Thượng tự’, mà Thượng tự phải nằm ở chỗ khác!”

Đường Phong gật gù: “ừm, đúng như vậy! Vậy thì mặt phẳng đá mà hôm qua chúng ta phát hiện thấy bên vực núi phía đông rất khả nghi.”

“Đúng vậy, hai chữ Tây Hạ ‘Thượng tự’ mà chúng ta phát hiện thấy trên mặt phẳng đá, đã rõ ràng gợi ý cho chúng ta rằng Thượng tự chính là ở đó, còn bậc thang đá mà chúng ta phát hiện thấy chính là đường lên Thượng tự”, Hàn Giang suy đoán.

“Chính là chỗ đó?”, Đường Phong vẫn do dự, “Không đơn giản vậy chứ, trên mặt phẳng đá đó gió to như vậy, toàn là đá, sao mà xây chùa được?”

“Hiện giờ tất nhiên tôi không thể trả lời câu hỏi này của cậu, nhưng một phát hiện trên Phật tháp đã có thể chứng minh cho quan điểm của tôi.”

“Ồ? Ý anh nói tới pho tượng võ sỹ ở góc đông bắc?”,

Đường Phong thông minh lập tức hiểu ra ý của Hàn Giang.

“ừm, cậu nghĩ xem, tại sao tượng võ sỹ góc đông bắc lại không giống với ba bức tượng còn lại? Đây lẽ nào là sự vô tình? Không, chắc chắn không phải, vì pho tượng võ sỹ đó bất luận là tạo hình, kích cỡ hay biểu cảm, đều không giống với ba pho tượng kia. Điều này chỉ có thể có một cách giải thích, đó chính là ẩn ý trong khi xây dựng tháp năm đó.”

“Tôi cũng nghĩ đến việc này, nhưng vẫn chưa dám khẳng định. Anh nói như vậy, tôi nhớ ra rồi, điểm khác biệt lớn nhất giữa pho tượng võ sỹ đó với ba pho tượng kia chính là đôi tay. Pho tượng võ sỹ đó hai tay chắp lại, hơn nữa động tác chắp tay của nó rất kì lạ.”

“Đó chính là chứng cứ rõ ràng nhất. Tượng võ sỹ ở góc đông bắc hai tay chắp lại, nhưng ngón tay lại hướng về phía trước, phía trước nó lại là hướng đông bắc, vậy hướng đông bắc có gì? Ngoài Thượng tự thì còn có gì nữa?”, Hàn Giang càng nói càng hăng.

“Nhưng tôi không hiểu, phải tốn bao công sức như vậy, và ý đồ huyền bí chỉ là để chỉ Vị trí của Thượng tự thôi sao?”

“Điều đó nói lên sự quan trọng của Thượng tự! Hiện giờ ở đây chúng ta cơ bản đã lục soát hết một lượt, tuy có rất nhiều phát hiện, nhưng đối với những thứ chúng ta cần tìm, lại không phát hiện thấy tung tích gì cả…”

“Bởi vậy anh cho rằng thứ mà chúng ta cần tìm nằm trên Thượng tự sao?”, Đường Phong ngắt lời Hàn Giang.

Hàn Giang gật đầu, đáp: “Tôi nghĩ là vậy!”

“Nhưng hôm qua chúng ta đã tới nền đá đó rồi, chẳng phát hiện thấy gì mà. Thậm chí còn không tìm thấy chút dấu tích kiến trúc nào cả!”

Câu nói của Đường Phong khiến Hàn Giang trở nên trầm ngâm. Mãi lâu sau, Hàn Giang mới lại nói tiếp: “Hiện giờ tôi không thể trả lời tất cả những điều này, nhưng tôi nghĩ chúng ta phải đến đó một chuyến nữa”.

Hàn Giang vừa dứt lời, bên ngoài lều bỗng vang lên những âm thanh xao động.

6

Đường Phong và Hàn Giang nghe thấy tiếng động bên ngoài lều liền vội vàng chui ra thì thấy Từ Nhân Vũ hào hứng hét lên: “Cừu hoang, vừa mới có một con cừu hoang chạy tới lều chúng ta đấy!”

“Vậy sao anh không tóm nó lại để chúng ta có một bữa thịt hoang dã!”, Hàn Giang trêu chọc.

“Đúng thế, tôi cũng nghĩ thế, tôi đang định tóm nó thì con cừu hoang đó đã chạy tọt vào rừng rồi!”, Từ Nhân Vũ vừa nói vừa chỉ trỏ.

Đường Phong nhìn theo hướng Từ Nhân Vũ chỉ, quả nhiên, ở trong rừng cây phía bắc có một con cừu hoang đang đứng giữa rừng, chằm chằm nhìn họ một cách rất cảnh giác.

Từ Nhân Vũ giương súng lên, nhắm chuẩn con cừu hoang đó, Đường Phong vội vàng ngăn lại: “Đừng nổ súng, cừu hoang là động vật cần được bảo tồn!”

Đường Phong vừa nói dứt lời, con cừu hoang đã nhảy tót vào rừng cây phía bắc. Từ Nhân Vũ vội vàng đuổi theo, nhưng con cừu hoang nhanh thoăn thoắt đã biến mất trong rừng, không kịp để anh có cơ hội nổ súng.

“Tại cậu gào lên nên nó mới sợ mà chạy mất đấy!”,

Từ Nhân Vũ từ quê mặt chuyển sang tức tối, đổ hết tức giận lên đầu Đường Phong.

Đường Phong đang định mở miệng thì đột nhiên bầu trời bỗng tối sầm xuống, ngay sau đó là những tiếng kêu chói tai vọng lại, khiến anh giật thót tim. “Kền kền, lại là một con kền kền rất lớn!”, Đường Phong chỉ lên cái bóng khổng lồ trên ngọn cây phía xa xa hét lên.

Mọi người đều căng thẳng nhìn con kền kền to lớn chao liệng trên không trung, không ai biết lần này nó định làm gì. Từng cảnh tượng khủng khiếp trong cơn ác mộng lần lượt hiện lên trước mắt Đường Phong, anh đã cầm chặt súng trong tay, lo sợ kền kền sà xuống quắp lấy mình. Nhưng kền kền không lao về phía họ, mà bay về hướng bắc.

“Nó định làm gì vậy?”, Yelena hoảng hốt hỏi.

“Phía bắc là di chỉ chùa Hắc Thứu, lẽ nào...”, Hàn Giang đang nói bỗng im bặt.

Đúng lúc mọi người đang suy nghĩ rối bời thì cảnh tượng khủng khiếp khiến họ phải ghi nhớ suốt đời, đã xuất hiện...

Con kền kền lao về hướng bắc, nhưng chẳng mấy chốc lại cất cánh lên không trung. Tới khi mọi người cùng nhìn về phía kền kền, thì phát hiện thấy nó đang quắp một con cừu hoang to hơn cả nó phía dưới.

Tất cả đều ngây người ra. “Thật thần kì làm sao!”, Yelena ngạc nhiên thốt lên.

“Không thể tin được, con cừu hoang đó ít nhất cũng phải nặng tới năm mươi cân mà lại bị kền kền quắp lên như vậy!”, Từ Nhân Vũ lẩm bẩm.

“Xem ra hai con kền kền này không phải là động vật ăn xác chết đâu!”, Đường Phong vẫn chưa quên phát hiện hôm qua.

“Lẽ nào chúng ăn động vật sống?”, Makarov cũng không ngừng lắc đầu.

“Vũng máu hôm qua phát hiện thấy ở di chỉ, tôi nghĩ đã có thể giải thích được rồi đấy!”, Đường Phong lại nhìn Hàn Giang.

Hàn Giang nhìn con kền kền đang dần bay xa mà không hề chớp mắt: “Nhìn tôi làm gì, kền kền cũng bay về hướng đông bắc, còn có gì để nói. Muốn bóc gỡ được mớ bí mật này thì phải đến nền đá đó một lần nữa, đó chính là nơi được gọi là Thượng tự”.

“Ở đó chẳng có gì cả, là Thượng tự ư?”, Đường Phong ra sức hồi tưởng lại từng cảnh tượng mà mình trông thấy ở đó hôm qua, nhưng cũng không phát hiện được gì.

Hàn Giang ngẫm nghĩ, nói: “Tôi nghĩ ở đó chắc chắn còn cất giấu thứ gì đó.”

Makarov cũng đồng ý với ý kiến của Hàn Giang: “Bất luận thế nào, đi tìm ‘Thượng tự’ trước đã rồi tính tiếp!” "

Sau khi mọi người bàn bạc, thống nhất với nhau xong xuôi, họ nhổ lều rồi tiến về vực núi phía đông bắc. Mọi người lần lượt đi hàng dọc tiến vào khu rừng đã từng khiến họ bị lạc đường.

7

Đi trong rừng, Hàn Giang đi trước, lần này anh thay kí hiệu đánh dấu bằng một hình quả trám. Cả hội mới đi được mấy bước, Hàn Giang đã trông thấy kí hiệu hình tam giác hôm qua mình khắc lên cành cây, nhưng chẳng mấy chốc, họ lại trông thấy kí hiệu hình tam giác khác được khắc bằng ba nhát dao. Hàn Giang dùng tay vuốt lên những vết khắc sắc lẹm, chìm trong suy tư.

Đường Phong bước lên trên, quay lại vỗ Hàn Giang một cái: “Nghĩ gì vậy? Mau đi thôi!”

“Tôi đang nghĩ, mục đích của người hôm qua khắc kí hiệu hình tam giác này lên đây là gì?”, Hàn Giang bỗng nhiên hỏi lại một câu.

Đường Phong hơi ngớ người: “Vậy mà cũng phải nói, để quấy nhiễu chúng ta, để chúng ta lạc trong rừng chứ sao.”

“Không! Hiện giờ tôi không nghĩ vậy, trước đây tôi cũng nghĩ như cậu, nhưng bây giờ tôi lại cho rằng, người đó làm như vậy là vì nguyên nhân khác..

“Hàn, có phải cậu cho rằng người đó làm vậy là vì mục đích giống cậu phải không?”, Makarov đột nhiên hỏi.

Hàn Giang gật đầu: “Ông trời luôn công bằng với mỗi người, khu rừng bí ẩn này có thể khiến chúng ta lạc mất phương hướng, vậy thì cũng có thể khiến người khác lạc đường, bởi vậy người đó vì mục đích giống như chúng ta nên đã khắc những kí hiệu này để đánh dấu”.

“Vậy giải thích thế nào về những kí hiệu xuất hiện quanh chỗ chúng ta dựng lều?”, Đường Phong cũng hỏi.

Câu hỏi của Đường Phong khiến mọi người ngạc nhiên, rồi không ai bảo ai, tất cả cùng nhìn ra xung quanh rừng cây. Cây cối ở đây cũng không rậm rạp lắm, xung quanh yên tĩnh như tờ. Hôm nay là một ngày đẹp trời, ánh nắng chiều xuống khu rừng, vương vãi trên mặt đất, nếu không có những chuyện đáng sợ đã gặp phải, thì ở đây hoàn toàn là một đào nguyên ngoại thế diễm lệ.

“Nếu...”, Hàn Giang hắng hắng giọng, nhìn mọi người, nghiêm túc nói, “Nếu như cái ký hiệu này không phải là trò đùa ác ý của ai đó trong số chúng ta, vậy thì xung quanh chúng ta chắc chắn còn có một người tồn tại. Từ nhà trọ dưới núi, đến cái chết bí ẩn của Fanny, rồi đến những chuyện ly kì gặp phải trên núi, hiện giờ tôi gần như có thể đoán định cái người bí ẩn đó quả thực là đang tồn tại, hơn nữa còn ở ngay cạnh chúng ta. Nhưng người này hình như không hứng thú với chúng ta, thứ mà hắn hứng thú lại là thứ khác”.

“Bởi vậy hắn đã từng tới lều trại của chúng ta, nhưng không lộ diện!”, Đường Phong nói.

“Nhưng hôm qua chúng ta ở chỗ dựng lều cả ngày, nếu như cỏ người nào đó theo dõi chúng ta gần đó, thì chắc em cũng phải phát giác ra chứ?”, Yelena không hiểu.

Hàn Giang chau mày lại: “Tình huống này chỉ có thể có một cách giải thích là: gã này là một cao thủ tuyệt đỉnh, năng lực của hắn còn trên cả tôi.”

“Thật sao? Còn có người hơn cả anh và Yelena ư?”, Đường Phong không tin lắm.

“Có, tôi nghĩ trên đời này chắc chắn có!”, Hàn Giang chưa nói gì thì Makarov đã lên tiếng.

Mọi người không hiểu. “Bác nói bản thân bác phải không? Khà khà!”, Đường Phong hỏi lại Makarov.

Makarov chỉ lắc đầu, không nói thêm gì nữa. Mọi người tiếp tục tiến về hướng đông bắc, càng tiến về phía trước, cây cối càng rậm rạp. Đường Phong cũng để ý thấy ký hiệu đánh dấu cũng ngày càng nhiều lên cùng với cây cối rậm rạp, có cái là của Hàn Giang khắc, có cái là của người bí ẩn đó khắc, Cả Hàn Giang và Đường Phong đều muốn qua những kí hiệu đánh dấu bên cạnh để phán đoán ra vị trí đã khiến họ lạc đường hôm trước, nhưng họ đi mãi vào trong rừng mà cũng không tìm thấy chỗ lạc đường đó.

8

Địa hình càng ngày càng cao, những cây tuyết tàng cao lớn chọc thẳng lên trời, ánh sáng trong rừng cây tối sầm xuống. Mọi người tới trước vách đá, rồi lại men theo vách đá đi thêm một đoạn, những bậc thang đá xuất hiện trước mặt họ.

Đường Phong đang định lao lên thì bị Hàn Giang tóm lại. Hàn Giang đứng trên bậc thang đá đầu tiên, im lặng lắng nghe, tất cả mọi người đều nhìn anh. Bỗng nhiên, Hàn Giang rút súng ra: “Mọi người cẩn thận, tôi ngửi thấy mùi máu!”

“Mùi máu? Anh căng thẳng quá phải không vậy? Sao tôi không ngửi thấy?”, Đường Phong ra sức hít ngửi.

Hàn Giang không trả lời, kéo Đường Phong ra sau lưng, còn mình thì cầm súng, là người đầu tiên nhảy lên bậc thang đá dẫn lên nền đá, theo sau anh là Yelena, Đường Phong; lão Mã và Từ Nhân Vũ cũng nhảy lên theo. Gió lạnh thôi qua, một mùi máu tanh nồng nặc xộc tới, nhưng không nhìn thấy ai. Hàn Giang bước nhanh vài bước, chẳng mấy chốc đã tới chính giữa nền đá, một con cừu hoang nằm chết đã bị moi rỗng hết nội tạng, mùi máu tanh nồng nặc bốc ra từ đây.

“Là con cừu hoang ban nãy sao?”, Đường Phong quỳ xuống, bịt mũi, kiểm tra cái xác.

“Chắc là con ban nãy, tôi thấy nó mới chết thôi!”, Hàn Giang phán đoán.

“Như vậy là đã trả lời cho câu hỏi của cậu ban nãy, kền kền thả cừu hoang xuống cho chết đã rồi mới ăn thịt nó!”, Makarov nói.

Đường Phong chỉ cảm thấy buồn nôn: “Nơi này khiến tôi nhớ tới đài thiên táng ở Lang Mộc Tự, trước tiên làm tôi nhớ tới... nhớ tới cơn ác mộng đáng sợ đó.”

“Ác mộng?”, Hàn Giang bỗng nhớ ra điều gì đó, “Đường Phong, cậu nghĩ kĩ lại cơn ác mộng đó của cậu xem nào.”

“Có gì đáng để nhớ? Nếu anh không muốn tối đêm nay lại nằm mơ thấy ác mộng thì đừng nhắc tới chuyện đó với tôi nữa!”

“Không! Phải nhớ lại, hình như cậu kể rằng cũng có một con kền kền quắp lấy cậu trong mơ, sau đó quăng cậu xuống đây?”, Hàn Giang gợi chuyện cho Đường Phong.

Hàn Giang nói vậy lại gợi lại ký ức đáng sợ của Đường Phong: “Đúng vậy, có hai lần. Lần thứ nhất rất mờ nhạt, tôi không nhớ nữa, hình như là kền kền thả tôi xuống một khu rừng nguyên sinh. Nhưng lần thứ hai thì rất rõ ràng, chính là ở đây, kền kền quẳng tôi xuống đây, sau đó một đám người đeo mặt nạ kéo tới dọa dẫm tôi, vừa hát vừa nhảy, cuối cùng thì quẳng tôi xuống vực núi.”

“Không... không, hình như cậu còn kể rằng đám người đeo mặt đó còn thành kính quỳ xuống…”

“Đúng vậy, đám người đó ban đầu là quây quanh đống lửa vừa hát vừa nhảy, sau đó đều thành kính quỳ xuống đất, chính là chỗ này, là chỗ chúng ta đang đứng”, những chi tiết trong cơn ác mộng ban sớm vẫn như đang hiện lên trước mắt khiến Đường Phong hồi tưởng lại mà vẫn hồn xiêu phách lạc.

“Ở đây? Vị trí hướng lên núi?”

“ừm, hướng lên đỉnh núi phía bắc, người nào người nấy đều rất thành kính.”

Hàn Giang lùi lại vài bước, ngẩng đầu nhìn lên đỉnh núi. Mọi người không biết Hàn Giang nghĩ tới điều gì nhưng cũng lùi lại vài bước, ngẩng đầu nhìn theo.

“Trên đỉnh núi đó chắc chắn ẩn giấu bí mật nào đó!”, mắt Hàn Giang đã nheo lại thành một đường thẳng.

“Đỉnh núi trống huơ trống hoắc đó thì có bí mật gì chứ? Những gì tôi nói ban nãy đều là cảnh tượng trong mơ, anh đừng coi là thật!”, Đường Phong nhắc nhở Hàn Giang.

“Không! Phải coi là thật!”, Hàn Giang cố chấp nói.

“Anh điên thật rồi!”, Đường Phong thấy Hàn Giang giống như bị ma nhập vậy.

“Tôi có điên hay không thì hôm nay sẽ biết!”, Hàn Giang nói rất chắc chắn.

Anh vừa nói dứt lời thì trên vách núi có vài hòn đá lăn xuống. Anh lại bước vài bước về hướng đông, hình như là lùi về phía đông của vực thẳm.

“Anh cẩn thận chút!”, Đường Phong và Yelena đồng thanh nhắc nhở Hàn Giang.

Hàn Giang vẫn mặc kệ chăm chú quan sát ngọn núi trước mặt. Đường Phong cười nói: “Anh nhìn chằm chằm chỗ đó thấy được cái gì vậy…?”

Đường Phong vẫn chưa nói dứt lời thì Hàn Giang đột nhiên bình tĩnh nói: “Tôi thấy rồi!”

“Cái gì?”, “Anh thấy gì vậy?”, mọi người không hiểu.

Hàn Giang không trả lời, vẫn chăm chăm nhìn lên đỉnh núi. Đường Phong bắt đầu chăm chú quan sát đỉnh núi trước mặt: những tia nắng sớm mai soi lên đỉnh núi cao chạm mây xanh; đỉnh núi dường như được khoác một tấm áo choàng nắng mai óng ả, trở nên lấp lánh dưới ánh nắng chan hòa, và thấp thoáng phía xa hình như là một bức tượng Phật, một bức tượng Phật rất lớn...
 

hoahongden12

Active Member

Ở đây vừa không phát hiện thấy văn tự, cũng không phát hiện thấy những kí hiệu ngầm nào cả. Đây... lẽ nào mình phán đoán sai rồi? Hàn Giang bắt đầu nghi ngờ phán đoán của chính mình. Không, không thể như vậy được. Bức tranh kì lạ trên đá không ngừng hiện Lên trong đầu anh. Đôi mắt Hạo Vương chắc chắn có vấn đề!

1

Đường Phong không tin vào mắt mình, anh ra sức dụi dụi mắt, định thần nhìn lại. Đúng vậy, là một bức tượng Phật! ở vị trí mà hôm qua anh và Hàn Giang phát hiện thấy những cái cây xiêu vẹo, thấp thoáng hiện lên một bức tượng cao khoảng bốn chục mét.

“Tôi cũng trông thấy rồi, một bức tượng Phật, là một bức tượng Phật khổng lồ!”, Đường Phong hét thành tiếng.

Yelena, Makarov và Từ Nhân Vũ cũng nhìn thấy, đầu, vai, ngực, bụng, tứ chi, những đường nét của một bức tượng Phật dần dần hiện lên trên vách núi.

“Sao hôm qua lúc hai người đến không phát hiện thấy nó?”, Yelena ngẩng đầu nhìn lên hỏi.,

“Bị mấy cái cây trên vách núi che mất, hơn nữa pho tượng Phật bị phong hóa nghiêm trọng quá!”, Đường Phong nói xong liền nhặt một hòn đá vừa rơi xuống lên, “Mọi người xem, hôm qua tôi phát hiện ra địa chất ở đây không đủ rắn, cộng thêm ở đây gió to như vậy, nếu bức tượng Phật này được tạc từ thời Tây Hạ, thì đến nay cũng đã tới bảy tám trăm năm. Bao nhiêu năm mưa gió như vậy đã khiến pho tượng không còn trông rõ nữa.”

“Tôi thấy không chỉ có vậy!”, Từ Nhân Vũ đột nhiên nói, “Theo như tôi quan sát thì bức tượng Phật này năm đó được tạc không tỉ mẩn lắm, chỉ là những đường nét thô sơ, thậm chí, tôi nghi ngờ nó còn chưa được hoàn thành.”

“Có khả năng như vậy, cộng thêm bao năm mưa gió, nếu không nhìn kỹ thì sẽ không phát hiện ra trên vách núi có chạm khắc một bức tượng Phật khổng lồ!”, Hàn Giang nói xong lại khẽ lẩm bẩm, “Xem ra tôi chưa điên đâu!”

“Đúng! Anh không điên! Anh làm thế nào mà nhìn ra vậy? Lẽ nào là bởi cơn ác mộng đó?”, Đường Phong hỏi.

“Tôi không biết, tóm lại là sau khi nghe xong cơn ác mộng của cậu, tôi liền có một linh cảm mãnh liệt. Kết hợp thêm với tình hình ở đây thì tôi càng tin vào phán đoán của mình. Trước tiên, chúng ta đã đoán định được di chỉ trong rừng là ‘Hạ tự’ của chùa Hắc Thứu, vậy thì ‘Thượng tự’ rất có khả năng sẽ là ở đây. Ở đây xuất hiện hai chữ cái thời Tây Hạ, còn cả tượng võ sỹ kì lạ trong Phật tháp ở Hạ tự cũng góp phần chứng minh cho điều này. Hơn nữa, ở đây không có công trình nào, cũng không phù hợp cho việc xây dựng nhà cửa, vậy thì, tôi nghĩ rằng, nếu như ở đây không có cộng trình nào thì nhất định còn có ý đồ khác.”

Bởi vậy mà anh đã kết hợp với những cảnh tượng trong giấc mơ của tôi, nghĩ rằng đây chính là một di chỉ tế lễ?”

“Di chỉ tế lễ? Lẽ nào đây không phải là Phật tự ư?”, Hàn Giang không hiểu.

“Là Phật tự, cũng là di chỉ tế lễ. Tôi đã từng nói rồi, người Đảng Hạng sau khi lập nước Tây Hạ mới bắt đầu sùng bái tín ngưỡng Phật giáo, trước đó người Đảng Hạng theo tín ngưỡng tôn giáo nguyên thủy, cũng có nghĩa là sùng bái mặt trời, núi non, sông ngòi, cho rằng vạn vật đều có linh hồn. Sau đó người Đảng Hạng, dưới sự thống lĩnh của Nguyên Hạo, đã quật khởi mạnh mẽ kiến lập nên vương triều Tây Hạ, đồng thời chuyển sang tín ngưỡng Phật giáo, nhung việc thờ cúng từ thuở tổ tông nguyên thủy không thể nhất thời xóa bỏ hoàn toàn. Vậy là tầng lớp thống trị Tây Hạ đã kết hợp Phật giáo với tôn giáo nguyên thủy, và đây chính là một di chỉ như vậy. Mọi người nhìn xem, vị trí chỗ này vừa đúng quay về hướng đông, hướng đông cũng là hướng mặt trời mọc. Tượng Phật lại được tạc trên núi Hạ Lan, vì trong lòng người Đảng Hạng, núi Hạ Lan là một ngọn núi thần, có địa vị cao quý, bởi vậy Nguyên Hạo đã cho tạc tượng Phật ở đây, vừa để lễ Phật, cũng vừa là để tế lễ núi Hạ Lan, mặt trời và tổ tiên”, Đường Phong giải thích một hồi.

“Xem ra vào thời Tây Hạ, nơi đây là một đại công trình đấy!”, Từ Nhân Vũ thán phục.

“Đúng vậy! Lúc đó chắc chắn là một công trình hạng mục quốc gia, như vậy thì có thể giải thích tại sao Nguyên Hạo đã không tiếc tiền của để xây dựng, tôn tạo một khu Phật tự quy mô to lớn trong núi sâu thế này, nên mặt phẳng và bậc thang đá cũng đều có đất dụng võ, thậm chí hoàng thất Tây Hạ, bao gồm cả bản thân Nguyên Hạo cũng đã từng tới đây tế lễ!”, Đường Phong thao thao bất tuyệt.

“Cậu nói rằng Nguyên Hạo đã từng tới đây tế lễ?”, Hàn Giang đột nhiên hỏi Đường Phong.

“Đúng vậy! Đây là tự viện hoàng gia, vốn dĩ là để hoàng thất dùng tế lễ mà.”

“Khà khà, nhưng không hiểu sao tôi lại thấy bức đại tượng Phật này chính là Nguyên Hạo! Ông ấy không thể tự mình quỳ lạy mình chứ?”, Hàn Giang cười nói.

“Ý anh là pho tượng được tạc thành dựa trên tướng mạo của Nguyên Hạo?”, Đường Phong nghe Hàn Giang nói mà có chút kinh ngạc.

“Thôi đi, bức tượng Phật khổng lồ này đã bị phong hóa đến mức này rồi, mặt mũi cũng không trông thấy rõ nữa, hơn nữa, anh sao biết được Nguyên Hạo trông thế nào?”, Từ Nhân Vũ chen vào phản bác Hàn Giang.

“Đúng vậy! Ở đây làm sao mà nhìn ra được là tượng Phật được tạo nên theo tướng mạo của Nguyên Hạo?”, Yelena cũng không hiểu.

“Hàn Giang nói vậy đã nhắc nhở tôi, không phải là không thể có khả năng này!”, Đường Phong ngẫm nghĩ một lúc rồi giải thích: “Những đế vương thời Trang Quốc cổ đại khi xây chùa trong hang đá, nhất là tạc tượng Phật, đều dựa vào dung mạo của mình để tạc, giống như ‘Đàm diệu ngũ quật’ của chùa trong hang đá Vân Cương cũng dựa vào dung mạo của năm vị hoàng đế bắc Ngụy mà tạc nên; còn ‘Lư xá na đại Phật’ của chùa trong hang đá Long Môn lại dựa theo dung mạo của Võ Tắc Thiên để tạc thành. Đế vương đều hi vọng mình sẽ biến thành hóa thân của Phật, để người trong thiên hạ quỳ lạy. Bởi vậy, lúc Ncuyên Hạo cho tạc bức tượng Phật khổng lồ này rất có khả năng là cũng dựa vào dung mạo của mình.”

“Đường Phong nói cũng có mặt đúng, nhưng tôi lại nhìn ở phương diện khác!”, Hàn Giang cười, nói.

“Ồ? Vậy anh nhìn nhận thế nào?”, Đường Phong không hiểu ý Hàn Giang.

Hàn Giang cười cười: “Bởi vì hôm qua tôi vừa mới trông thấy hình tượng này.”

Hàn Giang nói vậy khiến Đường Phong lập tức tỉnh ra: “Ý anh nói tới bức tranh trên vách đá?”

“Đúng! Người ở giữa bức tranh đó, cậu nói rằng đó chính là hình tượng của Nguyên Hạo, hôm nay lúc nhìn thấy bức tượng Phật khổng lồ này, tôi liền thấy nó có nét giông giống.”

“Nếu như bức tượng Phật khổng lồ này thực sự được tạc theo dung mạo của Nguyên Hạo, vậy thì nó sẽ có ba hàm ý: thứ nhất là tượng Phật, thứ hai là để thỏa mãn sự sùng bái nguyên thủy của người Đảng Hạng với núi Hạ Lan, thứ ba là Nguyên Hạo đã hòa nhập hình tượng của mình với hình tượng thần thánh, để đạt được mục đích người Đảng Hạng mãi mãi sùng bái mình!”, Đường Phong nói.

“Cũng có nghĩa là người Đảng Hạng ở đây vừa bái Phật, cũng là vừa bái thần núi và còn bái cả Nguyên Hạo!”, Yelena rốt cuộc cũng đã hiểu ra.

“Nghĩ mà xem, cảnh tượng đó mới hùng vĩ làm sao!

Mặt trời mới mọc, giống như hôm nay vậy, Nguyên Hạo hóa thành hình tượng Phật, hòa vào núi Hạ Lan, nhìn ngắm vô số những người Đảng Hạng quỳ lạy trên nền đá này.”

Hàn Giang vừa nói dứt lời, thì đột nhiên từ trên núi lại rơi xuống một ít đá vụn.

2

Lần này đá rơi nhiều hơn những lần trước, một hòn đá khá to lao thẳng về phía Đường Phong. Anh vội né người một cái, suýt thì ngã nhào.

Hòn đá đó vừa vặn lăn tới mép vực núi thì dừng lại.

Đợi hòn đá dừng lại, Đường Phong mới quay lại nhìn bức tượng Phật khổng lồ, anh phát hiện ra trên tai tượng Phật khuyết mất một mảng.

Hàn Giang cũng để ý thấy vậy, ban nãy tai tượng Phật vẫn còn nguyên vẹn, sao bây giờ lại biến đi đâu mất?

Lẽ nào chính là hòn dá rơi xuống ban nãy?

Đường Phong và Hàn Giang gần như cùng lúc lao tới bên vách núi, nhặt hòn đá đó lên, rồi lại ngẩng lên nhìn tượng Phật, đối chiếu với phần mặt của tượng Phật, cuối cùng -xác định: hòn đá đó chính là một phần của dái tai tượng Phật. “Bức tượng Phật này mà không được tu sửa lại thì tôi thấy cũng không duy trì được bao lâu nữa đâu!”, Đường Phong nói.

“Đó là chuyện sau này. Thử xem trên hòn đá này có để lại vết tích gì cho chúng ta không!”, nói xong, Hàn Giang liền ôm hòn đá to gấp ba lần quả bóng rổ lên, lật lên xem một lượt. “Đúng là có vết tích để lại thật!”, Hàn Giang trông thì có vẻ bình tĩnh, nhưng giọng nói lại toát lên sự phấn khích.

Đường Phong cũng đã nhìn thấy, ở một cạnh hòn đá đó xuất hiện một hàng chữ Tây Hạ màu đỏ thẫm, chữ không to, chia thành hai phần trên, dưới. Anh khẽ dịch dòng chữ Tây Hạ đó ra, phần trên là năm chữ - “Nguyên Hạo Chân Thân Nhĩ’.

“Đúng với suy đoán của chúng ta ban nãy, bức tượng Phật khổng lồ này được tạc theo dung nhan của Nguyên Hạo!”, Đường Phong phấn khởi nói.

“Nguyên Hạo Chân Thân, vậy thì chữ ‘Nhĩ’ đó nghĩa là gì?”, Hàn Giang không hiểu.

“ ‘Nhĩ’ nghĩa là tai mà!”

“Phí lời, ý của tôi là: tại sao lại viết chữ này lên trên đó?”

“Một công trình to lớn như vậy, chắc chắn phải có rất nhiều thợ cùng lúc thi công, bởi vậy những người thợ thời xưa thường đánh dấu lên những vị trí mà mình phụ trách làm. Ví dụ, chỗ này là tai của tượng Phật, viết những chữ này lên thì những người thợ đều biết được vị trí mà mình phụ trách, vì có thể rất nhiều người cùng tạc một lúc.”

Xem ra lúc đó đã có quản lý công trình rồi. Vậy những chữ phía dưới thì sao?”, Hàn Giang lại hỏi.

“Phía dưới chính là hai chữ Tây Hạ mà chúng ta nhìn thấy hôm qua.”

“Thượng tự?”

“ừm, chính là Thượng tự.”

“Chỗ này lại xuất hiện ‘Thượng lự’, tượng trưng cho điều gì?”

“Không biết, nhưng ở đây giống hệt như hôm qua chúng ta nhìn thấy, bên cạnh ‘Thượng tự’ vẫn còn có một đường kẻ ngang.”

“Kẻ ngang?”, Hàn Giang giật mình.

“Anh nhìn chỗ này đi!”. Quả nhiên, dưới sự chỉ dẫn của Đường Phong, Hàn Giang phát hiện thấy bên cạnh vị trí của chữ ‘Thượng tự’, mặt bên hòn đá lại xuất hiện một đường kẻ ngang, chỉ có điều nó đứt quãng chính giữa hòn đá. Đường kẻ ngang này ngắn hơn đường kẻ ngang trông thấy hôm qua một đoạn.”

“Thượng tự à?”, Hàn Giang ngẩng đầu nhìn về phía tượng Phật, mắt anh bỗng sáng lên, “Đường Phong, cậu có còn nhớ bức tranh trên vách đá hôm qua không?”

“Tranh trên vách đá?”

“Lúc đó cậu giải thích nội dung của bức tranh đó, và không hiểu tại sao hình vẽ ‘Phật quốc’ và ‘Nhân gian’ trên bức tranh lại đảo ngược lại, khi vẽ trong mắt của Nguyên Hạo. Tôi nghĩ đây chắc là mật mã để hóa giải câu đố!”, Hàn Giang mạnh dạn suy đoán.

Đường Phong hình như đã hiểu ý Hàn Giang. Anh ngẩng đầu nhìn kỳ tượng Phật, rồi ngạc nhiên vui mừng nói: “Hình như phía đông nền đá có một đường bậc thang có thể leo lên trên tượng Phật”.

“Đáng lẽ chúng ta phải để ý từ sớm. Cậu xem, bắt đầu từ cánh tay trái bên phía đông của tượng Phật hướng lên trên, còn bên cạnh cánh tay trái có những bậc thang đá - không mấy bắt mắt, có thể leo thẳng lên vai tượng Phật, sau đó... cậu trông thấy chưa?”

Đường Phong nhìn theo ngón tay Hàn Giang chỉ thì phát hiện ra trên vách đá, ở chính ngay phía sau dái tai tượng Phật ban nãy bị rơi đá, hiện lên một dãy bậc thang. Những bậc thang đá này men theo vành tai dẫn thẳng lên đỉnh đầu tượng Phật...

3

“Chẳng có gì để do dự cả, theo đó leo lên thôi!”, Hàn Giang đã không đợi được nữa rồi.

“Nhưng không trông thấy phía dưới có bậc thang đá? Chúng ta làm thế nào để leo được lên vai tượng Phật?”, Đường Phong hỏi.

“Chắc chắn là bị những cái cây phía đông chặn mất rồi. Vì từ tay trái của tượng Phật lên đến đỉnh đầu, đều có bậc thang, vậy thì phía dưới cánh tay trái chắc chắn cũng có đường đi!”, Hàn Giang vô cùng tự tin nói.

Mọi người đều đi nhanh hơn, chẳng mấy chốc đã tới cuối đoạn phía đông của nền đá. ở đây mọc một bụi cây nhỏ, mà hôm qua Đường Phong và Hàn Giang đã kiểm tra qua, nhưng cho rằng không còn đường để tiếp tục đi về hướng tây nên đã quay lại.

Thế nhưng hôm nay, khi hai người chui vào bụi cây rậm rạp thì lại vô tình phát hiện ra trong rừng thấp thoáng có con đường mòn, chỉ có điều con đường này không dẫn tới phía đông vực thẳm mà ngoằn ngoèo dẫn lên trên.

“Xem ra đây chính là đường lên tượng Phật.”, Hàn Giang phán đoán

“Sao hôm qua chúng ta không phát hiện ra nhỉ?”, Đường Phong có chút bực dọc.

“Hôm qua đến tượng Phật chúng ta còn không phát hiện ra, thì làm sao nghĩ tới việc ở đây có con đường mòn lên núi”.

Hàn Giang vừa nói vừa theo sau Đường Phong chui vào trong ròng cây; đây là một khoảnh rừng thông không lớn lắm mọc bên vách vực thẳm. Sau khi mọi người rẽ qua một ngã rẽ thì Hàn Giang bỗng nhiên gọi Đường Phong lại: “Dừng lại!”

“Làm gì?”, Đường Phong không hiểu.

Hàn Giang bước nhanh, kéo Đường Phong lại, nói:

“Câu nhìn, vết chân…

Lúc này mọi người mới phát hiện thấy trên con đường mòn này, hóa ra đã xuất hiện một loạt dấu chân rõ nét. Hàn Giang tức tốc phán đoán những dấu chân này: “Đây là dấu chân của một người để lại”.

“Chỉ có một người?”

“Không phát hiện thấy có người thứ hai. Nhìn kích cỡ thì chắc là của một người đàn ông.”

“Người này có lẽ nào lại chính là người đã để lại ký hiệu đánh dấu trong rừng cây không nhỉ?”, Đường Phong hỏi.

“Rất có khả năng.”

“Stephen?!”, Đường Phong lại nhớ tới Fanny chết thảm dưới núi.

“Xem ra gã này đã đi trước chúng ta một bước, tìm thấy tượng Phật khổng lồ.”, Yelena nói.

“Hắn cũng phát hiện ra bí mật của tượng Phật trước chúng ta. Nếu không thì chẳng có ai đi cái đường mòn khúc khuỷu bên mép núi thế này đâu!”, Hàn Giang phán đoán.

“Stephen một mình hành động? Điều này không giống với cách làm việc từ trước đến nay của hắn.”, Đường Phong lắc đầu rồi tự phủ định đó chính là Stephen.

“Đừng quan tâm nhiều nữa, mọi người phải cẩn thận, tiếp tục tiến lên phía trước.”

Hàn Giang dặn dò xong, vượt lên đi đầu, Đường Phong bám sát theo sau. Chẳng mấy chốc, họ đã đi ra khỏi rừng cây, một dãy bậc thang đá khúc khuỷu cheo leo hơn đã hiện lên trước mắt mọi người.

Thang đá cheo leo xuất hiện bên cánh tay trái của tượng Phật, mọi người dùng cả tay cả chân, lần lượt leo lên thang đá. Thang đá vô cùng nhỏ hẹp, chỉ rộng khoảng 30 cen-ti-mét, nên mọi người đều phải ra sức lách người, áp sát người vào vách đá mới leo qua được.

“Thảo nào ở phía dưới chúng ta không phát hiện thấy thang đá, vì hẹp thế này cơ mà! Không biết ngoài những người thợ xây dựng tượng Phật ra, thì còn có ai đi qua đây nhỉ?”, Đường Phong vừa leo mà lòng vừa thấp thỏm không yên.

“Cảnh tượng trên này được đấy!”, Hàn Giang bỗng dưng thốt ra một câu chẳng liên quan.

“Anh vẫn còn tâm trạng nhàn hạ vậy sao!”

“Đây gọi là lạc quan!”

Hàn Giang đi đầu, nên vô cùng nguy hiểm, vì vừa phải cẩn thận dưới chân, vừa phải đề phòng bên trên có cái gã bí ẩn đó đột ngột xuất hiện. Tim anh lúc nào cũng treo ngược lên, cho tới khi họ bình yên leo lên cánh tay trái của bức tượng mới thôi.

Hàn Giang thở phào một cái, nhìn ngắm cảnh vật tuyệt đẹp dưới núi, rồi lại ngước nhìn lên đầu tượng Phật.

Đứng ở vị trí này chỉ có thể trông thấy cạnh bên của phần đầu tượng Phật, nhưng lại giúp họ nhìn rõ hơn cấu tạo của tương Phật.

Hàn Giang phát hiện thấy trên vai tượng Phật có chất một đống đá vụn, còn có cả đất. Chỉ có mỗi chút đất như vậy mà vẫn có vài cái cây mọc xiêu vẹo trên đó.

Đường Phong nhặt một hòn đá lên, sau khi tỉ mỉ quan sát, anh nói: “Công trình năm đó hình như là chưa kịp hoàn thành thì đã kết thúc rồi.”

‘Sao anh biết?”

"‘Anh xem, một khối vật liệu được đặt ở đây mà vẫn chưa hề sử dụng!”, Đường Phong chỉ ọi người.

“Chưa từng sử dụng? Kì quái thật!”

Mọi người tạm nghỉ ngơi ở đây một lúc rồi tiếp tục men theo vành tai bên trái của tượng Phật leo lên trên. Ở đây cũng đục một đường cầu thang nhỏ hẹp, và lại là một đoạn khó leo trèo. Tới khi chính ngọ, Hàn Giang là người đầu tiên leo lên đỉnh cao nhất của tượng Phật.

4

Đỉnh đầu tượng phật bị một khoảng rừng cây ngăn cách hoàn toàn với đỉnh núi phía bắc cao chot vót. Mọi người đi một vòng trên này, chẳng thu hoạch được gì.

“Anh để bọn tôi tổn bao công sức leo lên đây, kết quả ở đây chẳng có gì cả?”-, Từ Nhân Vũ hỏi Hàn Giang.

Hàn Giang cũng có chút thất vọng, nhưng mục đích chính của anh không phải là ở đây. Đường Phong hiểu ý Hàn Giang, anh hỏi: “Anh nghi ngờ đôi mắt của tượng Phật phải không?”

“Không sai! Tôi tin rằng bức tranh trên đá đó chắc chắn có cất giấu chìa khóa để mở ra bí mật.”

“Nhưng quả thật tôi không nhìn ra mắt tượng Phật có phát hiện gì đáng kinh ngạc cả.”

“Được rồi, lao động vất vả, mệt nhọc, bẩn thỉu, một mình tôi sẽ ôm tất. Mọi người ở đây, một mình tôi xuống dưới!”, Hàn Giang vừa nói vừa móc dây thừng trong thắt lưng ra.

Hàn Giang buộc xong dây thừng, dáng vẻ oai phong lẫm liệt. “Tạm biệt nhé các đồng chí!”, nói xong, Hàn Giang xuống đến phần trán của tượng Phật, ở đây đã bắt đầu dốc xuống phía dưới, ban nãy không ai dám đi tới đây.

“Đợi đã!”, Đường Phong bỗng hét lên một tiếng, suýt làm Hàn Giang giật mình ngã nhào.

“Cậu hét cái gì thế hả?”, Hàn Giang kêu lên.

“Nhìn xem!” Đường Phong cúi người xuống, bên cạnh chân họ lại xuất hiện dấu chân rõ nét. Hàn Giang cũng vội vàng ngồi xuống kiểm tra, quả nhiên, vẫn là dấu chân ban nãy.

“Xem ra cái gã bí ẩn đó cũng đến rồi, hắn cũng đã giải mã được bí mật của tượng Phật!”, lòng Hàn Giang bất giác chùng xuống.

Đường Phong lại đi về hướng tây tìm kiếm, vết chân ở đó còn rõ nét hơn, dày đặc. Đến khi anh leo tới phía trên mắt phải của tượng Phật thì phát hiện thấy dấu chân ở đây nhiều nhất, thậm chí còn có chút hỗn loạn.

“Xem ra người đó xuống dưới từ chỗ này!”, Đường Phong nói.

Ừm, đây chính là vị trí mắt phải của tượng Phật. Cậu CÓ còn nhớ mấy cái cây mọc nghiêng ngả hôm qua chúng ta nhìn thấy phía dưới không?”, Hàn Giang nhắc Đường Phong.

“Cây nghiêng ngả?”

“Ban nãy lúc ở dưới tôi đã xem kĩ rồi, mấy cái cây nghiêng ngả đó ở đúng mắt phải của tượng Phật. Hôm qua không phải cậu còn kêu toáng lên rằng tại sao trên vách đá trống huơ trống hoắc như vậy mà lại mọc được lên mấy cái cây đó sao? Hiện giờ tôi có thể nói chắc chắn với cậu rằng, bởi vì bên trong mắt Phật trống rỗng!”, Hàn Giang mạnh dạn suy đoán.

“Trống rỗng?”, tuy Đường Phong đã đoán được dụng ý khi Hàn Giang leo lên đây, nhưng vẫn rất ngạc nhiên trước suy đoán táo bạo này của anh.

“Đúng vậy, chính vì trong mắt tượng Phật trống rỗng nên mới đem lại chút đất và dưỡng chất ấy cái cây nghiêng ngả đó mọc lên.”

“Như vậy thì thần kì quá. Lẽ nào... lẽ nào bên trong có để kệ tranh ngọc mà chúng ta cần tìm?”

Lúc nghe thấy kệ tranh ngọc, Hàn Giang bỗng im lặng, mãi sau mới nói: “Nếu là như vậy thì không ổn rồi, có người đã nhanh chân hơn chúng ta!”

“Người này rốt cuộc là ai? Tài cán lắm mới bí mật hành động không lộ diện như vậy! Nếu hắn đoạt được kệ tranh ngọc trong mắt Phật thì sẽ đi đường nào? Còn nữa, ở đây phát hiện thấy lưỡi móc, vậy còn dây thừng đâu?”, Đường Phong thốt ra một loạt câu hỏi.

“Tạm thời không quan tâm nhiều như vậy, xuống dưới xem rồi tính tiếp!”

Đường Phong không tiện nói thêm gì nữa, đành gấp rút chuẩn bị giúp Hàn Giang leo xuống dưới. “Dùng cái lưỡi móc này sao?”, Đường Phong hỏi.

Hàn Giang thử thử chiếc móc sắt đó, rồi lắc đầu, nói: “Không được! Tuy chiếc móc câu này nhìn có vẻ kiên cố nhưng cấu tạo địa chất ở đây rất yếu, không an toàn, vẫn phải móc bằng một cái khác.”

Mọi người cùng nhau động tay động chân, nên chẳng mấy chốc đã có một chiếc đinh móc chắc chắn. Hàn Giang buộc dây thừng quanh lưỡi móc, rồi quẳng một đầu dây thừng cho hội Đường Phong để họ đứng phía trên tóm chặt.

Hàn Giang buộc đầu dây thừng còn lại thật chặt lên người, sau đó tụt xuống dưới. Dây thừng được thả xuống từng đoạn từng đoạn một, anh dần dần xuống tới mắt phải của tượng Phật - đôi mắt của Nguyên Hạo. Anh quan sát tỉ mỉ mắt phải của tượng Phật ở cự ly gần, chẳng có điểm gì đặc biệt. Ở đây vừa không phát hiện thấy văn tự, cũng không phát hiện thấy những kí hiệu ngầm nào cả. Đây… lẽ nào mình phán đoán sai rồi? Hàn Giang bắt đầu nghi ngờ phán đoán của mình. Không, không thể như vậy. Bức tranh kì lạ trên đá không ngừng hiện lên trong đầu anh. Đôi mắt Hạo Vương chắc chắn có vấn đề!

Anh thò tay phải, ra sức đẩy đẩy vách đá trước mặt, cũng chính là mắt phải của tượng Phật, vách đá không chút động đậy, không có bất cứ phản ứng gì. Từng giây, từng phút trôi qua, Hàn Giang vẫn không tài nào có thể lấy thực tiễn để chứng minh cho phán đoán của mình. Anh càng thêm thất vọng, nhưng bản đồ trong bức tranh trên đá, rồi cả dấu chân thần bí, thang đá, đinh móc... tất cả những thứ này không ngừng xuất hiện trong đầu anh.

Phía trên vang lên tiếng Đường Phong gọi, Hàn Giang biết rằng mình đã ở dưới này quá lâu rồi, nên anh quyết định làm nốt điều cuối cùng. Đôi chân anh nhấc lên khỏi vách đá, lơ lửng trên không trung, sau đó, anh dốc hết sức lực toàn thân, mượn sợi dây thừng lắc qua lắc lại, lao thẳng về phía mắt phải của tượng Phật. Chính trong khoảnh khắc này, nhanh như tia chớp, sau một tiếng động lớn, mắt phải của Nguyên Hạo đã bị cơ thể rắn chắc của Hàn Giang tách mở ra.

5

Một cửa hang tối om hiện lên trước mắt Hàn Giang. Anh vội vàng muốn lao ngay vào cái thế giới chưa hề biết tới này, nhưng lý trí bảo anh rằng vẫn không thể làm như vậy được. “Kéo tôi lên!”, Hàn Giang hét lên.

Mọi người cùng dốc sức, nên chẳng mấy chốc đã kéo được Hàn Giang lên. Hàn Giang mặc cho cơ thể đang đau nhức, phấn khởi hét lên: “Mắt... mắt Hạo Vương... mở ra rồi, tôi đã mở được mắt của Hạo Vương rồi!”

“Cái gì? Bên trong có gì vậy?”, Đường Phong vội vàng hỏi.

“Không biết! Bên trong rộng hơn tôi tưởng tượng! Hiện giờ tôi chỉ trông thấy một cửa hang tối om sâu hun hút.”

“Thần kì quá! Trong mắt Hạo Vương đúng là có cất giấu mật

“Không phải mật mã, là cái động tối, một cửa hang thần kì!”, Hàn Giang đã bình tĩnh trở lại, kìm nén sự phấn khích trong lòng: “Chúng ta phải tổ chức người xuống đó!”.

“Vậy thì đương nhiên không thể thiếu tôi được!”, Đường Phong tự mình đề xuất.

“Đưa tôi đi cùng! Biết đâu tôi lại giúp gì được cho các cậu”, Makarov cũng muốn xuống đó.

Mọi người thương lượng một hồi, cuối cùng Hàn Giang quyết định, ba người gồm Đường Phong, lão Mã và mình sẽ xuống đó. Yelena và Từ Nhân Vũ sẽ ở lại bên trên để tiếp ứng.

Hàn Giang sắp xếp xong mọi việc, chuẩn bị xuống dưới, nhưng đột nhiên Đường Phong nhớ ra điều gì đó:

“Mắt phải của tượng Phật có thể mở ra, vậy còn mắt trái thì sao?”

“Mắt trái?!”, chẳng ai nhớ tới vấn đề này, mọi người phát hiện thấy móc câu nên hiển nhiên cho rằng gã bí ẩn đó xuống phía dưới tượng Phật từ mắt bên trái.

Hàn Giang ngẫm nghĩ, nói: “Không, phải là mắt phải.”

. “Lẽ nào chỉ dựa vào một cái móc câu thôi sao?”, Đường Phong hỏi lại.

“Đừng quên đôi mắt của Nguyên Hạo trong bức tranh trên vách đá. Trong bức tranh đó, mắt phải của Nguyên Hạo là hình Phật quốc, mắt trái là hình nhân gian, đồ vật quý báu mà chúng ta cần tìm chắc chắn là ở trong Phật quốc.”

Những gì Hàn Giang nói hình như cũng có lý, Đường Phong vẫn đang suy ngẫm thì Hàn Giang lại bổ sung thêm: “Hơn nữa, nếu như cái hang ở trong mắt phải không thông được tới đâu thì chúng ta có thể thử đến mắt trái. Hiện giờ mắt phải đã mở ra rồi, nên chúng ta phải vào đó xem thế nào đã.”

Đường Phong không nói thêm gì nữa, vậy là, Đường Phong, Hàn Giang và lão Mã, ba người lần lượt tụt xuống phía dưới vị trí mắt phải tượng Phật, chui vào trong hang động tối om đó.

Nhờ ánh nắng chiếu vào cửa hang, Đường Phong kiểm tra cửa hang này. Trên vách đá chi chít những đấu vết đục đẽo, đây rõ ràng là hang động nhân tạo, cho dù là hang động tự nhiên đi chăng nữa thì cũng được con người tu sửa qua, hơn nữa, vách động trơn bóng, có thể thấy năm đó được đục đẽo tỉ mỉ đến thế nào.

Hàn Giang đi trước, lão Mã theo sát phía sau, Đường Phong đi sau cùng. Ba người cẩn thận, rón rén đi vào bên trong được hơn chục bước. Con đường hình mái vòm rất bằng phẳng, Đường Phong không khỏi thốt lên: “Không hổ danh là công trình quốc gia, hồi ấy mà đã có thể đục đẽo bằng phẳng thế này chứ!”

Ai ngờ, Đường Phong vừa mới dứt lời thì sau lưng Vang lên một tiếng động lớn, rồi ngay sau đó hang động liền chìm trong bóng tối.

“Mẹ kiếp! Đường Phong cậu làm cái gì vậy? Sao cổng đá lại đóng vào rồi?”, Hàn Giang đi trước hét lên."tỉạ

“Tôi... tôi chẳng làm gì cả!”, giọng Đường Phong lúc này giống như vừa bị thầy giáo quở trách vậy, giống như cậu học sinh tiểu học đang đầy oan ức.

“Cậu chẳng làm gì cả vậy tại sao cổng đá lại đóng lại?”, Hàn Giang tức tối hùng hổ chất vấn.

“Đúng thật là tôi chẳng làm gì cả mà, tôi chỉ thốt lên khen đúng một câu là hang động này xây đẹp, sau đó... sau đó cổng đá liền đóng lại”, mặt Đường Phong đầy vẻ vô tội.

“Ai bảo cậu khen với ngợi cơ chứ, giờ thì hay rồi, chúng ta bị nhốt trong này rồi!”, Hàn Giang đã bật đèn pin lên, một luồng ánh sáng chọc thủng bóng đêm không đáy.

Hàn Giang cầm đèn pin quay lại phía sau cánh cổng đá, cẩn thận kiểm tra vách đá xung quanh. Trên vách đá bằng phẳng, chẳng có gì cả, ngoài vách đá ra chỉ là vách đá, xung quanh toàn đá là đá. Hàn Giang ra sức dùng nắm đấm đấm lên vách đá bên cạnh cổng đá nhưng rốt cuộc chẳng có phản ứng gì cả.

“Mẹ kiếp, mắt Hạo Vương nhắm mở chẳng có quy luật gì cả!”, Hàn Giang vẫn chưa hết bực mình, lại quát Đường Phong: “Câu nói của cậu được quá đấy, giống hệt cái cánh cổng vừng ơi mở ra. Cậu giỏi thì nói lần nữa xem nào, để cửa mở ra!”

Đường Phong chẳng nói lại được gì, Makarov dành phải khuyên hai người: “May mà Yelena và Từ Nhân Vũ ở ngoài, đừng lo. Chúng ta hãy tiếp tục tiến vào trong dò đường xem sao, việc này quan trọng hơn.”

Hàn Giang không nói năng gì nữa, hất hất tay, chuẩn bị đi tiếp, nhưng lần này nói thế nào Đường Phong cũng không chịu đi cuối. Hàn Giang lại nổi cáu: “Mới nói cậu vài câu mà đã tỏ thái độ! Được rồi, nếu cậu muốn đi đầu thì lên mà đi đầu, để tôi xem nếu gặp yêu tinh ma quỷ gì thì cậu đối phó thế nào!”

Vậy là, hai người hậm hực này đổi chỗ cho nhau, Đường Phong đi đầu, ba người tiếp tục tiến lên phía trước. Đường Phong âm thầm đếm số bước chân đi, rồi còn khắc cả kí hiệu hình quả trám lên vách đá. Sau khi đi được khoảng hai trăm bước, ba người rốt cuộc đã tới một con đường nhỏ hẹp, đến trước một gian sảnh. Sảnh này hình vuông, không rộng lắm, chỉ hơn hai chục mét vuông, trong sảnh chẳng có gì cả. Hàn Giang chẳng mấy hứng thú, đảo mắt một vòng rồi định bỏ đi. Nhưng Đường Phong lại phát hiện ra hai mép bên của gian sảnh hình vuông đều có một gian thờ trên vách đá, anh suy đoán một lúc, nói: “Hai gian thờ này là nơi dùng để đặt đèn dầu. Tuy hiện giờ chúng ta mới chỉ đi được một đoạn ngắn nhưng đã có thể nhìn thấy quy mô hoành tráng của công trình này, xây dựng tinh xảo.”

“Thôi đi, nhanh chóng lên đường thôi!”, Hàn Giang thúc giục.

Phía sau gian sảnh hình vuông này có một cửa hang giống hệt như cửa hang thông với đường đi lúc đến, ngoài ra không còn đường nào khác. Đường Phong chui ngay vào cái hang này. Điều khiến anh cảm thấy ngạc nhiên là đường đi trong cửa hang này không bằng phẳng giống như ban nãy, mà là một dãy bậc thang đá hướng thẳng lên trên.

6

Ba người bắt đầu leo lên bậc thang đá. Lúc mới bắt đầu, thang đá vẫn còn được coi là bằng phẳng, cứ cách chín bậc cầu thang lại có một mặt phẳng, nhưng càng đi tiếp thì thang đá càng cheo leo, mặt phẳng giữa những bậc thang cũng không còn. Đường Phong thấy ngạc nhiên ở chỗ, vách đá bằng phẳng đã không thấy đâu nữa, vách đá ở hai bên bậc thang vô cùng thô ráp, hình như chưa được mài qua.

Trên những bậc thang đá dài dằng dặc trong núi, ba người thở hổn hển, chỉ tập trung vào việc leo lên trên. Đường Phong không biết những bậc thang đá này sẽ dẫn tới đâu, nhưng nhìn địa hình thì giống như đang leo lên núi.

Lúc này, họ đang ở trên đỉnh núi phía bắc.

Trong lúc Đường Phong đang suy nghĩ lung tung thì những bậc thang đá dưới chân lại có sự thay đổi, những bậc thang đá kéo dài mãi lên trên bắt đầu hướng xuống dưới, Hàn Giang và Makarov cũng để ý thấy sự biến đổi này. Hàn Giang gọi Đường Phong lại: “Nghỉ ngơi chút trước đã, thế này là thế nào? Leo lên trên bao lâu như vậy rồi sao giờ lại đi xuống dưới?”

Đường Phong nhìn về phía trước, những bậc thang đá âm u đang trải dài xuống dưới, thật không thể hiểu nổi!

“Tôi cảm giác chúng ta đang đi vòng quanh núi!”, anh thở hổn hển nói.

“"Các cậu có để ý thấy không, kể từ sau khi chúng ta phát hiện thấy cái đinh móc đó, thì cũng không phát hiện thấy bất cứ dấu vết nào của gã bí ẩn đó nữa, hắn ta cứ như biến mất vậy!”, Makarov vốn suy nghĩ thấu đáo bỗng nhiên nhắc nhở.

Hàn Giang cũng giật mình: “Đúng vậy, cả đường đi tôi cũng quan sát vách đá, nhưng không có bất cứ dấu hiệu nào cả, ký hiệu hình tam giác cũng không xuất hiện nữa.”

“Tôi thấy điều này không bình thường. Ở trong rừng sợ lạc đường, phải đánh đấu. Ở những chỗ như thế này thì càng cần phải đánh dấu chứ!”, Makarov nói.

“Tính mà xem, cả đoạn đường chúng ta đi vào đây cũng chẳng gặp ngã rẽ nào, thì cần gì phải đánh dấu? Hãy khẩn trương đi tiếp thôi!”, Đường Phong thúc giục.

Chẳng còn cách nào khác, ba người tiếp tục bước tiếp. Thang đá hướng xuống dưới có khoảng năm sáu chục bậc. Khi bàn chân Đường Phong bắt đầu chạm lên bề mặt bằng phẳng thì anh phát hiện ra mình đã đến một lối đi còn rộng rãi hơn. Vách đá hai bên lối đi cũng không bằng phẳng lắm, nhưng có thể nhìn rõ vết đục đẽo trên đó. “Như vậy nói lên điều gì?”, Hàn Giang có đôi chút không hiểu.

“Cho thấy ở đây đã từng có bàn tay con người mài giũa, nhưng tiêu chuẩn xây dựng không bằng lối đi ban nãy!”, Đường Phong suy đoán.

Ba người đi theo lối đi rộng rãi này tiến về phía trước, nhưng vấn đề chẳng mấy chốc lại đến rồi, lối đi này hình như không phải là đường thẳng. Đường Phong cảm giác lối đi rõ ràng là quanh co, may mà không xuất hiện ngã rẽ.

“Đừng xuất hiện ngã rẽ! Đừng xuất hiện ngã rẽ! Ngã rẽ là ảo! Ảo!”, miệng Đường Phong lẩm bẩm. Không biết là lời cầu khấn của anh linh nghiệm hay là do số phận an bài, họ không gặp phải ngã rẽ nào thật. Ba người cứ như vậy tiến vào lối đi rộng rãi này, mãi cho đến khi phía trước xuất hiện một vách đá nhẵn nhụi và kiên cố.

7

Ba người chầm chậm bước tới vách đá khổng lồ trước mặt. “Đây là thế nào? Lẽ nào kết thúc như thế này ư?”, Hàn Giang hét lên, giọng anh vang ong ong trong lối đi, vọng ra tiếng vọng khá lớn.

“Không! Không thể! Ở đây chẳng có gì cả, công trình vĩ đại thế này lẽ nào đến đây là đột ngột kết thúc?”, Đường Phong cũng không sao chấp nhận được sự thật này.

“Chúng ta thử đẩy vách đá xem sao!”, trong lúc nước sôi lửa bỏng này vẫn chỉ có Makarov giữ được bình tĩnh.

Vậy là ba người dàn hàng ngang trước vách đá, dốc hết sức, cùng đẩy tảng đá trước mặt. Nhưng sau vài lần dốc sức tới mức cả ba cùng kiệt quệ sức lực, mà vách đá cũng không hề nhúc nhích.

“Lẽ nào vách đá này là điểm cuối cùng thật ư?”, Makarov cũng bắt đầu mất niềm tin.

Hàn Giang cũng kiểm tra qua vách đá trước mặt, nhưng không phát hiện ra manh mối gì. Đường Phong thất vọng ngồi bệt xuống phía dưới vách đá, miệng lẩm bẩm: “Có lẽ ngay từ đầu chúng ta đã sai rồi, ngay từ đầu đã sai rồi!”

“Cậu nói cái gì vậy? Cái gì mà ngay từ đầu đã sai rồi?”, Hàn Giang chất vấn Đường Phong.

“Ý tôi là, chúng ta không nên mạo hiểm vào đây từ mắt Hạo Vương. Năm đó Hạo Vương không tiếc công sức, nhân lực, của cải vật chất để xây dựng nên công trình vĩ đại thế này, thì chắc chắn ông ta không thể cho phép người ngoài tùy tiện xông vào thế này được.”

“Ý cậu là…”

“Ý tôi là cũng nên đi qua mắt trái của Hạo Vương, thử xem đằng sau mắt trái là cái gì rồi hãy tính tiếp!”, Đường Phong oán thán.

“Giờ thì cậu nói những thứ đó còn ích gì nữa?”, Hàn Giang đáp lại không chút hảo khí.

“Tôi cũng đang nghĩ, quả thực có lẽ chúng ta không nên mạo hiểm vào đây. Ban nãy trong lối đi rộng rãi này, tôi cũng đã quan sát kĩ, không thấy xuất hiện dấu tích nào của gã bí ẩn đó!”, giọng Makarov đầy chán nản.

“Nếu đã vậy rồi thì chúng ta theo đường cũ quay về thôi. Không phải cả đường đi chúng ta đều đã đánh dấu rồi độ. sao, quay về trước đã rồi tiếp tục khám phá mắt trái của Hạo Vương. Tôi phải tìm xem phía sau đôi mắt của Hạo Vương rốt cuộc cất giấu bao nhiêu bí mật!”, Hàn Giang vẫn cứng giọng.

Ba người bàn bạc một hồi, cũng đành phải vậy.

Đường Phong xốc lại tinh thần, bắt đầu men theo đường cũ quay về, anh dựa theo kí hiệu đánh dấu lúc đến để quay lại.

Vẫn chính lôi đi rộng rãi này, nhưng ba người đi hơn nửa tiếng đồng hồ mà vẫn chưa trông thấy điểm cuối của những bậc thang đá đâu cả.

“Không đúng! Chắc chắn chúng ta đi sai rồi!”, Hàn Giang dừng lại, “Tôi tính toán sơ thì từ thang đá xuống đây, đi vào lối này, đi thẳng tới vách đá đó, nhiều nhất cũng chỉ mất hai mươi phút. Nhưng hiện giờ chúng ta đã đi hơn nửa tiếng đồng hồ rồi mà vẫn ở trong lối đi này. Chắc chắn chúng ta lạc đường rồi!”

“Thế... thế là thế nào? Lối đi này làm gì có ngã rẽ!”, Đường Phong cũng cảm thấy không bình thường.

“Những kí hiệu cậu đánh dấu trên đường đâu?”, Hàn Giang chất vấn Đường Phong.

Đường Phong nhìn xung quanh, bước nhanh vài bước, chỉ lên kí hiệu hình quả trám trên vách đá nói: “Đây! Đây chính là kí hiệu mà tôi đánh dấu. Tôi đi theo kí hiệu đánh dấu mà.”

“Đúng là có gì đó quái dị, cả đường đi tôi cũng quan sát kí hiệu mà Đường Phong để lại, chúng ta cũng dựa vào đó để đi nhưng lại không ra ngoài được!”, Makarov cũng choáng váng.

“Chắc chắn có vấn đề ở đâu đấy! Đường Phong, cậu nghĩ kĩ lại xem, hình quả trám trên vách đá có phải do cậu khắc, không vậy? Đừng để xảy ra tình trạng giống như ở trong rừng đấy!”, Hàn Giang gào lên.

Đường Phong dùng đèn pin kiểm tra mấy kí hiệu hình quả trám trên vách đá: “Không sai, đều là do tôi khắc, không thể nhầm được!”

“Vậy cậu có thể nói cho tôi biết thế này là thế nào không?”, Hàn Giang bắt đầu nổi nóng.

“Hàn! Bình tĩnh! Bất luận lúc nào cũng không được để mất phẩm chất cơ bản của một đặc công!”, Makarov vẫn là người bình tĩnh nhất trong số ba người, ít nhất cũng là từ biểu hiện bên ngoài cho thấy.

Đợi Hàn Giang bình tĩnh trở lại, Makarov đề nghị: “Tôi thấy như vậy nhé, chúng ta căn cứ theo kí hiệu mà Đường Phong đánh dấu tiếp tục tiến lên phía trước xem sao!”.

Cũng đành phải vậy, ba người tiếp tục đi theo lối đi này tiến về phía trước. Năm phút sau, rốt cuộc họ đã tới được điểm cuối của lối đi, thế nhưng xuất hiện trước mặt họ lại không phải là những bậc thang đá, mà là một vách đá khổng lồ không thể nào vượt qua được.
 

hoahongden12

Active Member

Trên vết thương tấy đỏ hiện lên một hình vẽ rõ nét, đó là một con chim ưng đứng trên mình con sói. Lẽ nào đây chính là kiệt tác mà Branch và Lý Quốc Văn năm dó dàng dao găm khắc lên người này?

1

Khi Đường Phong, Hàn Giang, Makarov, ba người lần nữa đối diện với vách đá khổng lồ, thì tất cả đều hoang mang bế tắc.

“Sao chúng ta lại quay về đây?”, tiếng kêu của Đường Phong đầy hoảng hốt.

“Lẽ nào chúng ta đã đi một vòng trong lối đi?”, Hàn Giang cũng một phen hoảng loạn.

“Không, sao có thể vậy được?”

. “Đó là vì trong lối đi có hai vách đá giống hệt nhau? Nhưng... không giống mà!”, Hàn Giang tự phủ định suy đoán của mình.

“Không thể là hai vách đá, chúng ta quay lại theo hướng cũ, đúng về lý thì phải cách vách đá này càng lúc càng xa mới đúng!”, Đường Phong suy đoán.

“Nhưng sự thật là chúng ta lại quay về đây!”

“Mọi người có chú ý thấy không, chúng ta đi trong lối đi này xem ra giống như đi theo một đường thẳng, nhưng thực ra lối đi này lại có độ cong!”, Makarov bỗng nhiên nói.

“ừm, cháu cũng đế ý thấy rồi. Nhưng cháu cho rằng độ cong này không lớn lắm, không đủ để chúng ta đi một vòng trong này”, Đường Phong dùng đèn pin soi về phía lối đi rộng rãi phía trước và phía sau.

“Lẽ nào... lẽ nào tính toán của chúng ta sai rồi ư?”, Makarvo nghi ngờ nói.

“Ý của bác là độ cong của lối đi này lớn hơn rất nhiều so với những gì chúng ta nhìn thấy, đến nồi chúng ta đã đi một vòng trong này?”, Đường Phong hỏi lại Makarov.

Makarov nói: “Chỉ là tôi nghi ngờ có khả năng này!”

“Nếu quả đúng như vậy thì cũng phải nhìn thấy bậc thang đá lúc chúng ta tới đây chứ, hoặc là một ngã rẽ nào đó mới đúng!”, Đường Phong phản bác lại suy đoán cíia lão Mã.

“Bởi vậy tôi cũng không có cách nào khác để xác định: rốt cuộc chúng ta đã xảy ra chuyện gì trong này.”

“Được rồi, bây giờ nói gì thì cũng đã muộn, tôi không muốn bị chết kẹt ở đây. Không còn cách nào khác, phải tiếp tục tìm đường ra!”, Hàn Giang chán nản nói.

Ba người đành phải quay lại, đi ngược lại hướng vách đá. Lần này họ đi rất chậm, cả ba chiếc đèn pin gần như cùng lúc soi khắp cả vách đá, tìm kiếm bất cứ vết tích nào đó có khả năng hữu ích.

“Nhất định phải để ý xem trên lối đi có cái hang nào không, ở đó có thể là ngã rẽ khiến chúng ta đi sai đường!”,

Hàn Giang nhắc nhở mọi nsười.

Cả ba người đều rất cẩn trọng, khó nhọc mò mẫm trong lối đi, nhưng hơn một tiếng đồng hồ sau, họ lại vẫn quay về vách đá phía cuối lối đi này.

2

Ba người lại lần nữa đối diện với vách đá khổng lồ, tất cả đều ngớ người ra. “Thế này là...”, Đường Phong cảm giác mình sắp suy sụp đến nơi.

“Xem ra kể từ lúc chúng ta tiến vào mắt phải của Hạo Vương là đã vào trong một mê cung khổng lồ rồi!”, Hàn Giang lẩm bẩm.

“Không! Kể từ khi chúng ta bắt đầu đặt chân tới núi Hạ Lan thì đã bước vào một mê cung khổng lồ rồi. Nhà trọ bí ẩn, rừng cây khiến người ta lạc đường, cái chết của Fanny, kền kền khổng lồ, bức tranh trên vách đá lúc ẩn lúc hiện, và cả bao nhiêu là dấu vết mà người bí ẩn đó để lại, cộng thêm cả cái mê cung trong núi sâu này nữa, tất cả những thứ này đều giống như một mê cung khổng lồ khiến chúng ta bị nhấn chìm trong đó!”, Đường Phong hồi tưởng lại từng cảnh tượng kể từ khi vào trong núi đến giờ.

Hàn Giang và Makarov cũng chìm trong suy tư. “Tất cả những điều này lẽ nào đều do Hạo Vương năm đó sắp đặt?”, sự khủng hoảng khủng khiếp bao trùm lấy Hàn Giang, khiến anh cũng bắt đầu nghi ngờ tất cả những điều này là do số phận đã định.

“Tôi không tin tất cả những thứ này đều là do cổ nhân mấy trăm năm trước sắp đặt, chắc chắn chúng ta đã rơi vào một vòng tròn luẩn quẩn!”, Đường Phong bỗng nhiên nói.

“Vòng tròn luẩn quẩn?!”, Hàn Giang và lão Mã đều ngạc nhiên. Tuy họ cũng nghĩ tới điều này nhưng khi Đường Phong thốt ra từ “vòng tròn luẩn quẩn” thì họ vẫn giật thót tim.

“Nghĩ mà xem, tại sao từ khi chúng ta vào trong mắt phải của đại Phật thì cũng không nhìn thấy ký hiệu đánh dấu của người bí ẩn đó nữa?”

“Tại sao?”, Hàn Giang và Makarov thực ra cũng đã nghĩ ra đáp án.

“Chỉ có một cách giải thích duy nhất, đó là người bí ẩn đó không vào trong mê cung. Hắn ta cố ý để lại lưỡi móc trên đỉnh đầu tượng Phật để dụ chúng ta vào trong cái mê cung này!”.

“Không... không thể tin được!”, Makarov nói.

“Đúng là không thể tin được, nhưng đây lại là sự thật!”. Đường Phong ngập ngừng một lúc rồi bắt đầu giải thích cho suy luận về ý nghĩ của mình: “Tôi luôn cảm thấy lần này chúng ta tới núi Hạ Lan, ngay từ đầu đối thủ cũ của chúng ta đã nhanh chân hơn rồi. Điều này có thể chứng minh qua nhân vật bí ẩn ở nhà trọ, cái chết của Fanny, kí hiệu hình tam giác trong rừng cây, còn cả lưỡi móc trên đỉnh đầu tượng Phật nữa’.

“Những thứ này tôi cũng sớm nhận ra rồi, bởi vậy mới cuống lên mà mắc sai lầm!”, Hàn Giang bắt đầu hối hận vì mình đã mạo nhiên tiến vào mắt phải của tượng Phật.

“Nhưng lần này đối thủ của chúng ta hành động rất khác so với từ trước tới nay!”, Đường Phong giải thích tiếp: “Trước tiên, cái chết của Fanny rất khả nghi. Fanny luôn kè kè như hình với bóng với Stephen, cái chết của cô ta rất tự nhiên khiến chúng ta liên tưởng tới Stephen, còn cả cái người chỉ thấy tiếng chưa thấy mặt bao giờ là Stechkin, giữa họ là mối quan hệ gì? Vì sao Fanny lại chết?”

“Trước đây tôi tưởng rằng bọn họ là một nhóm?”,

Hàn Giang nói.

“Trước đây tôi cũng nghĩ như vậy, nhưng hiện giờ tôi lại cảm thấy hình như không đơn giản như vậy đâu. Nếu chúng ta bị lừa vào đây, cũng có nghĩa là suy luận về âm mưu mà tôi nói thành hiện thực, thì đối thủ đó của chúng ta quả không đơn giản đâu.”

“Ý anh là chiếc móc sắt trên mắt phải tượng Phật là do nhân vật bí ẩn đó cố ý để lại để dụ chúng ta vào trong, khiến chúng ta chết kẹt trong này?”, Hàn Giang ngạc nhiên nói.

“Nếu là như vậy thì Yelena và Từ Nhân Vũ ngoài kia cũng lành ít dữ nhiều!”, Makarov không khỏi lo lắng cho Yelena.

“Còn nữa, trước đây Stephen để lại ấn tượng trong chúng ta là gã hữu dũng vô mưu, nhưng cái gã bí ẩn này lại cao tay hơn nhiều, không những việc gì cũng tính toán trước chúng ta, hơn nữa, tôi còn nghi rằng Fanny bị chính gã này giết!”, Đường Phong tiếp tục suy đoán.

“Fanny là đoi thủ của chúng ta, vậy gã bí ẩn đó giết chết Fanny rốt cuộc là giúp chúng ta hay là muốn hại chúng ta?”, Hàn Giang cũng có chút không hiểu.

“Tôi luôn cho rằng đối thủ của chúng ta không phải là hạng xoàng, chúng rất lớn mạnh, hơn nữa còn rất phức tạp”, Đường Phong nói.

“Nhưng tốc độ của chúng ta cũng rất nhanh rồi, tại sao bọn chúng lại đến đây trước chúng ta được nhỉ? Kể cả nội bộ của chúng ta có gián điệp đi chăng nữa, thì tốc độ của bọn chúng cũng không thể nhanh như vậy được!”, Hàn Giang vẫn không hiểu ra làm sao.

Đường Phong ngẫm nghĩ một hồi, nói: “Có lẽ vấn đề vẫn là nằm trên tấm bản đồ kho báu đó.”

“Chính là tấm bản đồ kho báu mà chúng ta nhìn thấy trong nhà trọ sao?”

“ừm, vòng tròn đỏ trên tấm bản đồ rất gần với vị trí của chúng ta hiện giờ, bởi vậy tôi nghi ngờ cái gọi là vòng tròn đỏ đó thực ra là ở đây - bên trong tượng Phật, chỉ có điều chúng ta đã tìm sai cửa vào!”, Đường Phong bỗng nhiên tư duy thông suốt, hình như anh cũng đã hiểu rõ mọi chuyện rồi.

“Cậu cứ nói quá, trên tấm bản đồ đó chẳng có mấy thông tin, cơ bản không thể xác định vòng tròn đỏ đó chính là chỗ này.”

“Nếu người khách ở phòng phía đông đó có liên quan tới cái chết của Fanny, thì cậu sẽ không nghĩ như vậy. Có mỗi một tấm bản đồ được coi là bản đồ kho báu thì chẳng có gì lạ, nhưng liên hệ giữa cái chết của Fanny và những gì hiện giờ chúng ta gặp phải thì cũng chưa đủ rõ ràng sao?”, Đường Phong bắt đầu cảm giác có chút khó thở, nên đành giữ hơi lại.

Hàn Giang trở nên trầm tư, anh cũng bắt đầu tán đồng quan điểm của Đường Phong:“Xem ra ngay từ ban đầu chúng ta đã bỏ qua rất nhiều thứ”.

“Trên tấm bản đồ kho báu đó chắc chắn vẫn còn thông tin gì đó đã bị chúng ta bỏ sót!”, Đường Phong nói.

Hàn Giang vừa nghe thấy vậy, liền định tìm bức ảnh mà anh đã chụp, nhưng bị Đường Phong ngăn lại: “Ngay từ đầu chúng ta đã không tìm ra, bây giờ bị mắc kẹt ở đây rồi thì tìm có tác dụng gì nữa?”

Đúng vậy, hiện giờ nói gì cũng muộn rồi. Ba người mệt mỏi rã rời, tuyệt vọng tựa vào vách đá...

3

Trong lối đi tối đen sâu hun hút, Makarov một mình cầm đuốc bước đi. Ông không biết lối đi này sẽ thông tới đâu, ông cũng không hiểu tại sao mình lại tới đây, là tới để

thám hiểm tìm kiếm văn minh bị thất lạc, hay là để đoạt được kho báu của Hạo Vương?

Cứ phư vậy ông không ngừng tiến lên phía trước, đột nhiên, trước mặt lóe lên một u hồn màu trắng, chặn đứng đường đi của Makarov! Makarov vô cùng hoảng sợ, lùi lại phía sau vài bước, dựa vào tường, thì lúc này mới đứng vững lại được. Ông nhìn lại u hồn trước mặt, miệng bất giác lẩm bẩm thốt ra cái tên: “Misha”.

U hồn Misha nhìn Makarov, và nói với ông bằng giọng khàn đặc: “Đi theo tôi!”, nói xong, Misha quay người tiếp tục đi vào sâu trong lối đi. Makarov không hiểu Misha muốn gì, chỉ thấy bước chân ông ấy nhẹ tênh, bước nhanh vào sâu trong lối đi hun hút, còn Makarov chỉ biết bám chặt theo sau. Nhưng Misha càng đi càng nhanh, Makarov không nói nửa lời... Rốt cuộc, sau khi Misha rẽ vào một ngã rẽ thì đã không thấy đâu nữa.I

Misha vĩnh viễn mất hút trong lối đi tối đen, xung quanh lại yên ắng như tờ. Makarov dừng lại, im lặng quan sát xung quanh. Đây là điểm cuối của lối đi, phía trước không còn đường đi nữa, xung quanh toàn là vách đá màu đen. “Misha đâu? Sao chớp mắt cái đã không thấy đâu nữa?”, Makarov nghi ngờ đi tới điểm cuối của lối đi, dùng đuốc soi lên khắp vách đá, bỗng phát hiện ra trên vách đá cuối đường đi có vài đường nét quái dị, còn có cả rất nhiều màu sắc còn sót lại. Ông tới gần vách đá, dưới ánh sáng của ngọn đuốc, ông mở to mắt, ông... ông lại trông thấy bức tranh đáng sợ đó...

“Không!... Không!”, Makarov hét lên một tiếng, và tỉnh dậy.

Đường Phong và Hàn Giang vội vàng đỡ ông dậy. “Sao thế? Lão Mã!”, hai người quan tâm hỏi han.

Lão Mã ngồi dậy, lúc này mới phát hiện ra ban nãy mình đã tựa vào vách đá ngủ thiếp đi. “Tôi mơ thấy ác mộng!”, ông muốn mình nhanh chóng bình tĩnh lại nên khẽ nói.

Nhưng khi Makarov hồi tưởng lại cảnh tượng trong giấc mơ thì ông bỗng giật thót tim. Ông đứng dậy, thẫn thờ nhìn vách đá đen sì sì xung quanh. Đường Phong và Hàn Giang không hiểu ông đang làm gì. Đột nhiên, thấy ông cầm đèn pin, lùi lại phía sau hơn chục bước, sau đó quay người lại, dùng đèn pin soi lên vách đá khổng lồ trước mặt.

“Lão Mã, bác đang làm gì vậy?”, Hàn Giang không hiểu.

“Vách đá này xuất hiện trong cơn ác mộng của tôi”, Makarov tập trung tâm trí nhìn vách đá trước mặt, nhưng ánh sáng phát ra từ đèn pin quá yếu.

“Vách đá và ác mộng của bác có liên quan gì tới nhau? Cháu thấy chắc là bác mệt mỏi quá rồi...”, Hàn Giang an ủi ông.

“Không!”, Makarov ngắt lời Hàn Giang, “Lẽ nào các cậu không cảm thấy vách đá này có chút quái dị sao?”

“Quái dị? Thì quái dị mà, sừng sững chặn đứng đường đi của chúng ta”, Hàn Giang nói không chút hòa khí.

“Ý tôi không phải cái đó...

“Có phải bác thấy vách đá này bằng phẳng hơn rất nhiều những vách đá xung quanh phải không?”, Đường Phong nhìn nhận ra chút vấn đề.

“ừ"m, Đường Phong cậu nói đúng đấy, ban nãy chúng ta chỉ chăm chăm tìm đường mà không quan sát kĩ vách đá trước mặt... nếu có được bó đuốc thì...”, Makarov nói tới đây, đột nhiên im bặt. Đường Phong để ý thấy, chính trong khoảnh khắc đó, đôi mắt ông bỗng mở to.

4

“Lão Mã, bác phát hiện thấy gì vậy?”, Đường Phong lập tức truy hỏi.

“Các cậu xem, trên vách đá có phải có tranh vẽ không?”, giọng lão Mã có chút run rẩy.

“Tranh vẽ?”, Đường Phong và Hàn Giang cùng lúc soi thẳng đèn pin vào vách đá trước mặt.

Dưới ánh sáng của ba chiếc đèn pin, trên vách đá khổng lồ thấp thoáng hiện lên vài đường nét nguệch ngoạc. Đường Phong di chuyển chầm chậm chiếc đèn pin trong tay, ánh sáng từ từ di chuyển, đường nét uốn lượn quanh co trải dài trên vách đá...

Đây là cái gì? Những đường nét trên vách đá rốt cuộc vẽ gì vậy? Độ đài của đường nét này vượt xa so với tính toán của Đường Phong, lẽ nào nét vẽ này vẽ kín cả bề mặt vách đá? Nếu như đây là một bức tranh trên vách đá, thì sẽ là một bức tranh khổng lồ! Trong lòng Đường Phong dự cảm đây sẽ lại là một phát hiện đáng kinh ngạc.

Để nhìn rõ hơn đường nét trên vách đá, Đường Phong bất giác lùi lại phía sau, rồi lại lùi lại khoảng chục bước nữa anh mới đứng lại. Hàn Giang và Makarov cũng lùi lại phía sau. Ba người lúc này đều mở to mắt.

“Là một bức tranh khổng lồ trên vách đá!”, Đường Phong reo lên.

“Tranh trên vách đá đều vẽ trên vách núi cao, sao lại xuất hiện trong hang động sâu hun hút thế này nhỉ?”, Hàn Giang cũng đã nhận ra bức tranh khổng lồ trên đá được vẽ bằng những đường nét màu đỏ thẫm trước mặt.

“Trong hang động sâu thế này mà vẽ tranh trên đá thì đúng là cho thấy đây là nơi rất quan trọng!”, Đường Phong suy đoán.

“Có lẽ là vậy, nhưng tôi vẫn chưa hiểu, bức tranh này vẽ gì vậy?”, Hàn Giang hỏi.

“Hình như vẽ một con sói, trên người sói có một con chim ưng, có thể không phải là chim ưng mà là kền kền cũng nên!”, Đường Phong đã nhìn ra được nội dung bức tranh.

“Sao cơ? Một con chim ưng đứng trên mình sói?”, Hàn Giang lập tức liên tưởng tới hình xăm xuất hiện nhiều lần trên người những gã áo đen.

“Đúng! Giống hệt như hình xăm trên người đối thủ chúng ta!”, Đường Phong cũng đã nghĩ tới hình xăm đó.

Trong lúc hai người nói chuyện, Makarov vẫn im lặng. Lúc Đường Phong quay lại nhìn Makarov thì thấy

ông đứng thẫn thờ trước vách đá, đôi mắt đầy hoảng loạn. “Lão Mã, bác sao vậy?”, Đường Phong hỏi.

“Sao... sao... lại như vậy được?”, Makarov tự mình lẩm bẩm bằng tiếng Nga.

“Lão Mã, có phải bác đã từng trông thấy bức tranh này rồi phải không?”, Hàn Giang bồng nhớ lại phản ứng kì lạ của lão Mã khi nhìn thấy hình xăm trên người gã áo đen ở thác nước.

Đường Phong cũng nhớ ra phản ứng lúc đó của lão Mã, khi nhìn thắy hình xăm trên người gã áo đen, cả hai đều nhìn ông chằm chằm, chờ đợi ông có thể giải tỏa nghi ngờ cho họ. Nhưng Makarov im lặng không nói, giống như càng chìm sâu trong ký ức vậy.

Hàn Giang chán nản, đành phải chuyển hướng sang Đường Phong: “Cậu xem bức tranh này có phải từ thời Tây Hạ không?”

Đường Phong tiến lại gần bức tranh, đưa tay phải ra, khẽ chạm lên những đường nét thần bí. Trong khoảnh khắc đó, một cảm giác kì lạ lan tỏa khắp cơ thể anh, theo phản xạ anh rụt tay lại: “Rất kì lạ, căn cứ vào phong cách của bức tranh này thì đúng là của thời kì Tây Hạ, nhưng đường nét trên mặt đá lại không phải là màu đỏ thẫm mà trước đây chúng ta nhìn thấy.”

Hàn Giang cũng đưa tay ra, chạm vào những đường nét trên vách đá, sau đó tỉ mỉ quan sát: “ừm, hình như màu sắc tươi hơn một chút, gần giống với màu đỏ hơn, nhưng có khả năng là do quá nhiều năm rồi nên màu sắc cũng không còn tươi nữa. Nhưng thời kì Tây Hạ không dùng màu sắc này để vẽ tranh trên vách đá sao?”

“Không chắc nữa...”, Đường Phong tiếp tục lần theo đường nét trên bức tranh để nhìn xuống dưới, ngón tay anh khẽ chạm lên những nét vẽ từ thời cổ đại này, đột nhiên, ngón tay anh dừng di chuyển: “Anh nhìn đây!”. Hàn Giang nhìn theo hướng ngón tay Đường Phong chỉ, phát hiện chỗ đường nét vốn là nét vẽ đơn, bỗng xuất hiện hai đường nét khác nhau.

“Thế này thì sao?”, Hàn Giang không hiểu ý Đường Phong.

Đường Phong tỉ mẩn quan sát một hồi, nói: “Điều này đã giải thích cho nghi vấn ban nãy của tôi. Anh xem nét vẽ ở đây bỗng chuyển thành hai nét, thực ra là vẽ làm hai lần, màu sắc của nét vẽ phía dưới chính là màu đỏ thẫm mà chúng ta trông thấy.”

Hàn Giang phát hiện ra ở đây quả thật xuất hiện hai nét vẽ, một nét là màu đỏ thẫm, còn nét kia màu đỏ tươi. Đường Phong lại tiếp tục giải thích: “Đường nét đỏ thẫm thì lâu đời hơn, chắc là vẽ từ thời Tây Hạ, còn đường nét màu đỏ tươi vẽ đè lên lại là do người đời sau dùng chu sa vẽ lại lần nữa, bởi vậy bây giờ mới thấy một bức tranh như vậy.”

“Cũng có nghĩa là đã có người vẽ lại lần nữa trên nền bức vẽ gốc?”

“Chính xác mà nói là tô lại lần nữa!”

“Đây là do ai làm? Sao lại phải làm vậy?”

“Tôi cũng không hiểu, ai lại làm như vậy nhỉ? Trong hang động sâu hun hút thế này thì hình như đâu có cần thiết phải làm thế?”, Đường Phong lắc đầu.

5

Hai người nghiên cứu hồi lâu bức tranh trên đá, mà đã khiến Makarov hoảng hốt, rồi quay lại nhìn ông, lúc này hình như sắc mặt ông cũng đã khá lên một chút. Đường Phong bước lại, hỏi ông: “Lão Mã, rốt cuộc là thế nào? Sao lúc bác trông thấy bức tranh này lại căng thẳng như vậy?”

Makarov cũng chầm chậm bước tới gần bức tranh trên vách đá, ngồi xổm xuống đất, nói: “Hàn Giang, cậu nói không sai, lần đó ở trong thác nước trong hang động của Thất Sắc Cẩm Hải, lúc tôi nhìn thấy hình xăm trên người gã áo đen đó, đã cảm thấy bất ngờ rồi. Sau đó, Yelena cũng nhìn thấy hình xăm này trên người mấy gã bị bắn chết ở Saint Petersburg, lại càng khiến tôi kinh ngạc hơn. Điều đó cho thấy những kẻ đối kháng với chúng ta đều đến từ một tổ chức bí ẩn, tổ chức này lấy hình xăm đó làm kí hiệu nhận diện. Hơn nữa, từ hình xăm giống hệt nhau trên người bọn chúng cho thấy, đây là một tổ chức rất quy mô, chặt chẽ.”

“ừm, chúng ta đã phát hiện thấy hình xăm giống hệt nhau trên người của những kẻ trong tổ chức này, từ đó có thể nhận định, đối thủ của chúng ta là một tổ chức rất chặt chẽ”, Hàn Giang ngừng lại một lúc, “Nhưng cháu không hiểu tại sao khi trông thấy hình xăm đó bác lại hoảng sợ như vậy?”

“Bởi vì tôi đã từng nhìn thấy hình xăm này, ban nãy trong cơn ác mộng cũng nhìn thấy hình vẽ đáng sợ này!”, Makarov nói.

“Bác đã từng trông thấy? Trước đây?”

“Đúng! Mấy chục năm trước. Các cậu có còn nhớ chuyến đi tới Mông cổ mà tôi đã từng kể với các cậu không?”

“Đương nhiên, căn cứ Tiền Tiến, Branch...”, hồi ức của Makarov lại trở về khu căn cứ Tiền Tiến trong sa mạc Gobi, đó là lần đầu tiên ông trông thấy kí hiệu kì lạ này...

Mùa hè nóng nực, sau một cơn bão cát, sa mạc Gobi cuồng nộ đã yên tĩnh trở lại, không khí vẫn còn dày đặc những bụi cát mịt mù. Makarov mở cánh cổng sắt của khu căn cứ, nhổ cát bụi đầy trong miệng ra.

“Mùa hè trên sa mạc khó ở giống hệt như mùa đông khắc nghiệt vậy!”, sau lưng vang lên giọng nói của Branch.

“Đúng vậy! Không biết những ngày tháng thế này bao giờ mới kết thúc nữa?”

“Nhẫn nại, chúng ta vẫn cần phải nhẫn nại!”, sau khi thốt ra một câu Branch bình chân như vại đi về phía ngoài khu căn cứ.

Lúc này Makarov chỉ muốn ở trong phòng, chẳng muốn làm gì cả, nhưng trách nhiệm đã thôi thúc anh phải tuần tra một vòng căn cứ, kiểm tra qua tình hình bị tổn thất.

Vẫn may! Chẳng có thiết bị quan trọng nào bị tổn hại, Makarov chầm chậm đi về phía những căn nhà mái tôn phía ngoài căn cứ. Sau khi anh và Branch tới căn cứ thì đã xậy dựng mấy căn nhà mái tôn xung quanh căn cứ để làm nơi trực ban cảnh giới, và có lúc cũng dùng để huấn luyện; đặc biệt là ở phía đông căn cứ, Branch đã xây dựng mấy căn nhà mái tôn, nói là để làm nơi huấn luyện. Makarov cũng không hỏi han gì, thậm chí sau khi căn cứ huấn luyện xây dựng xong, anh cũng chỉ tới đây vài lần.

Makarov chậm rãi bước tới dãy nhà mái tôn mới được xây dựng phía đông của căn cứ. Anh cũng không biết tại sao hôm nay mình lại hứng thú đội nắng gắt tới đây. Không biết từ bao giờ, bên ngoài dãy nhà mái tôn này đã giăng thêm một hàng rào dây thép gai và lưới sắt quây xung quanh dãy nhà mái tôn, chỉ để lại một lối đi để tiện ra vào.

Makarov tiến lại gần lưới sắt, bất giác cười nhạt, lòng thầm nghĩ: ở đây không bố trí vọng gác, thiết kế vòng dây thép gai này thì có ích gì?

Anh tới trước một căn nhà mái tôn khá rộng rãi, đây là một phòng làm việc, Branch thường đưa người tới đây để huấn luyện. Đột nhiên trong phòng vọng ra tiếng kêu thảm thiết khiến Makarov nổi cả da gà. Theo phản xạ, anh móc súng ra, căng thẳng bước tới phía cửa.

Khi Makarov định đấy cửa thì cửa bỗng tự bật mở, Branch mồ hôi mồ kê nhễ nhại bước ra. “Ban nãy xảy ra chuyện gì vậy?”, Makarov hỏi.

Branch gượng gạo, cười cười: “Chẳng có gì cả, các học viên đang chơi một trò chơi”.

“Trò chơi?”, Makarov nghi ngờ đẩy cửa ra, bước vào trong phòng thì trông thấy vài học viên để mình trần đang đè một học viên gầy yếu xuống. Lý Quốc Văn cầm đầu, đang cầm một con dao găm quân dụng nhỏ trong tay, đứng bên cạnh, đằng sau gáy của học viên gầy yếu đó đã bị rạch rách từ lúc nào, máu me be bét.

“Các cậu làm gì ở đây thế hả?”, Makarov thấy vậy liền nghiêm giọng hỏi.

Lý Quốc Văn rõ ràng bị bất ngờ nên có chút chột dạ: “Không, chẳng... chẳng, chúng tôi chỉ đang chơi một trò chơi thôi mà.”

Makarov đang định nổi cáu thì Branch phía sau chọc chọc anh. Anh không tiện quát ầm lên, đành phải theo Branch ra ngoài.

Trở về căn cứ, chưa kịp đợi Makarov mở miệng, Branch đã cười khan vài tiếng: “Anh ngồi văn phòng trong thành phố lâu rồi, nên không hiểu được nỗi khổ ở phía dưới; muốn huấn luyện tốt những người này mà không dùng đến chút thủ đoạn thì không được đâu. Hôm nay, tôi ác với họ một chút, thực ra là để cho họ tốt lên, tránh cho họ sau này không làm được việc, như vậy không những sẽ hỏng việc của chúng ta mà bản thân họ cũng đen đủi.”

“Nhưng anh làm như vậy đã được cấp trên phê chuẩn chưa?”

“Đừng ngốc thế nữa, mấy việc nhỏ này cấp trên từ trưởc tới nay đều biết mà như không biết, cấp trên có ý kiến của cấp trên, cấp dưới có biện pháp của cấp dưới!”, Branch hùng hồn trả lời.

Makarov cũng hiểu rằng, tình trạng phạt bằng cách đày đọa thể xác trong KGB không thể mình anh thay đổi được. Nghe Branch giải thích xong, anh cũng chỉ biết lắc đầu.

6

Một tuần trôi qua, mọi việc trong căn cứ đều bình thường, cuộc sống của Makarov vẫn yên bình nhạt nhẽo như trước đây. Hôm nay, anh cảm thấy hơi chóng mặt nên đã tới phòng khám của căn cứ, định tìm người y sỹ duy nhất ở đây kê chút đơn thuốc.

Bước tới phòng khám, bên ngoài phòng không có ai, vậy là Makarov đi vào trong. Ở đây có kê hai chiếc giường, anh trông thấy có một người nằm trên giường, người y sỹ đeo khẩu trang, đang cầm kéo và kẹp y tế cắt chỉ cho người này.

Makarov đánh tiếng chào hỏi người y sỹ rồi định ra ngoài đợi, nhưng khi anh quay đi thì phát hiện ra người đang nằm trên giường chính là học viên tuần trước bị Branch phạt.

Anh dừng lại, đứng bên cạnh nhìn chằm chằm người y sỹ cắt chỉ. Chẳng mấy chốc anh y sỹ đã cắt chỉ xong, Makarov trông thấy sau gáy người đó sưng phồng tấy đỏ, nhưng điều khiến anh ngạc nhiên lại là, trên vết thương tấy đỏ của người đó xuất hiện một hình vẽ rõ nét, là một con chim ứng đứng trên mình con sói. Lẽ nào hình vẽ này chính là kiệt tác mà Branch và Lý Quốc Văn dùng dao găm để lại trên cơ thể người này? Nghĩ tới đây, toàn thân anh run bắn lên.

Đúng lúc Makarov đang ngạc nhiên thì cửa bật mở, Lý Quốc Văn bước vào. Cả hai sững sờ nhìn nhau. Makarov kéo ngay Lý Quốc Văn ra khỏi buồng khám, nghiêm giọng chất vấn: “vết thương trên người học viên đó là kiệt tác của cậu sao?”

Lý Quốc Văn cười vu vơ: “Khà khà, có thể coi là vậy ạ.”

“Các cậu đối đãi với anh ta vậy sao?”

“Đó chỉ là một cách trừng phạt nhỏ thôi mà.”

“Trừng phạt nhỏ? Trên người cậu có không?”

Lý Quốc Văn không ngờ Makarov lại hỏi câu này, anh ta hơi sững sờ một lúc: “Tôi..

“Đây đều là do đồng chí Branch bảo các cậu làm phải không?”, Makarov truy hỏi.

“ừm, ông ấy ra lệnh.”

“Vậy cậu nói cho tôi biết, ý nghĩa của hình vẽ đó là gì?”

“Hình vẽ?!”

“Chính là hình con chim ưng và con sói đó!”

“Ồ! Hình đó chẳng có nghĩa gì cả, đồng chí Branch bảo tôi làm vậy, ông ấy nói rằng đó là tô-tem của một bộ lạc cổ xưa!”, Lý Quốc Văn rất bình tĩnh trả lời.

“Bộ lạc cổ xưa? Bộ lạc nào?”

Lý Quốc Văn lắc đầu: “Tôi không biết, đồng chí Branch bảo rằng ông ấy nhìn thấy trong một hang núi gần khu căn cứ

“Hang núi nào vậy?”, trong đầu Makarov lập tức lục soát lại địa hình xung quanh, nhưng anh không nghĩ ra gần căn cứ còn có một hang núi nào nữa.

“Tôi cũng chưa tới đó bao giờ nên không biết vị trí cụ thể của hang núi đó. Nhưng đồng chí Branch nói rằng hình như hang núi đó ở rất xa căn cứ, gần tận biên giới cơ!”, Lý Quốc Văn trả lời rất rành rọt.

Trong lòng Makarov do dự một chút, cuối cùng vẫn thốt ra câu hỏi mà mình nghi ngờ nhất: “Nếu là xăm mình thì sao phải dùng cách tàn nhẫn vậy? Theo như tôi biết thì xăm mình ngày nay có cách rất văn minh mà.”

Lý Quốc Văn nhún vai, giải thích: “Anh biết rồi đấy, điều kiện của chúng ta ở đây rất sơ sài, cộng thêm trong quân đội không cho phép xăm mình thế nên lấy đâu ra thiết bị chuyên dụng? Hơn nữa còn…

“Hơn nữa còn gì?”

“Còn...”, Lý Quốc Văn ấp a ấp úng.

“Nói mau!”, Makarov có chút nổi nóng.

“Còn... tốt nhất anh đi hỏi đồng chí Branch ấy, những gì nói được tôi đều đã nói rồi!”, Lý Quốc Văn đột nhiên đứng thẳng người, trả lời Makarov rất kiên quyết.

Makarov ngạc nhiên, không ngờ người Trung Quốc đang đứng trước mặt lại trả lời mình như vậy, anh chỉ cònchán nản hất hất tay ra hiệu với Lý Quốc Văn. Lý Quốc Văn đứng nghiêm chào anh rồi lại bước vào phòng y tế, dẫn học viên đó đi.

7

Makarov nhìn theo bóng dáng hai người này, giờ mới nhớ ra việc chính của mình, vậy là anh quay lại phòng y tế.

Lấy thuốc xong xuôi, anh hỏi y sỹ: “vết thương của người ban nãy có nặng không?”

“vết thương vốn không nặng nhưng bây giờ mới đưa tới nên đã bị mưng mủ, cộng thêm người đó sức khỏe vốn dĩ đã không tốt nên bây giờ không biết thế nào, phải theo dõi thêm vài ngày nữa. Nếu sau mấy hôm mà vết thương vẫn chưa liền lại, thì tôi thấy nên chuyển người này tới bệnh viện Irkutsk để điều trị.”

Makarov không ngờ lại nghiêm trọng như vậy, chần chừ một lúc, anh mới lại hỏi tiếp: “Anh đã nhìn hình vẽ đó chưa?”

“Hình vẽ? ừm, nhìn thấy rồi!”, y sỹ trả lời tỉnh bơ.

“Nó tượng trưng cho cái gì vậy?”

“Tượng trưng cho cái gì ư? Tôi chỉ lo chữa trị còn cái hình vẽ đó tượng trưng cho điều gì thì tôi không biết. Nhưng...”, anh y sỹ hình như nhớ ra điều gì đó, nhưng ngập ngừng không muốn nói.

“Nhưng sao cơ?”, Makarov truy hỏi.

“Nhưng hình vẽ đó tôi đã từng nhìn thấy..

“Ồ?”, Makarov bắt đầu thấy hứng thú.

“Lần trước cũng có học viên bị tương tự như vậy, được khiêng đến nhờ tôi xử lý. Lúc đó tình hình của người đó còn thảm hơn người này, vết thương không những sưng tấy mưng mủ mà người đó còn hôn mê bất tỉnh, sốt bừng bừng”, người y sỹ nhớ lại.

“Sau đó thế nào? Học viên đó ra sao?”, Makarov thấy mình là cấp trên mà không hề biết tới những việc này nên không khỏi tức tối.

“Việc sau đó tôi cũng không rõ lắm, sau khi tôi xử lý cho học viên đó xong thì từ đó cũng không gặp lại anh ta nữa!”, người y sỹ nhún vai, thể hiện vẻ bất lực.

“Anh có còn nhớ tên anh ta không?”

“Những học viên đến đây chỉ có một mã số, chúng tôi đều không biết tên của họ!”, y sỹ lắc đầu.

Lúc này Makarov mới nhớ ra trong nội bộ căn cứ, giữa những học viên với nhau, giữa huấn luyện viên và học viên chỉ gọi nhau bằng mã số, bởi vậy rất nhiều học viên nếu anh không đi kiểm tra hồ sơ thì cũng không biết họ tên là gì. Giống như học viên ban nãy bị Lý Quốc Văn đưa đi, Makarov trông rất quen nhưng không nhớ anh ta tên gì, đây cũng là quy tắc mà Branch đặt ra ngay từ đầu.

“Vậy mã số của anh ta là gì, chắc anh vẫn còn nhớ.

Makarov vẫn không nản.

Người y sỹ lại lực bất tòng tâm nhún vai: “Quy định của đồng chí Branch là học viên đến đây khám bệnh đều không để lại bệnh án, tất cả đơn thuốc đều phải để anh ấy duyệt qua. Bởi vậy tôi chỉ tập trung khám bệnh kê thuốc, những việc khác tôi đều không biết.”

“Học viên lần trước được khiêng đến đây từ lúc nào? Cái này chắc anh vẫn còn nhớ chứ?”

Người y sỹ đảo mắt, ngẫm nghĩ một lúc, nói: “Hình như là bảy tám tháng trước thì phải!”

Xem ra chẳng hỏi han được gì từ người y sỹ này nên Makarov liền đứng dậy cáo từ. Trở về ký túc, không thấy Branch đâu, anh uể oải nhoài ra giường, ngủ cũng không được, nên chỉ biết thẫn thờ nhìn chằm chằm lên trần nhà. Học viên bảy, tám tháng trước? Tô-tem của bộ lạc cổ xưa? Makarov nghĩ tới hình vẽ đó, nghiền ngẫm lời của Lý Quốc Văn... cảm thấy có lẽ mình nên làm chút gì đó, nghĩ tới đây, anh bỗng bật dậy khỏi giường.

Makarov tới phòng của Branch, vốn dĩ ở đây chỉ là một phòng ngủ nhỏ, nhưng do căn phòng này rộng hơn của Makarov một chút, nên ở đây ngoài buồng ngủ của Branch ra còn là “phòng cơ mật” của cả khu căn cứ. Những văn kiện quan trọng của căn cứ, súng ống đạn dược dự phòng đều cất giữ ở đây.

Makarov đảo mắt một lượt khắp căn phòng của Branch, chăn gối trên giường được gấp gọn gàng ngăn nắp, cả căn phòng sạch sẽ tinh tươm. Đây là thói quen thường ngày của Branch. Cho dù là ở nơi đất khách quê người, trong sa mạc hoang vu, nhưng Branch vẫn giữ nguyên tắc chỉn chu của quân nhân. Makarov liếc nhìn chiếc tủ sắt cạnh giá sách, trong này cất giữ những hồ sơ quan trọng của căn cứ và cả súng ống đạn dược. Chìa khóa của chiếc tủ này chỉ có Branch và anh có, bình thường anh rất ít khi mở tủ này ra, bởi vậy chiếc tủ này chủ yếu là do Branch phụ trách bảo quản.

Makarov không nhớ rõ là lần trước mình mở chiếc tủ sắt này ra là vào lúc nào, hình như là một tháng trước, cất một bộ hồ sơ vào trong này...

8

Makarov móc chìa khóa ra, mở tủ sắt. Chiếc tủ sắt rất lớn, chiếm cả mặt tường, bên trong chia thành ba ngăn trên, giữa, dưới. Ngăn trên cùng cất giữ hồ sơ văn kiện quan trọng của căn cử, ngăn giữa và ngăn dưới để đạn dược súng ống dự phòng.

Ngăn trên còn có một chiếc két nhỏ, bên trong cất giữ kinh phí và sổ sách hóa đơn của căn cứ. Makarov dùng một chiếc chìa khóa khác cẩn thận mở tủ ngăn trên ra, trong đó có xếp ngay ngắn vài xấp tiền xanh đỏ, phân thành tiền rúp, đô la Mỹ, nhân dân tệ và tiền Tugrik Mông cổ. Ở cái nơi quái quỷ này không có ngân hàng, mọi thứ đều phải giải quyết bằng tiền bạc. Lúc Makarov mới tới căn cứ, có một thời gian anh còn lo chuột chui được vào trong tủ và gặm nhấm chỗ tiền này thì coi như nhịn đói luôn, nhưng sau này anh đã dần yên tâm, bởi ở cái nơi đến cỏ cũng không mọc nổi này thì lấy đâu ra chuột.

Từ trước tới nay Makarov cũng không để ý tới chuyện tiền nong, sổ sách trong căn cứ đều được một tay Branch quản lý. Anh xem qua tủ đựng tiền một chút, thấy tiền vẫn còn rất nhiều, sổ sách vẫn còn nguyên nên cũng yên tâm.

Makarov khóa tủ đựng tiền lại, rồi lại kiểm tra súng ống đạn dược dự phòng ở ngăn giữa và ngăn dưới. Ngoài nhân viên KGB trong căn cứ ra thì tất cả những học viên đều không được phát súng đạn, chỉ lúc tập huấn, huấn luyện viên mới tới chỗ Branch để lĩnh vũ khí, đạn dược.

Đây là quy định mà anh và Branch đặt ra ngay từ đầu.

Một dãy súng đột kích AK-47 xếp ngay ngắn trong ngăn dưới tủ, Makarov đếm sơ qua, tổng cộng 27 khẩu, thiếu mất 9 khẩu. Anh giở sổ ghi chép ra, Branch huấn luyện cho học viên, mang theo 9 khẩu AK-47 và một thùng đạn. Anh lại kiểm tra ngăn giữa, 36 khẩu súng ngắn TT-33, 4 khẩu súng săn, 3 khẩu bắn tỉa, 2 khẩu súng máy hạng nhẹ,

1 khẩu súng máy hạng nặng, còn có cả 4 khẩu súng gián điệp mini chuyên dụng dùng để huấn luyện đặc công đều ở trong tủ, không thiếu một khẩu, còn 20 thùng đạn dược, 2 thùng lựu đạn cũng đều ở trong tủ.

Makarov lại nhìn lên ngăn trên cùng, ở đó còn có rất nhiều hồ sơ văn kiện, anh tìm thấy một tập hồ sơ, lấy nó ra.

Đây là mẫu đăng ký của học viên, anh đọc qua tình hình của học viên trong căn cứ trên mẫu đăng kí. Đọc mãi, đọc mãi, đột nhiên mắt anh mở to, anh phát hiện thấy trên cột ghi chú về tình hình của một học viên trong số đó ghi rõ: Học viên này trong quá trình huấn luyện, có mưu đồ bỏ trốn khỏi căn cứ nên đã bị bắn chết ngay tại hiện trường.

Makarov nhận ra ngay đây chính là nét chữ của Branch. Có học viên định bỏ trốn bị bắn chết! Sao Makarov không có chút ấn tượng gì cả, anh ra sức nhớ lại, chầm chậm, chầm chậm... thẳm sâu trong ký ức của Makarov hình như có chút mảnh vụn. Bảy, tám tháng trước, hình như Branch cũng từng nói với mình, có một học viên trong lúc huấn luyện đã không theo quy định, bị bạn học bắn bị thương.

Lúc đó Makarov còn hỏi Branch giải quyết thế nào, Branch nói rằng để anh ta phụ trách xử lý, không cần Makarov lo. Từ đó Makarov cũng không hỏi han gì nữa, sau này Branch còn chủ động kể với Makarov rằng: học viên đó đã được đưa tới bệnh viện Irkutsk, sau đó đã bị khai trừ ra khỏi căn cứ.

Nhưng... nhưng trong hồ sơ lại ghi chép không giống với những gì Branch nói. Bị bắn chết tại hiện trường ư?! Không, không thể, nếu như bị bắn chết tại hiện trường thì sẽ có người báo cáo với anh. Tuy anh không quan tâm lắm tới công việc, nhưng nếu trong căn cứ xảy ra chuyện lớn như thế thì không thể giấu anh như vậy được.

Theo cách Branch nói, thì học viên đó có ý đồ đào tẩu, bị Branch đánh trọng thương. Nếu như xảy ra chuyện đó thì anh cũng phải biết chứ? Ánh mắt Makarov tập trung lên những dòng chữ của Branch, anh nhìn chằm chằm vào ngày tháng Branch viết phía sau, chính là hơn bảy tháng trước! Lại liên tưởng tới việc người y sỹ kể về học viên được khiêng đến, trong lòng anh đầy nghi ngờ, rồi lại tiếp tục xem cột ghi chú, chiều cao, cân nặng, từng phần thông tin cua người này đều ghi trên hồ sơ, nhưng điều duy nhất thiếu là mục họ tên. Trước cột họ tên là số hiệu, số hiệu của người này là: A711209.

9

“A711209 đã bị khai trừ rồi!”, đúng lúc Makarov đang nghi ngờ thì phía sau lưng vang lên giọng nói khàn đặc của Branch.

Makarov run bắn người, vội vàng quay lại nhìn. Tay trái Branch ôm 4 khẩu AK-47, tay phải ôm 5 khẩu AK-47 khác, mồ hôi mồ kê nhễ nhại đứng trước cửa buồng.

“Anh... anh lại đi huấn luyện đấy à?”, Makarov không biết nói gì.

Ngược lại Branh lại khá trấn tĩnh, lần lượt cất những khẩu AK vào trong tủ sắt, sau đó lau mồ hôi, chỉ tập hồ sơ trên bàn, nói: “Tôi biết là anh sẽ tới tìm cái này.”

“Nếu anh đã biết là tôi sẽ đến để tìm cái này, thì chúng ta hãy nói chuyện về học viên số A711209 đi!”, Makarov ra sức giữ bình tĩnh.

“Chẳng có gì để nói cả. Vì đã do tôi phụ trách huấn luyện thì phải làm theo cách của tôi, không ai được vi phạm quy tắc mà tôi đã đề ra, là như vậy đấy!”, Branch đầy vẻ bất cần.

“Giờ thì tôi cũng hiểu ra phần nào rằng tại sao anh lại bi giáng chức rồi bị phái tới đây rồi!”, Makarov nhìn quân hàm trên vai Branch, có chút ưu tư.

Branch nghe Makarov nói vậy, không những không tức giận, ngược lại còn cười cười: “Xin hãy tin tôi, chỉ có những học viên được huấn luyện theo cách của tôi thì mới có thể hoàn thành được nhiệm vụ của họ trong tương lai. Nếu không thì họ sẽ chẳng là cái thá gì cả.”

“Vậy anh có thể nói cho tôi biết tung tích của học viên số A711209 không? Trước đây anh từng nói với tôi rằng có học viên bị thương được đưa tới bệnh viện Irkutsk, sau đó bị khai trừ. Nhưng tôi kiểm tra hết toàn bộ hồ sơ, trong tất cả số học viên, bị khai trừ chỉ có một người, còn trong hồ sơ của anh viết là..

“Tôi viết là học viên đó trong quá trình tập huấn đã mưu đồ bỏ trốn, bị bắn chết ngay tại hiện trường!”, Branch bỗng ngắt lời Makarov, nói rất rành rọt.

Makarov hơi sững sờ một chút: “Rốt cuộc đâu mới là sự thật? Anh có thể nói cho tôi biết không?”

“Đương nhiên có thể nói với anh, anh mới là sếp của căn cứ này mà!”, Branch cầm lấy tập hồ sơ, nhìn lại, sau đó nghiêm túc nói: “Đồng chí Makarov, anh nên hiểu rằng, tất cả mọi việc xảy ra ở căn cứ đều phải chính xác như ghi chép trong hồ sơ”.

Makarov vốn không tin số phận của A711209 lại đơn giản như ghi chép trong hồ sơ: “Không, tôi muốn biết sự thật. Tôi nghĩ tôi có quyền được biết sự thật!”, Makarov lên giọng.

“Được thôi! Để tôi nói cho anh biết. Ivan thân mến,

anh hãy bình tĩnh lại chút đã!”, Branch thấy thái độ kiên quyết của Makarov liền lập tức làm không khí dịu xuống.

“Tôi có thể bình tĩnh, nhưng nếu như tôi không biết dược sự thật thì rất khó để đảm bảo rằng, tôi sẽ không phản ánh lại sự việc với tổng bộ, để tổng bộ phái người tới đây điều tra việc này!”, Makarov cũng dịu giọng xuống nhưng giọng nói kèm theo chút uy hiếp.

Branch cười đau khổ, vỗ vỗ vai Makarov, nói: “Thực ra sự thật mà anh nói, tốt nhất là nên biết ít hơn một chút sẽ tốt hơn. Như anh thế này, trước đây chỉ ngồi suốt trong văn phòng tại Leningrad, vốn không thể hiểu được những người làm việc thuộc tầng lớp cơ bản như chúng tôi”.

“Có thể trước đây tôi không hiểu, nhưng hiện giờ tôi rất hứng thú tìm hiểu một chút về anh, nhất là những thủ đoạn huấn luyện của anh!”, Makarov kiên quyết đeo bám việc này.

Branch bất lực nhún vai: “Được thôi, tôi nói cho anh biết, những học viên này không giống chúng ta, trong đầu óc họ đã không còn những khái niệm về quốc gia, dân tộc, vinh dự. Những gì chúng ta phải làm là huấn luyện họ thành một cỗ máy, một cỗ máy máu lạnh vô tình, vận hành tươm tất và để chúng ta sử đụng. Vậy thì, trước tiên chúng ta phải kích hoạt tâm lý phòng tuyến trong lòng họ, xóa bỏ hết kí ức trước đây của họ. Những người này, tuy đa số đều là những kẻ không cần mạng sống, nhưng trong lòng họ

vẫn còn tạp niệm, tôi cần phải thông qua một biện pháp để gạt bỏ những tạp niệm đó trong lòng họ đi.”

“Chính bằng cách dùng dao khắc lên người họ?”

“Đó chỉ là một cách rất nhỏ. Tôi có cả trọn bộ phương pháp để những học viên này triệt để quên hết quá khứ của họ, từ bỏ nhân cách của mình, xóa bỏ tình cảm của họ. Chỉ sau khi làm được tất cả những điều này, thì họ mới có thể trở thành một cỗ máy thực sự lớn mạnh!”. Branch nói tới đây vói tâm trạng rất kích động, nên anh ta lặng lẽ điều chỉnh lại tâm lý của mình rồi nói tiếp: “Còn về số A711209, anh ta là người không chịu nghe lời nhất trong số những học viên. Nguyên nhân thì giống như tôi vừa nói trước đó, trong đầu anh ta vẫn còn rất nhiều tạp niệm, anh ta vẫn muốn quay trở lại quá khứ, vẫn muốn tìm kiếm một cuộc sống điền viên mục ca bình thường. Tôi đã từng cảnh cáo anh ta, dù gì cũng đã tới đây rồi thì đầu óc đừng nghĩ ngợi nhiều thể nữa, thực thi nhiệm vụ của chúng ta là việc duy nhất mà anh ta phải làm. Nhưng A711209 đã không nghe lời cảnh cáo của tôi, trong đầu vẫn đầy rẫy những tạp niệm không hợp thời, bởi vậy tôi đã để Lý Quốc Văn dạy dỗ anh ta một chút.”

Makarov đã đọc ra được chút vị trong lời nói của Branch: “Cũng có nghĩa là chân tướng của sự việc vừa không giống như anh nói với tôi là bị thương phải đưa đi viện, cũng không phải là có ý đồ đào tẩu rồi bị bắn chết tại hiện trường, giống như trong hồ sơ, mà là bị Lý Quốc Văn

đày đọa đến chết.”

“Họ quá bất cẩn, dĩ nhiên việc này cũng không thể trách tội Lý Quốc Văn, bởi vì đây là thủ đoạn bắt buộc, còn về ‘ý đồ tháo chạy, bị bắn chết tại hiện trường’ như viết trong báo cáo, thì chẳng cần phải nghi ngờ gì nữa, đây chính là cách giải thích tốt nhất với cấp trên.”

Makarov cúi đầu, trầm ngâm hồi lâu: “Tại sao trong hồ sơ không có họ tên của mã số A711209?”

“Bởi vì người này không chịu nói, hỏi thế nào cũng không chịu nói, vì thế nên đến tận giờ chúng ta cũng không biết dược họ tên thật của anh ta!”, Branch chán nản nhún vai.

“Người như vậy sao anh còn giữ anh ta ở lại căn cứ làm gì?”, Makarov không hiểu.

Branch thở dài: “Bởi vì tôi tưởng rằng tôi có thể huấn luyện được anh ta, nhưng kết quả là tôi sai rồi, gã này quả thực quá cứng đầu cứng cổ.”

“Vậy A711209 hiện giờ đâu rồi?”

“Đã xử lý rồi. Được chôn ngoài căn cứ.”

“Chôn chỗ nào?”

“Trong một khe núi cách căn cứ khá xa, tôi và Lý Quốc Văn đi chôn.”

“Tôi muốn đến đó xem sao!”, hiện tại Makarov chỉ muốn xác định xem A711209 sống chết ra sao.

“Khe núi đó thực sự là rất xa căn cứ, cái gã đó lúc chết trông rất giống bị dịch bệnh, thế nên tôi và Lý Quốc Văn mới chôn anh ta ở nơi xa như vậy.”

“Bất luận xa như thế nào tôi cũng phải đi xem, nếu không thì… tôi rất khó tán đồng với phương pháp huấn luyện của anh!”, Makarov nói đầy ẩn ý. Branch đang định mở miệng thì Makarov lại nói tiếp: “Đừng nói với tôi là anh quên mất chỗ đó rồi, tôi đã bảo rồi đấy, bất luận là xa xôi cỡ nào cũng phải tới đó một chuyến xem sao. Nếu nhìn thấy rồi, tôi sẽ coi như chưa xảy ra chuyện gì cả.”

Branch chán nản bĩu môi: “Được rồi, đợi tới khi nào có thời gian tôi sẽ sắp xếp.”

“Đúng rồi! Còn cả hình vẽ đó nữa, hình vẽ đó tượng trưng cho cái gì vậy? Tại sao anh lại phải dùng hình vẽ đó?”, Makarov đột nhiên nhớ lại cái hình vẽ quái dị đó.

“Chẳng có gì cả, đó chỉ là tô-tem của một bộ lạc cổ xưa. Tôi đã trông thấy nên mới dùng cái hình vẽ đó.”

“Tô-tem của bộ lạc cổ xưa? Anh nhìn thấy ở đâu vậy?”

“Ở gần căn cứ, nếu có dịp tôi sẽ đưa anh đi xem.”

Makarov trầm ngâm gật gù, rốt cuộc hai người cũng kết thúc cuộc nói chuyện không mấy tốt đẹp trong không khí hòa thuận
 

hoahongden12

Active Member

Khu vực biên giới Trung - Mông có rất nhiều nơi không hề có bóng người, và từ trước tới nay chưa từng được khảo sát. Có những nơi mà cả hai bên đều muốn được hưởng quyền chiếm giữ lãnh thổ, nhưng trong quá trình thám hiểm thực tế thì các Lực lượng vũ trang của mỗi bên đều chưa từng tiến vào trong khu vực này. Đó chính là khu vực không một bóng người, ơ đó xảy ra đủ các hiện tượng kì dị, và điều đáng sợ nhất chính là nhìn thấy con người ở trong khu vực này...

1

Đường Phong và Hàn Giang nghe Makarov kể lại xong thì đều vô cùng kinh ngạc. “Nói như vậy thì hình vẽ này đã xuất hiện từ trước đó lâu rồi?”, Đường Phong vội vàng hỏi.

“ít nhất tôi cũng đã từng nhìn thấy cách đây mấy chục năm!”, Makarov nói.

“Thảo nào trông bác lại căng thẳng như vậy khi nhìn thấy hình xăm trên người những tên áo đen!”, Hàn Giang nói.

“Đúng vậy! Tôi không sao hiểu nổi tại sao mấy chục năm sau trên người những gã áo đen từng được qua huấn luyện này lại có hình xăm đó!”, Makarov lắc đầu.

“Trên người của những thành viên trong tổ chức thù địch với chúng ta đều có hình xăm này, lẽ nào trên người những học viên mà các bác huấn luyện cũng đều có hình xăm này?”, Đường Phong hỏi Makarov.

“Cái này...”, Makarov ngập ngừng một lúc, sau đó chậm rãi nói: “Không! Tôi không dám khẳng định, nhưng sau đó tôi lại nhìn thấy hình vẽ này. Đó là một đoạn ký ức vô cùng đau khổ và khủng khiếp...”

Hai tuần trôi qua nhưng Branch vẫn chưa thực hiện lời hứa với Makarov. Makarov bên ngoài tỏ ra bình thường nhưng trong lòng luôn quẩn quanh suy nghĩ về học viên A711209 và hình vẽ bí ẩn đó.

Makarov không thúc giục Branch, ngược lại anh muốn thử xem rốt cuộc Branch xử trí thế nào. Đồng thời trong lòng anh cũng định sẵn, nếu Branch không cho anh được câu trả lời thỏa đáng, thì anh sẽ báo cáo sự việc này lên cấp trên.

Mấy hôm nay, buổi trưa ăn cơm xong, Makarov chỉ ở trong phòng, muốn ngủ trưa. Nhưng thời tiết khô hạn, nóng nực khiến nhà mái tôn giống như một cái lồng hấp, gió nóng thổi ra từ chiếc quạt điện vốn không thể khiến người ta ngủ được.

Đột nhiên, Branch bước vào, lấy dây da quất quất xuống giường Makarov: “Nếu không ngủ được thì ra ngoài còn hơn.”

“Ra ngoài? Đi bộ?”, Makarov nhìn ra ngoài cửa sổ thấy sa mạc nắng như thiêu như đốt mà đã thấy chóng mặt, “Có gì hay mà đi? Xung quanh đều là sa mạc, đến chỗ bóng cây cũng chẳng có.”

“Không phải anh rất quan tâm tới học viên A711209 sao?”, Branch bình thản nói.

Makarov vừa nghe thấy vậy, liền bật khỏi giường: “Ý anh nói là đưa tôi đi tìm A711209?”

“Còn cả hình vẽ bí ẩn đó nữa.”

“Ồ?”

“Lần trước tôi quên nói với anh. Bọn tôi chôn A711209 trong khe núi có hình vẽ bí ẩn đó.”

“Sao cơ? Khe núi?”, Makarov nhớ lại Lý Quốc Văn cũng từng nhắc tới một khe núi, “Không đúng mà! Anh nói rằng anh và Lý Quốc Văn cùng nhau đi chôn? Nhưng khi tôi hỏi Lý Quốc Văn về hình vẽ bí ẩn đó thì anh ta lại nói rằng anh ta chưa từng tới khe núi đó, xem ra anh ta lừa tôi rồi!”

Branch bật cười: “Việc này anh đừng trách Lý Quốc Văn, lúc cậu ấy đi cùng tôi, tôi không nói cho cậu ta biết ở đó có hình vẽ bí ẩn nào cả, cũng không nói tên cái khe núi đó cho cậu ta biết, bởi vậy cậu ta làm sao biết được. Đây chính là điều mà tôi đánh giá cao ở Lý Quốc Văn, cái gì không cần hỏi là không hỏi, miệng kín như bưng, làm việc đáng tin cậy”.

“Vậy khe núi đó lên là gì?”

“Khe Sói hoang!”

“Khe Sói hoang?”, Makarov không hiểu sao khi nghe thấy cái tên khe Sói hoang thốt ra từ miệng Branch thì anh bỗng rùng mình một cái.

“Tôi cũng nghe thấy cái tên này từ một mục dân cao tuổi gần đó nói.”

“Ở đó có rất nhiều sói hoang à?”

“Không! Tôi không biết. Lúc đến tôi chẳng thấy con sói nào cả, nhưng ở đó chắc chắn là một nơi rất nguy hiểm. Nghe lão mục dân kể thì người hay động vật nào chui vào khe núi đó đều một đi không trở lại, đến cả chim chóc cũng không dám bay qua khu vực khe núi đó.”

“Đáng sợ vậy sao?”

“Ông lão du mục còn nói rằng trong khe núi đó có ma quỷ, phát ra tiếng gào thét, khiến người ta sợ tới nồi hồn xiêu phách lạc. Tóm lại, theo như lời dân du mục cao tuổi, thì khe Sói hoang là khu vực cấm người vào, còn về truyền thuyết khủng khiếp của nó, ông lão du mục đó có thể kể liền ba ngày ba đêm”, Branch kể lại một loạt truyền thuyết đáng sợ mà mình nghe được từ ông lão du mục.

“Khe Sói hoang đáng sợ vậy sao? Không phải anh với Lý Quốc Văn đều chui vào đó rồi đấy thôi, đáng sợ thật không vậy?”, Makarov không tin, anh cho rằng những điều đó đều do Branch bịa ra để không ình tới khe Sói hoang.

“Tôi và Lý Quốc Văn từng đến đó, hơn nữa còn không chỉ đến có một lần, nhưng chúng tôi chỉ đi loanh quanh gần đó rồi nhanh chóng quay về.”

“Bọn anh trông thấy những thứ đáng sợ đó rồi ư?”

“Chúng tôi không nhìn thấy những điều như trong truyền thuyết đáng sợ ông lão du mục đó kể, nhưng chúng tôi nhìn vào sâu trong khe núi thì thấy toàn xương trắng. Hơn nữa... hơn nữa ở đó quả thực không một bóng người, không có gia súc, thậm chí cũng không thấy cả chim chóc bay qua.”

“Các anh đều là đặc công được huấn luyện, mà không dám đi vào trong khe núi đó sao?”

“Kể cả chúng tôi gan có to bằng chừng nào đi chăng nữa, rồi dù mang theo cả đồ nghề trang bị thì cũng không vào đó được.”

“Tại sao?”

“Bởi vì ở giữa khe núi là biên giới quốc gia, nếu như anh đi qua khe núi, thì tức là anh đã tiến vào biên giới Trung Quốc.”

“Hóa ra là như vậy. Nếu mà như vậy thì tôi càng muốn tới khe Sói hoang đó xem sao.”

Makarov và Branch chuẩn bị lên đường. Branch ăn mặc chỉnh tề, chuẩn bị xong xuôi thì lại trông thấy Makarov mặc bộ quân phục cộc tay thông thường, anh liền cười nhạt: “Đừng có mặc áo cộc tay như vậy, cẩn thận mặt trời ở khe sỏi hoang hun cho anh bong cả hai lớp da đấy!”

“Đến nỗi vậy sao?”, lúc này Makarov mới để ý thấy Branch mặc một bộ rằn ri sa mạc, che kín toàn thân, không lọt lấy khe hở.

“Nếu anh không muốn để lại cái mạng quèn tại khe Sói hoang thì hãy làm theo lời tôi đi!”, Branch nói đầy tự tin.

Makarov đành phải thay bộ rằn ri sa mạc, mang theo súng. Đang định chuẩn bị đi thì thấy Branch lôi từ trong tủ sắt ra một khẩu súng săn đột kích, rồi lại lấy thêm một khẩu AK-47 ném cho Makarov, dặn dò: “Cầm lấy cái này, đề phòng gặp nguy hiểm, súng ngắn không ăn thua đâu”

“Có phải chúng ta ra chiến trường đâu mà cần cái này để làm gì?”, Makarov vẫn cảm thấy Branch cứ nói quá.

“Tôi nói cho anh biết, anh hãy cứ coi đó là chiến trường đi, nếu gặp phải nguy hiểm thì thử xem có thể kiếm được chút mùi vị hoang dã nào không, chúng ta cũng phải cải thiện đời sống một chút”, nói xong Branch lại nhét thêm bốn quả lựu đạn vào người.

Nhìn lại hai người, một người xách khẩu súng săn, thắt lưng giắt lựu đạn, một người vác súng đột kích, trên người đeo đầy đạn, chẳng khác gì Rambo trong phim hành động của Mỹ chuẩn bị lao ra chiến trận. Hai người nhảy lên chiếc xe Jeep, Branch lái xe ra khỏi khu căn cứ, lao vào lòng sa mạc Gobi.

2

Mặt trời rực cháy thiêu đốt sa mạc mênh mông, chiếc xe Jeep vẽ nên một đường cong tuyệt đẹp trên sa mạc, lao thẳng về hướng tây, tiến sâu vào sa mạc Gobi.

Vượt qua một đồi cát, Makarov cảm thấy địa hình ở đây không còn bằng phẳng như gần khu căn cứ, những cồn cát lớn nhỏ chốc chốc lại xuất hiện. Branch lái xe lên cồn cát rồi lại lao xuống, cả đoạn đường hết cồn cát này lại đên cồn cát khác. Tay lái của Branch điệu nghệ, nên những cồn cát này cũng không khiến anh ta giảm tốc độ. Đây không phải là chiếc xe Jeep già cỗi trước đây nữa, nếu không Branch lái như vậy thì xe cũng tàn, người cũng toi rồi.

“Sao từ trước tới giờ tôi chưa từng đến đây nhỉ?”, Makarov vừa mở miệng là đã ăn ngay một ngụm cát.

“Anh cả ngày ở trong căn cứ đương nhiên chưa từng lới đây rồi!”, Branch lái xe chậm lại.

“Anh từng đưa học viên tới đây huấn luyện chưa?”

“Đến rồi. Chạy đường trường 20 ki-lô-mét”.

“Chạy đường trường 20 ki-lô-mét? Ở đây! Anh khiếp thật đấy!”

“Anh đã trông thấy cồn cát trước mắt chưa?”

Makarov để ý thấy phía trước có một cồn cát cao lớn vắt ngang qua mặt họ: “Trông thấy rồi, cồn cát này thật giống một rặng núi, vừa cao vừa dài”.

“Nó không phải là rặng núi mà là đồi cát, đồi cát di động.”

“Đồi cát di động?”

“Tôi đã đưa học viên tới đây chạy bộ, nhưng chưa từng có ý định vượt qua đồi cát đó, bởi vì sau khi vượt qua đó là sẽ tới vùng nguy hiểm!”, chiếc xe do Branch lái mỗi lúc một chạy chậm lại.

“Vùng đất nguy hiểm? Ý anh nói phía trước là khe Sói hoang sao?”

- "“Vượt qua cồn cát này, đi thẳng sẽ tới khu vực khe Sói hoang, chính xác mà nói thì là dải đất ở giữa hoặc gọi là ‘khu hòa hoãn’. Hai bên đều chủ trương khu vực đó thuộc về mình, nhưng trong quá trình triển khai thực tiễn lực lượng vũ trang của cả hai bên đều chưa từng tiến vào khu vực đó!”, Branch giới thiệu.

“Vậy đó chính là ‘khu vực không bóng người’ rồi?”

“ừm, bởi vậy tôi gọi khu vực này là ‘vùng nguy hiểm’. Khu vực này không có người, ngược lại là nơi sinh sống đắc địa của động vật hoang dã, hơn nữa khí hậu ở đây khắc nghiệt, cũng là nơi xuất hiện rất nhiều hiện tượng kì dị. Ngoài những nguy hiểm này ra thì còn càng cần phải đề phòng gặp người trong ‘khu vực không bóng người’.”

“Gặp người trong ‘khu vực không bóng người’?”, Makarov cảm thấy lạnh toát sống lưng, ở cái nơi khô hạn nóng bức khủng khiếp này mà anh bỗng cảm thấy ớn lạnh.

Nói xong, Makarov bỗng cảm thấy hình như chiếc xe Jeep lại đang bay lên, Branch tăng tốc vượt qua đồi cát trước mặt, sau đó lao thẳng xuống dưới. Makarov bám chặt vào thành xe, nghiêng ngả ngang dọc khiến dạ dày anh muốn lộn nhào. Lúc này anh mới phát hiện thấy, hóa ra phía sau đồi cát còn dốc hơn phía trước rất nhiều.

Sau khoảng năm phút nhào lộn, rốt cuộc chiếc xe Jeep đã dừng lại trên một chỗ bằng phẳng. Mọi việc trở lại như cũ, không có tiếng động cơ rền vang, không có người, không có động vật, cũng không có gió. Trên sa mạc hoang lặng thinh như tờ, không trông thấy lấy một dấu tích của sự sống. Makarov bỗng cảm thấy dường như họ đã tới một tinh cầu khác.

3

“Chúng ta vẫn ở trên trái đất chứ?”, đối diện với cảnh vật trước mắt, Makarov miệng lẩm bẩm.

“Đương nhiên. Tôi chắc chắn chúng ta không đi xe trên mặt trăng!”, Branch cũng hài hước không kém.

“Ngộ nhỡ chúng ta gặp quân đội Trung Quốc ở đây thì làm thế nào?”, Makarov vô cùng lo lắng hỏi.

Branch ngẫm nghĩ một lúc, nói: “Đây là một vấn đề, nhưng thường thì quân biên phòng phía Trung Quốc không tới đây đâu.”

“Vẫn phải cẩn thận chút!”, Makarov lên đạn khẩu AK-47.

Branch khởi động lại chiếc xe Jeep, đi về hướng tây.

Trên đường đi họ không trông thấy bóng người nào cả, thậm chí đến cả một con vật cũng không có. “Xem ra kế hoạch săn bắn đi toi rồi!”, Makarov nói.

“Chẳng sao cả! Đúng lúc tôi cũng hứng thú với khe Sói hoang, muốn đến đó xem sao mà!”, mặt Branch tỉnh bơ.

“Ở đây hoang sơ không một bóng người như vậy, thì lấy đâu ra hình vẽ kì lạ của bộ lạc nào đó để lại nhỉ?”,

Makarov phóng tầm mắt về phía sa mạc hun hút mà thẫn thờ.

“Ông già du mục đó đã kể với tôi rằng, thời cổ đại ở đây từng là một nơi cây cỏ tươi tốt, có một bộ lạc rất hùng mạnh sinh sống ở đây.”

“Anh có tin không?”

“Ai mà biết được? Có thể sau này khí hậu biến đổi nên ở đây mới dần khô hạn thế này.”

“Sau đó bộ lạc di rời, văn minh tàn lụi. Đây đều là những điều cũ rích!”

“Xem ra anh không tin những truyền thuyết đó nhỉ?”

“Anh phải để tôi trông thấy thì tôi mới tin được.”

“Được thôi! Tôi sẽ để anh trông thấy, sắp rồi!”

Branch tăng tốc, Makarov bỗng nhớ ra gì đó: “về học viên A711209, tôi vẫn còn chút chưa hiểu. Trong lòng anh ta vẫn còn tạp niệm như vậy, không muốn cống hiến cho chúng ta, vậy tại sao còn vượt biên làm gì?”

Branch khẽ hắng giọng: “Người Trung Quốc suy nghĩ rất phức tạp. Ai mà biết được? Sớm biết trước cái gã đó suy nhược như thế, thì ngay từ ban đầu tôi đã không giữ hắn ở lại rồi, tống thẳng hắn vào tù.”

“Theo ý anh nói thì tức là anh vẫn còn tốt với họ chán hả?”

“Đúng vậy. Những người như họ không gia nhập với chúng ta thì cũng phí nửa đời trong tù. Nếu là anh thì anh sẽ chọn lựa thế nào?”

“Tôi…Makarov cũng chưa từng nghĩ tới việc này.

Trong lúc Makarov vẫn đang nghĩ ngợi lung tung thì địa hình phía trước lại biến đổi, một dãy núi màu đỏ hiện lên trước mắt họ.

“Đó là cái gì?”, Makarov có chút ngạc nhiên nhìn rặng núi màu đỏ phía xa xa.

“Chúng ta sắp tới rồi!”, Branch lẩm bẩm.

“Khe Sói hoang?”

“ừm, khe Sói hoang ẩn sâu trong rặng núi màu đỏ đó.”

Trong lúc nói chuyện, chiếc xe Jeep đã lao tới dưới rặng núi màu đỏ. Dưới núi xuất hiện rất nhiều những đá vụn lớn nhỏ, Branch nhàn hạ quay vô lăng, vòng qua đá vụn dưới mặt đất. Makarov cũng không hiểu Branch đi đường nào, nhưng chẳng mấy chốc xe của họ đã rẽ vào giữa hai ngọn núi.

4

Hai bên là dãy núi màu đỏ, đáy khe núi lại là cát vàng phủ kín. Cảnh sắc kì lạ đến mức khiến cho Makarov có cảm giác như đang lạc vào một thế giới khác.

Branch lái xe tới dưới một tảng đá rồi liền nhảy xuống xe: “Phía trước xe không vào được nữa, chúng ta đành phải đi bộ từ đây vào thôi!”

“Đi bộ? Phải đi bao xa?”, Makarov cũng nhảy xuống xe.

“Vậy thì phải xem anh muốn đi bao xa. Nếu như anh muốn xuyên qua khe Sói hoang, thì tôi chưa từng đi qua đó kên không biết bao xa. Tôi đi xa nhất cũng chỉ có đoạn đường từ đây đi vào trong đó khoảng hai mươi phút.”

“Đoạn đường hai mươi phút, vậy được bao xa?”

“Chỉ có hai ba cây số thôi!”

“Hai mươi phút mà anh chỉ đi được có hai ba cây số thôi sao?”

Makarov lắc lắc đầu: “Tôi không biết.”

“Nhớ lời tôi nói đấy, mỗi bước đi đều phải cẩn thận. Hai ba cây số đó chỉ là miệng hang khe Sói hoang thôi, còn vào sâu bên trong tôi vốn chẳng dám đi.”

“Huyền bí vậy sao?”, trong lòng Makarov, Branch thuộc tuýp người chẳng có gì là không làm được.

Branch không nói thêm gì nữa, hai người vác vũ khí, chầm chậm tiến vào khe Sói hoang. Trong hang núi tĩnh lặng như tờ, chỉ có tiếng bước chân của hai người. Makarov nhìn hai bên, nhưng không phát hiện thấy điều thần kì gì trong khe Sói hoang. Thế núi hai bên bằng phẳng,

thảm cát dưới chân - khả năng là lòng sông trước đây khô hạn, giẫm lên đó rất êm chân.

Branch đi trước. Makarov dựa vào quãng đường vàthời gian mà Branch, kể để phản đoán quãng đường đi trong hai mươi phút. Họ đã đi được hai mươi phút, không có bất cứ chuyện gì đặc biệt xảy ra, mọi thứ đều bình thường.

Đột nhiên, Branch đi đầu bỗng dừng lại. Makarov vội vàng đi lên hỏi: “Sao thế?”

Branch nhìn Makarov, sau đó chầm chậm nhấc chân phải lên. Lúc này Makarov mới phát hiện thấy dưới chân phải của Branch có một vật dài dài, đã bị anh giẫm thành mấy mẩu.

Makarov cầm một mẩu lên, nhìn một cái, anh bỗng giật thót tim. “Xương người! Là xương sườn!”, anh đưa mẩu xương sườn đó cho Branch.

Branch liếc qua một cái rồi quang mẩu xương đó đi, nói: “Đây đã là gì, càng đi tiếp xương càng nhiều.”

Makarov lúc này mới thực sự cảm thấy khe Sói hoang đáng sợ. Hai người tiếp tục tiến về phía trước, quả nhiên, mồi lúc một nhiều xương trắng xuất hiện, có của động vật, có của người. Gần như mỗi bước đi của họ đều giẫm lên những mảnh xương trắng này.

“Tôi bắt đầu tin những truyền thuyết của mục dân rồi!”, Makarov nhìn mặt đất đầy xương trắng nói.

“Đáng lẽ anh phải tin từ trước đó.”

“Đây đều là những bộ xương từ niên đại nào vậy?”

“Từ thời cổ đại, cũng có của cận đại. Đây không phải là chuyên ngành của chúng ta, nên để đoàn khảo sát của chính phủ đến khảo sát mới rõ.”

“Đoàn khảo sát?!”, Makarov nghe thấy từ này trong lòng bỗng trào lên một cảm giác dị thường. Anh nghĩ tới lần thám hiểm Trung Quốc đó, địa hình ở đấy rất giống ở đây, có lẽ ở đây liền với sa mạc Gobi của phía Trung Quốc! Anh bắt đầu suy nghĩ lung tung.

5

Quãng đường hai mươi phút chẳng mấy chốc đã hết, Branch dừng lại, Makarov giật mình nhìn cảnh tượng trước mặt. Xương trắng trước mặt gần như chất đống thành một bức tường, anh cơ bản không thể đi tiếp, đành phải dừng lại ở đây.

“Chỗ xa nhất mà tôi tới là chỗ này, phía trước rất khó đi qua”, Branch chỉ đống xương trắng đồ sộ trước mặt nói.

“Có lẽ từ cạnh đồi đất đỏ có thể vượt qua đống xương này!”, Makarov nhìn hai dãy núi màu đỏ không cao lắm ở hai bên nói.

“Thôi đi, vượt qua đó cũng chẳng để làm gì. Tôi tính đi tiếp về phía trước năm, sáu cây số là tới đường biên giới rồi, hơn nữa vượt qua đó có khi còn có cảnh tượng khủng khiếp hơn đợi chúng ta đấy.”

Makarov gật gù, đột nhiên nhớ ra việc chính: “Tô-tem mà anh bảo rằng phát hiện thấy ở đây đâu?”

“Khà khà, anh vẫn chưa trông thấy sao? ở đây chỗ nào cũng có!”, Branch cười nói.

“Chồ nào cũng có!”, Makarov giật mình, nhìn hai bên vách núi. Quả nhiên, anh nhìn thấy một hình vẽ to trên vách đá màu đỏ bên phải, không biết là chất màu trắng gì tạo thành, trên cả vách đá màu đỏ vẽ hình một con sói, rồi trên mình sói lại vẽ một con chim ưng đang dang cánh.

Không hiểu sao, lúc Makarov nhìn thấy bức tranh trên vách đá, sống lưng bỗng thấy lạnh toát, nhưng điều khiến anh hoảng sợ vẫn còn ở phía sau. Chỉ thấy Branch cúi người tiện tay nhặt một mảnh sương sọ của cừu hoang lên, đưa cho anh, nói: “Còn cả cái này nữa.”

“Cái này?”, Makarov nghi ngờ đón lấy mảnh xương sọ cừu hoang, mắt anh lập tức trợn trừng lên. Ở chính giữa mảnh xương sọ, hình vẽ bí ẩn đó nghiễm nhiên hiện lên rõ mồn một. Tuy đã trải qua bao năm mưa nắng, gió cát mài mòn, nhưng hình vẽ trên mảnh xương sọ vẫn vô cùng rõ nét. Đó là một màu đỏ sậm kì dị, rất giống màu đỏ của đồi đất hai bên khe Sói hoang.

Trong khi Makarov vẫn còn kinh ngạc thì Makarov lại đưa cho anh một mẩu xương sọ của con bò, cũng giống hệt như trên xương sọ cừu hoang, ở chính giữa mảnh xương sọ này cũng xuất hiện ký hiệu bí ẩn đó. Ngay sau đó, Branch lại nhặt một mẩu xương sọ của con ngựa lên, trên đó lại khắc kí hiệu bí ẩn giống hệt như vậy. Cuối cùng, Branch đưa cho Makarov một mẩu xương sọ người.

Đôi tay Makarov run rẩy đón lấy mẩu xương sọ người, ở chính giữa vị trí mảnh xương này vẫn là hình vẽ đó. Hình vẽ đó mới nổi bật, mới bắt mắt làm sao.

“Giờ thì anh tin tôi nói rồi chứ!”

“Mảnh xương này giống như có từ mấy trăm năm nay rồi!”, Makarov phán đoán.

“Không sai! Phần lớn xương ở đây tôi thấy đều có mấy trăm năm lịch sử rồi, đặc biệt là những mảnh xương có khắc tô-tem cổ xưa này.”

“Theo anh thì những mẩu xương này là do ai để lại? Lẽ nào đúng thật là ma quỷ trong khe Sói hoang đã ăn những người và động vật này, rồi khắc để lại những hình vẽ bí ẩn?”

“Khà khà, chúng ta là những kẻ theo chủ nghĩa duy vật, đương nhiên không tin vào chuyện ma quỷ đó. Anh có biết Thành Cát Tư Hãn không?”, Branch đột nhiên hỏi.

“Đương nhiên biết! Người chinh phục đại lục Âu Á.”

“Anh có biết sau khi Thành Cát Tư Hãn viễn chinh châu Âu thì chết ở đâu không?”

Makarov lắc đầu, anh không hiểu lắm về lịch sử Đông phương. Nhưng trong giây phút này, trong đầu anh bỗng lóe lên gương mặt vừa quen lại vừa lạ - Lương Vân Kiệt! Makarov đột nhiên nhớ ra, trong đội thám hiểm, Lương Vân Kiệt đã từng kể cho anh nghe về lịch sử Tây Hạ: “Ồ! Hình như tôi có chút ấn tượng, cuối cùng Thành Cát Tư Hãn chết tại Tây Hạ!”

“Đúng! Lãnh thổ thuộc đường biên giới chính là đất Tây Hạ mấy trăm năm trước, đường biên giới phía bắc chính là cao nguyên Mông cổ, còn khe Sói hoang mà hiện tại chúng ta đang đứng, lúc đó chính là vị trí nằm giữa Mông Cổ và Tây Hạ.”

“Ý anh là năm đó Thành Cát Tư Hãn công kích Tây Hạ chính là tiến quân từ khe Sói hoang?”, Makarov ngạc nhiên.

“Tôi không phải là nhà sử học, cái này tôi không nói được, nhưng tôi dự đoán rất có khả năng đại quân của Thành Cát Tư Hãn và người Tây Hạ đã từng xảy ra đại chiến ở đây.”

“Bởi vậy đống xương khổng lồ này chính là sau đại chiến năm đó để lại?”

“Tôi nghĩ như vậy. Nhưng ai mà biết được? Đối với người phương Tây chúng ta mà nói thì phương Đông đều rất bí ẩn!”, Branch nói và quẳng mảnh xương trên tay xuống.

“Nhưng phải giải thích thế nào về những hình vẽ bí ẩn trên xương sọ này đây?”

“Có lẽ đây là một loại nghi thức thần bí của bộ lạc địa phương thời đó!”

Makarov cẩn thận đặt mảnh xương sọ trên tay xuống, sau đó lùi lại vài bước. Anh không hiểu tại sao mình lại lùi lại như vậy, có lẽ là do xuất phát từ sự tôn kính những dũng sỹ trước mặt.

Branch định quay về thì Makarov bỗng kéo anh lại: “Còn A711209 đâu?”

“Đừng vội! Anh sẽ gặp anh ta ngay thôi!”, nói xong, Branch dẫn Makarov đi lên gò đất bên trái.

6

Makarov cùng Branch leo lên gò đất bên trái. Chẳng mấy chốc, Makarov phát hiện thấy trên gò đất có một khẩu súng trường cắm thẳng, đầu súng hướng thẳng lên trời, thân cắm sâu trong cát. Anh ngạc nhiên nhổ khẩu súng ra, tỉ mỉ quan sát.

“Sao ở đây lại có khẩu AK-47?”

“Anh nhìn kĩ đi, đây không phải AK-47 đâu.”

Makarov hơi sững sờ, Branch giải thích: “Khẩu súng này rất giống AK-47, nhưng chính xác mà nói, đây là khẩu súng bắn tỉa tự động kiểu 56 do Trung Quốc sản xuất.”

Lúc này Makarov mới chú ý tới sự khác biệt của khẩu súng trong tay với khẩn AK-47: “Sao ở đây lại có súng Trung Quốc? Lẽ nào quân đội Trung Quốc từng tới đây?”

“Có khi thế, cũng giống như hôm nay chúng ta tới đây vậy.”

“Không! Không phải anh nói rằng khe Sói hoang không ai có thể xuyên qua sao?”

“Có lẽ họ vượt qua biên giới từ đường khác, sau đó mới tới đây!”, Branch suy đoán.

“Tại sao họ lại tới đây? Lẽ nào cũng giống chúng ta, vì tò mò? Tại sao lại để súng này lại đây? Nhìn khẩu súng này vẫn chưa mục nát gì cả, có khi cũng mới để lại đây thôi!”, Makarov nói xong liền trở nên căng thẳng, anh nhìn xung quanh nhưng không phát hiện ra điều gì khác thường.

“Đừng lo lắng, anh phải biết rằng ở đây quanh năm không có mưa, bởi vậy tốc độ mục nát của bất cứ vật gì cũng chậm hơn so với những nơi khác, hơn nữa còn rất chậm, rất chậm!”, Branch giải thích.

“A711209 đâu?”

“ở ngay dưới chân anh.”

“Hả?”, Makarov giật mình lùi lại một bước.

“Tôi và Lý Quốc Văn chôn anh ta xong, vừa hay nhặt được một khẩu súng trong hang nên cắm nó ở đây để đánh dấu”, Branch nói.

Branch lấy từ trong ba lô ra chiếc xẻng sắt mini, chuẩn bị đào đất cát dưới chân lên để xác định xem A711209 có thực sự bị chôn ở đây không.

Nhưng đúng lúc này, Blanch bỗng hét toáng lên: “Đợi đã! Trước khi anh đào lên, tôi có hai việc muốn nhắc anh”.

Makarov ngẩng đầu nhìn Branch, nói: “Nói đi!”

“Thứ nhất, sau khi anh đã xác nhận A711209 được chôn ở đây xong, thì không được nhắc lại việc này nữa, không được để nhũng người khác trong căn cứ biết chuyện, càng không được báo cáo với cấp trên!”, giọng Branch kiên định lạ thường, hoàn toàn là giọng ra lệnh.

Makarov nghĩ tới việc mình phải thay Branch giấu giếm chuyện này mà không khỏi buồn phiền, nếu biết trước thế này thì thà không quan tâm tới chuyện này còn hơn! Nhưng sự việc đã tới nước này rồi, nhìn bộ dạng Branch, nếu mình không đồng ý thì e rằng... nghĩ tới đây, Makarov gật gật đầu: “Được rồi! Tôi đồng ý. Thứ hai là gì?”

Branch thấy Makarov đã đồng ý cùng mình giấu giếm chuyện này thì nét mặt liền lộ ra vẻ tươi cười quái dị, anh ta nói: “Thứ hai hả, đừng có trách tôi không nhắc nhở anh, ở đây quanh năm không có mưa, thi thể con người có thể hàng năm không phân hủy. Tuy A711209 đã bị chôn ở đây hơn nửa năm rồi, nhưng anh ta biến thành bộ dạng khủng khiếp thế nào thì tôi cũng không biết nữa, tốt nhất anh nên chuẩn bị trước tâm lý đi!”

“Cảm ơn lời nhắc nhở của anh. Dù gì thì chúng ta cũng là đặc công, vậy sao mà phải sợ nhìn thấy xác chết?”, Makarov hình như đã chuẩn bị trước tâm lý.

Chiếc xẻng sắt công binh chỉ đào vài đường là Makarov đã phát hiện ra một số vật dụng rách nát dưới lớp đất cát. Anh cẩn thận nhận dạng, đây quả thực là đồng phục của học viên thường mặc. Tiếp tục đào, chẳng mấy chốc, một thi thể vẫn chưa phân hủy hẳn hiện lên trước mắt Makarov.

Tuy đã chuẩn bị tâm lý từ trước, nhưng khi Makarov tận mắt nhìn thấy thi thể khủng khiếp này thì cũng không tránh khỏi bị nôn thốc nôn tháo; anh đã nôn mửa hết cả bữa trưa ra ngoài.

7

Branch vội vàng đỡ Makarov. Makarov hất hất tay rồi nhìn lại thi thể khủng khiếp đó, hai hố mắt trống rỗng sâu hoắm, da trên mặt đã tan hết, những thớ thịt bị hun khô dính kết vào nhau, đằng sau gáy của cái xác khô có một cái lỗ sâu hoắm. Makarov trông thấy xung quanh trên phần da vẫn chưa hoàn toàn bị phân hủy đó, vẫn còn một hình thù bí ẩn, khiến anh giật bắn mình, không dám nhìn cái xác đó thêm nữa.

“Tôi đã cảnh cáo anh từ đầu rồi, anh nhất định đòi xem cơ!”, Branch vừa đỡ Makarvov dậy vừa nói, giọng diệu còn có chút khinh miệt.

Makarov mặc kệ Branch, loạng choạng đi xuống dưới gò đất. Phía sau, Branch đã nhanh chóng chôn lại cái xác khô, rồi vội vàng chạy theo Makarov.

Hai người quay lại khe Sói hoang. Makarov đứng dưới đáy hang, hoảng loạn. Anh quay đầu nhìn lại đống xương trắng chất thành núi, chán nản lắc đầu. Đột nhiên, một luồng sương trắng từ trong hang bốc lên, làn sương trắng đó từ nơi sâu nhất của khe Sói hoang bay ra miệng hang. Makarov giật mình nhìn làn sương trắng: “Sao nơi... nơi khô hạn thế này mà lại có khói sương được?”

Branch cũng hoảng hốt nhìn về nơi sâu hun hút của khe Sói hoang: “Tôi đến đây mấy lần mà chưa từng nhìn thấy sương... sương trắng này.”

Cùng với làn sương trắng bay ra, trong đáy hang hình như vọng ra tiếng người hét, tiếng ngựa hí. Theo phản xạ Branch vội vàng móc lựu đạn trong người ra. Làn sương trắng đó càng lúc càng gần, tiếng người hét ngựa hí cũng càng lúc càng to, Makarov và Branch bất giác lùi lại phía sau.

Branch móc ra hai quả lựu đạn. Sau hai tiếng nổ lớn, anh hét lên với Makarov: “Chạy mau!”

Hai người chạy thục mạng, lao như bay ra khỏi cửa hang, khi quay lại nhìn thì làn sương trắng đó đã tan hết, tiếng người hét ngựa hí cũng không thấy đâu nữa. Hai người tựa vào chiếc xe Jeep, thở hổn hển. Họ không biết rằng nhờ lựu đạn đã xua đuổi được yêu tinh ma quỷ hay là ban nãy chỉ là ảo giác của họ, hai người hoang mang thẫn thờ trở về căn cứ.

“Sau khi quay về căn cứ tôi đã ốm một trận thập tử nhất sinh, thường xuyên mơ thấy ác mộng, trong mơ toàn thấy hiện lên cái xác khô khủng khiếp và hình vẽ quái dị đó. Nhưng kể ra thì cũng lạ, sau khi rời khỏi căn cứ, thì tôi không còn mơ thấy những cảnh tượng khủng khiếp đó nữa. Tôi tưởng rằng mình đã quên sạch chúng rồi, nhưng thật không ngờ bây giờ ác mộng đã quay trở lại!”, cuối cùng Makarov đã kể lại xong những điều khủng khiếp mà ông gặp phải trong khe Sói hoang.

Hàn Giang chau mày lại: “Tô-tem cổ xưa? Lẽ nào đây chính là tô-tem của người Đảng Hạng?”

“Có thể là vậy, vì thế mà ở đây chúng ta lại nhìn thấy cái hình vẽ khiến tôi bất an này!”, Makarov nói.

“Nghe bác kể vậy thì đồng nghiệp Branch của bác hình như rất có vấn đề đấy!”, Hàn Giang nói.

“Ý cậu nói về hành động anh ta xăm hình vẽ đó lên người học viên nào không nghe lời?”

“Đúng vậy! Tàn nhẫn hay không, chúng ta tạm thời không bàn luận, nhưng tại sao anh ta phải xăm hình vẽ đó lên? Lẽ nào chỉ vì nhìn thấy nó trong khe Sói hoang mà đã hứng thú như vậy?”, Hàn Giang hỏi lại.

“Lúc đó tôi cũng nghĩ tới vấn đề này, nhưng sau khi nghe anh ta giải thích thì tôi cũng không nghiền ngẫm thêm nữa. Nhưng sau này, khi gặp phải những gã áo đen trên người có xăm hình vẽ đó, thì nó đã khiến tôi không thể không ngẫm nghĩ lại chuyện này.”

“Cháu có thể suy luận thế này không nhé, ban đầu, trên người những thành viên trong đội ngũ họ huấn luyện đều có hình xăm này. Đây là một loại ký hiệu, một ký hiệu của tổ chức bí ẩn. Không biết chừng là một tổ chức bí ẩn của KGB các bác!”, Hàn Giang mạnh dạn suy đoán.

“Sao cơ? Cậu nói rằng trên người những học viên đó đều có hình xăm này?”, Makarov cảm thấy kinh ngạc, “Tổ chức bí ẩn?! Không, điều này là không thể, nếu là do KGB làm thì tôi không thể không biết.”

“Tóm lại, cháu cho rằng điều này rất quan trọng. Cháu bỗng cảm thấy những chuyện mà bác vừa kể có liên quan tới những gì mà Yelena điều tra được về Stechkin, Brainin và những người khác!”, Hàn Giang tiếp tục suy đoán.

“Kể từ sau khi Stechkin vượt ngục, Brainin bị chết cháy, tôi cũng nghĩ tới chuyện này, và hiện giờ có thể khẳng định, nội bộ KGB chắc chắn có vấn đề. Nhưng vấn đề này chúng ta rất khó điều tra ra từ những người trong KGB năm đó, Isakov chết tại Afghanistan, Branch chết vì

nổ máy bay, Brainin cũng bị thiêu chết, còn cả rất nhiều người biết chuyện năm đó cũng không còn nữa.”

“Vẫn còn Stechkin, xem ra nếu muốn giải mã được mớ bí ẩn của KGB, thì chúng ta chỉ có cách tìm thấy Stechkin thôi!”, Hàn Giang nói tới đây liền lấy chân đá cho Đường Phong đang trầm ngâm suy tư một cái: “Này, nghĩ cái gì thế hả? Chẳng thấy nói gì cả?”.

Đường Phong lúc này mới định thần lại: “Ban nãy nghe những gì mà lão Mã trải qua tại khe Sói hoang, tôi bỗng nghĩ tới một việc, có khi nào khe Sói hoang đó chính là Hạn Hải Mật Thành mà chúng ta cần tìm?”

Đường Phong nói vậy khiến mắt Makarov sáng lên. Đường Phong lại nói tiếp: “Trước đây lão Mã đã kể cho chúng ta về tình hình của đội thám hiểm, Lương Vân Kiệt cũng kể lại một chút tình hình. Từ những gì họ kể lại thì địa điểm mà cuối cùng đội thám hiểm mất tích, có rất nhiều điểm tương đồng với khe Sói hoang mà lão Mã kể.”

“Đúng vậy, lúc đó khi trông thấy khe Sói hoang tôi đã cảm giác nơi đó có chút quen quen. Nhưng tôi có thể nói rõ với cậu rằng, đội thám hiểm năm đó chắc chắn chưa tới khe Sói hoang. Bởi tôi nhớ rất rõ những ngày cuối cùng của đội thám hiểm, tuy chúng tôi đã đi sâu vào trong sa mạc Badain Jaran, nhưng có thể khẳng định chúng tôi chưa từng tới khe Sói hoang.”

“Bất luận thế nào thì chắc chắn khe Sói hoang cũng liên quan tới Tây Hạ, và cũng có liên quan tới sự mất tích của đoàn thám hiểm!”, Đường Phong vẫn tiếp tục phán đoán của mình.

“Liên quan tới Tây Hạ thì không sai, nhưng có phải là nơi gọi là Hạn Hải Mật Thành, hoặc có phải là nơi mà đội thám hiểm năm đó gặp nạn hay không, thì vẫn còn rất khó để quyết định.”

“Được rồi! Hai người đừng nói những chuyện vô ích đó nữa, đó là chuyện sau này, hiện giờ chúng ta đang mắc kẹt ở đây đây này!”, Hàn Giang cắt ngang thuộc thảo luận giữa Đường Phong và Makarov.

Ba người lại chìm trong sự im lặng đáng sợ.
 

hoahongden12

Active Member

“Hiện tại cục diện quốc tế đã biến đổi rất nhiều so với vài năm trước đây, diễn biến nội tình của Trung Quốc đang dần ổn định, nên lãnh đạo cấp cao đã Lộ ra ý muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Bởi vậy, khả năng đồng chí Yuri Andropov sẽ vĩnh viễn không dùng tới quân cờ là chúng La nữa đâu. ”

1

Sau một hồi trầm ngâm, Hàn Giang đột nhiên hỏi Makarov: “Hồi còn ở căn cứ, bác nhìn thấy hình vẽ bí ẩn đó, vậy sau này thế nào? Branch chết rồi còn những học viên khác thì sao?”

“Hàn! Đây chính là chuyện thực sự khiến tôi hoảng sợ mà tôi muốn kể cho cậu!”, sắc mặt Makarov rất nghiêm trọng.

“Ô? vẫn còn chuyện khiến bác cảm thấy sợ hãi hơn sao?”, Hàn Giang và Đường Phong đều ngạc nhiên.

“Các cậu có còn nhớ người đàn ông mà tôi gặp ở nhà ga Saint Petersburg không?”, Makarov hỏi lại hai người.

Nhớ. Bác nói rằng đó là đồng nghiệp của bác trong KGB.”, Đường Phong nói.

“ừm, người đó chính là trung tá sau này đã tới căn cứ Tiền Tiến để thay chúng tôi, ông ấy tên là Shchedrin”.

“Ồ! Xem ra người này biết cũng không ít chuyện đâu!”, Hàn Giang nói.

“Trước khi tôi tới căn cứ Tiền Tiến đã từng cộng sự với Shchedrin một thời gian, bởi vậy chúng tôi cũng được coi là quen biết nhau. Nhưng kể từ sau khi Shchedrin tiếp quản căn cứ Tiền Tiến thì tôi cũng không gặp lại ông ấy nữa, bởi vậy chuyện liên quan tới căn cứ sau này tôi không biết gì cả. Mãi cho tới khi gặp lại nhau tại Saint Petersburg, ông ấy mới kể lại cho tôi nghe về chuyện ở căn cứ Tiền Tiến sau này!”

“Xảy ra chuyện gì ư?”. cả Đường Phong và Hàn Giang đều ngạc nhiên.

“Thì cũng giống như việc tôi tham gia vào đội thám hiểm Trung Quốc năm đó đã thay đổi số phận của mình vậy, những việc xảy ra tại căn cứ sau này cũng đã thay đổi cuộc đời của Shchedrin. Bởi vì căn cứ xảy ra chuyện nên Shchedrin đã bị cách chức để điều tra, rồi cuối cùng bị cho phục viên sớm, vì vậy mà mới có một doanh nhân Shchedrin thành đạt sau này.”

“Cháu không quan tâm số phận của ông Shchedrin đó, rốt cuộc sau đó căn cứ đã xảy ra chuyện gì vậy?”, Hàn Giang nôn nóng hỏi.

“Hàn, đừng nóng vội, sau đó tôi đã bảo Yelena đến gặp Shchedrin, hỏi han được rất nhiều tình tiết, để tôi nghĩ lại đã, tôi... tôi nên bắt đầu kể từ đâu đây nhỉ?”, lúc này, từng mảnh vỡ kí ức cùng những lời kể lại của Shchedrin không ngừng giao thoa, va đập trong đầu Makarov. Cuối cùng, một bức tranh đẫm máu dần dần, dần dần hội tụ trong đầu Makarov, chầm chậm mở ra...

Sau khi Branch chết, tổ điều tra được cấp trên phái tới nhanh chóng xác định Branch chết là do sự cố máy bay. Lo hậu sự cho Branch xong xuôi, Makarov nhận lệnh của tổng bộ, tổng bộ sẽ cử một trung tá tới để thay vị trí của Branch. Makarov không biết vị Shchedrin này có phải là Shchedrin đã từng cộng sự với mình hay không, nhưng cậu Shchedrin mà anh quen vẫn chưa phải là trung tá.

Hôm nay, Makarov kéo trung úy Nicholas lái xe tới địa điểm máy bay trực thăng hạ cánh ngoài căn cứ, chờ đợi trung tá mới được phái tới. Makarov nhìn trời, ngày đẹp trời nắng gió hiếm thấy, vậy là anh liền so sánh: “Nicholas, vị trung tá này may mắn hơn tôi đấy! Hôm tôi tới căn cứ, bão cát hại tôi tới nỗi phải hạ cánh tại nơi cách đây hơn chục cây số. Có lẽ vận đen đã đeo bám lấy tôi và Branch kể từ giây phút đó.”

“Đúng vậy! Lúc đó tôi đi đón các anh. Đồng chí trung tá, cho phép tôi nói thẳng, sao giờ anh cũng trở nên mê tín vậy? Trước đây tôi thấy anh có thế này đâu! Có phải do cái chết của đồng chí Branch không?”, trung úy Nicholas hỏi.

“Có lẽ là vậy! Phải chăng con người ở nơi này lâu rồi sẽ cảm thấy thế sự vô thường!”, Makarov than thở.

Trong lúc hai người đang trò chuyện thì phía xa vọng lại tiếng gió to, một chiếc trực thăng Mi-8 từ phía bắc bay tới. Makarov và Nicholas vội lấy tay bịt mũi bịt miệng, né người nép sau chiếc xe Jeep. Đợi sau khi chiếc trực thăng đỗ lại, hai người mới chui ra từ đằng sau xe Jeep.

Cửa khoang chiếc trực thăng đã mở ra, trung tá Shchedrin xuất hiện trước mặt Makarov. Lúc này Makarov mới chắc chắn đây chính là Shchedrin mà anh quen biết.

Sau khi hai người ôm chặt lấy nhau, Makarov cười, nói: “Không ngờ lại gặp anh ở đây, lúc tôi nhận được lệnh còn nghĩ sao Shchedrin lại là trung tá nhỉ? Hóa ra là anh được thăng chức cao rồi.”

“Cái gì mà chức cao chứ! Nếu đám người của tổng bộ đó không đặc cách thăng một cấp cho tôi, thì ai chịu tới cái nơi quái quỷ này làm gì!”, Shchedrin oán thán.

“Xem ra anh cũng không uổng công tới đây!”

“Đặc cách thăng chức đương nhiên là việc tốt, nhưng nếu giống như Branch phải bỏ mạng ở cái sa mạc hoang vu này thì đáng là gì chứ!”, trung tá Shchedrin tính toán rất kĩ.

“Ồ! Không ngờ Branch lại... Thực ra chẳng bao lâu nữa là anh ấy được điều động quay về, cuộc đời đúng chẳng biết thế nào!”, Makarov than thở.

Sau khi Shchedrin và trung úy Nicholas gặp nhau xong, ba người cùng về căn cứ. Shchedrin được sắp xếp ở trong căn buồng cũ của Branch.

2

Trong đêm hôm đó, Makarov giới thiệu sơ qua về tình hình ở căn cứ cho Shchedrin, sau đó giao cho Shchedrin chìa khóa trước đây do Branch giữ, rồi mở chiếc tủ sắt ra, cùng Shchedrin kiểm tra, đếm lại kinh phí và súng ống đạn dược.

Makarov đếm rất cẩn thận, còn Shchedrin lại nhởn nhơ như không. Makarov đếm xong, Shchedrin cười, nói: “Ivan, anh làm việc cẩn thận thật đấy!”

“Không! Tôi vẫn còn kém xa so với Branch đấy!”, Makarov khiêm tốn nói.

“Làm việc cẩn thận chẳng có gì sai, nhưng nhiều lúc phải phân rõ ranh giới một chút, giống như Branch vậy, ở đây có cố gắng mấy cũng chẳng ai biết, kết cục còn bỏ mạng lại đây.”

Tuy Makarov đã từng bất hòa với Branch, nhưng anh cũng không thể chấp nhận người khác đánh giá về Branch như vậy, nhất là sau khi Branch chết. Anh không buồn để ý tới Shchedrin, vẫn chăm chứ kiểm tra một lượt két sắt và tủ xem đã khóa cẩn thận hay chưa.

Shchedrin bỗng cười, nói: “Ivan, lần này tôi từ tổng bộ tới, nghe thấy không ít tin tức. Hiện giờ tôi có một tin tốt và một tin xấu muốn nói với anh. Vậy anh muốn nghe tin nào trước?”

Makarov thừa biết Shchedrin từ trước tới nay vốn là người thạo tin: “Vậy thì nghe tin xấu trước đi!”

Shchedrin nhún vai: “Thực ra cái tin xấu này đối với anh mà nói lại là tin tốt, còn đối với tôi cũng là..

“Vậy anh nói tin tốt trước đi vậy!”, Makarov lại không thấy hứng thú với tin xấu nữa.

“Tin tốt là anh sắp được điều đi rồi!”

“Ồ!”, Makarov sững sờ, “Đây đúng là một tin tốt lành. Nhưng tin tức của anh có đáng tin không đấy?”

“Tuyệt đối đáng tin cậy! Trong vòng nửa năm lệnh điều chuyển của anh chắc chắn sẽ tới, có khi không tới nửa năm!”, Shchedrin tự tin nói thẳng.

“Anh khẳng định vậy sao?”, Makarov bán tín bán nghi.

“Đương nhiên. Hem nữa khả năng năm nay anh sẽ được thăng chức lên đại tá; anh xem tôi đem tới cho anh bao nhiêu là tin tốt lành.”

“Cấp trên đã nghĩ cử được ai tới thay tôi chưa? Anh phải biết rằng, nếu không vì cái chết của Branch, anh cũng không bị phái đến đây. về lý thì cả lôi và Branch đều. sắp được điều về rồi, nhưng vì không ai đồng ý thay chúng tôi, bởi vậy mới..Makarov đã được gió cát sa mạc tôi luyện cho thật trấn tĩnh từ lâu rồi.

“Người thay thế anh? Anh yên tâm đi, có lẽ vĩnh viễn cũng không có người thay thế anh đâu.”

“Ý anh là gì?”, Makarov nghi ngờ nhìn Shchedrin.

“Đây chính là tin xấu mà tôi muốn nói với anh, tôi nghe được ở tổng bộ rằng: cấp trên đã có ý phá bỏ căn cứ Tiền Tiến này.

“Sao cơ? Phá bỏ căn cứ?!”, Makarov rất bất ngờ. “Những học viên đó tới đây cũng kết thúc khóa huấn luyện rồi, sao lại hủy bỏ? Không phải chuẩn bị phái họ tới Trung Quốc sao? Như vậy thì bao tâm huyết của chúng tôi mấy năm nay đều đổ đi cả ư?”

“Khà khà”, Shchedrin bật cười, “Ivan, trước đây tôi đã nói với anh rồi, quan tâm tới chính trị một chút, trong mắt những chính trị gia thì chúng ta cũng chỉ là những quân cờ mà thôi, khi nào cần dùng tới anh thì sẽ đặt anh lên, khi nào không cần dùng anh thì sẽ bỏ anh xuống.”

“Cũng có nghĩa là những quân cờ chúng ta hiện không dùng tới nữa?”

“Kết cục cuối cùng thế nào thì hiện giờ cũng khó nói, cấp trên vẫn đang quan sát tình hình. Hiện tại cục diện quốc tế đã biến đổi rất nhiều so với vài năm trước đây, tình hình nội tình của Trung Quốc đang dần ổn định, lãnh đạo cấp cao đã lộ ra ý muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Bởi vậy, khả năng đồng chí Yuri Andropov sẽ vĩnh viễn không dùng tới quân cờ là chúng ta nữa đâu.”

“Ban đầu chính ông ấy là người đã cử tôi tới đây đấy!”, Makarov lẩm bẩm, tuy có thể quay về nhà khiến anh vui mừng, nhưng việc dỡ bỏ căn cứ Tiền Tiến lại khiến anh cảm thấy tâm huyết của mình và Branch bao năm nay coi như bỏ đi.

“Kết thúc mọi chuyện ở đây? Kết thúc thế nào?”

“Tôi đoán rằng căn cứ sẽ bị dỡ bỏ, những học viên này sẽ bị tống vào tù, vậy đó.”

“Tống vào tù?”, Makarov giật thót tim, anh lại động lòng trắc ẩn.

“Đúng vậy! Những người này vốn là những phần tử nguy hiểm, lại cộng thêm mấy năm nay được huấn luyện thì càng nguy hiểm hơn, bởi vậy nhất định phải đưa họ trở lại nhà tù.”

Makarov đã nghĩ ngợi từ lâu rằng, đối với những học viên này, nếu bị phái tới Trung Quốc thì sẽ lành ít dữ nhiều, nếu bị bắt giam trở lại thì những lời hứa ban đầu của Branch với họ đều chỉ là con số không. Nhưng kể từ khi nghe được cái kết cục này từ Shchedrin, anh không khỏi trở nên buồn phiền.

“Những gì tôi nói hôm nay anh phải giữ bí mật đấy, tuyệt đối không được để lộ cho những học viên đó biết, nếu không thì hai chúng ta đen đủi phải biết!”, Shchedrin dặn dò Makarov.

Makarov gật gù, đương nhiên anh cũng hiểu rằng, nếu những lời này mà truyền tới tai những học viên đó thì hậu quả sẽ thế nào.

3

Hôm sau, Makarov giới thiệu Shchedrin ra mắt toàn thể học viên. Anh đặc biệt giới thiệu Lý Quốc Văn với Shchedrin: “Đây là thành viên có năng lực cứng nhất của chúng ta ở đây, cũng là học viên có thành tích huấn luyện tốt nhất.”

Shchedrin mỉm cười, phá lệ bắt tay Lý Quốc Văn, nói một câu: “Tôi nhớ cậu rồi!”

Quả thực là Shchedrin đã nhớ tới Lý Quốc Văn. Sau khi Makarov được điều đi, Shchedrin giao phó thẳng trọng trách huấn luyện học viên cho Lý Quốc Văn, bởi anh đã nhận được thông tin chính xác, căn cứ sẽ nhanh chóng bị dỡ bỏ.

Shchedrin nhìn những học viên vẫn đang kiên trì tập luyện ngoài cửa sổ, trong lòng sốt ruột chờ đợi tờ giấy ban bố dỡ bỏ căn cứ Tiền Tiến. Kể từ sau khi Makarov đi, căn cứ không được bổ sung thêm bất cứ trang bị nào, kinh phí cũng ngày càng ít, đã dần giảm xuống chỉ còn bằng một nửa của năm ngoái, nhưng tờ giấy ra lệnh dỡ bỏ căn cứ mãi mà vẫn chưa tới.

Cứ như vậy chờ đợi trong vòng hai năm, mãi cho tới một ngày mùa thu, trên sa mạc Gobi bỗng có trận tuyết rơi hiếm có, Shchedrin rốt cuộc cũng đã chờ đợi được tờ giấy mệnh lệnh dỡ bỏ căn cứ Tiền Tiến. Phía sau niềm phấn khởi, anh lại bị nỗi lo lắng bao trùm: theo như mệnh lệnh của cấp trên, thì sẽ phải áp giải toàn bộ 48 học viên tới nhà tù Irkutsk, sau đó anh mới có thể kết thúc nhiệm vụ tại căn cứ Tiền Tiến.

Từ sau khi Makarov đi, Shchedrin liền dọn tới phòng của Makarov, bởi anh luôn cảm thấy trong phòng của Branch toàn ám khí. Dường như âm hồn của Branch vẫn chưa siêu thoát, nên đã khiến Shchedrin nằm mơ thấy ác mộng triền miên.

Lúc này, Shchedrin đã chuẩn bị mất hai tuần cho cái gọi là “kết thúc mọi thứ”. Anh nhìn tuyết rơi vẫn đang bay lất phất ngoài cửa sổ, đầu óc đã để ở Mátxcơva tự lúc nào.

“Đúng là phải kết thúc tất cả những thứ này!”, Shchedrin lẩm bẩm.

Đột nhiên, ngoài cửa phòng vang lên tiếng gõ cửa, Schedrin mở cửa, là trung úy Nicholas. Shchedrin để Nicholas vào rồi thò đầu ra nhìn, căn cứ bên ngoài tuyết trắng mênh mang, im ắng tĩnh lặng. Thấy không có điều gì khác thường, Shchedrin mới đóng cửa, quay trở lại phòng.

“Những học viên đó có gì bất thường không?”, Shchedrin hỏi Nicholas.

“Không. Mọi chuyện đều bình thường.”

“Vậy là tốt nhất. Bây giờ tôi chính thức thông báo với cậu, ngày mai chúng ta hành động”, sắc mặt Shchedrin đanh lại.

“Ngày mai? Như vậy thì thời gian có gấp rút quá không?”, Nicholas có chút do dự.

“Đêm dài lắm mộng. Dù gì cũng phải hành động vậy, rồi thì nhanh chóng dứt khoát thôi”. Shchedrin dừng lại một lúc rồi nói ra sự sắp xếp của anh: “Tôi sắp xếp như thế này. Sáng sớm ngày mai chúng ta sẽ tập hợp học viên lại, phân thành sáu tiểu đội riêng biệt, nhân lúc cuộc họp diễn ra,‘bộ đội đặc chủng sẽ từ Irkutsk tới bao vây toàn bộ căn cứ, đồng thời chiếm giữ tất cả những vị trí trọng điểm. Sau đó, tôi sẽ tuyên bố mệnh lệnh dỡ bỏ căn cứ với toàn bộ học viên, đọc mệnh lệnh xong sẽ áp giải sáu tiểu đội bọn họ lên trực thăng, bay tới Irkutsk. Trong quá trình này, nếu có người phản kháng, sẽ giết chết không phải bàn, nhớ lấy! Nếu có người phản kháng, giết chết không phải bàn!”

Shchedrin nói xong kế hoạch của mình, Nicholas ngẫm nghĩ, nói: “Kế hoạch rất tốt, nhưng tôi lo rằng..

“Lo cái gì?”

“Lo người của chúng ta không đủ!”

“Khà khà!”, Shchedrin bật cười, “Cậu lo lắng hơi thừa đây, bộ đội đặc chủng từ Irkutsk kéo tới cả đoàn, cộng thêm cả nhân viên trong căn cứ, đối phó với những học viên không có vũ khí này thì tôi thấy thừa thãi đấy!”, xem ra Shchedrin rất tự tin.

“Chỉ sợ... chỉ sợ đám người đó nghĩ mày sống thì tao chết, nên sẽ lao vào chống lại chúng ta, bọn họ đều là cao thủ được Branch huấn luyện ra đấy!”, xem ra trung úy Nicholas không đủ tự tin.

“Bộ đội đặc chủng của chúng ta cũng đều là cao thủ, có gì mà phải lo! Được rồi, cứ làm như vậy đi, cậu mau chóng về chuẩn bị đi!”, Shchedrin đã quyết vậy.

Tiễn Nicholas xong, Shchedrin vừa uống cà phê vừa ngẫm nghĩ lại một lượt từ đầu tới cuối kế hoạch của mình. Sau khi xác định không còn gì phải băn khoăn, anh cảm thấy cơn buồn ngủ kéo đến nên liền ngả xuống giường ngủ.

4

Sáng sớm tinh mơ, Shchedrin bỗng tỉnh giấc vì nghe thấy tiếng súng. Anh bật dậy, day day thái dương, cảm giác đầu óc nặng trịch. Sao mình lại ngủ say như vậy?

Shchedrin đang nghi ngờ thì tiếng súng bên ngoài càng lúc càng dày đặc, ngay sau đó là tiếng gõ cửa dồn dập. Shchedrin giật bắn mình, tim lập tức treo ngược lên. Anh moi khẩu súng từ dưới gối ra, lên nòng, nhảy xuống giường, tới bên cửa sổ, nhìn ra ngoài nhưng không nhìn rõ tình hình ngoài đó. Anh lại tới phía sau cửa, hỏi: “Ai?”

“Là tôi! Nicholas!”

Shchedrin nhận ra giọng Nicholas liền vội vàng mở cửa. Nicholas nghiêng nghiêng ngả ngả, -vừa chạy vừa bò lao vào trong phòng: “Đồng chí Shchedrin, không... không ổn rồi, đám học viên đó bạo động rồi!”

“Sao cơ? Bạo động!”, Shchedrin bất ngờ tới nỗi ngồi bệt xuống đất. gt;

Đúng lúc này, “Pằng! Pằng!”, hai viên đạn bắn vào cánh cửa buồng bằng tôn, làm bật ra hai tia lửa chói lóa.

Nicholas vội vàng lao ra khỏi phòng bắn trả, sau đó lập tức đóng cửa lại.

“Ai đã để lộ tin tức vậy?”, Shchedrin đoán ngay được chắc chắn đám học viên đã nghe thấy gì đó.

“Anh mau nghĩ cách đi! Nếu không chúng ta sẽ bỏ mạng lại đây đấy!”, Nicholas hét lên.

Lúc này, đạn đã liên tiếp bắn vào lớp tôn ngoài phòng. Nicholas định nổ súng bắn trả, nhưng bóp cò mấy phát mới phát hiện ra súng đã hết đạn. Nicholas vứt khẩu súng trong tay đi, hét lên với Shchedrin: “Chúng ta mau chạy thôi!”

Shchedrin bỏ mặc Nicholas, anh bỗng đứng phắt dậy, bước loạng choạng vào buồng của Branch, tay run rẩy móc chìa khóa của tủ sắt ra. Chìa khóa của Makarov và Branch đều ở đây, anh cũng không biết mình đã dùng chiếc chìa khóa nào để mở chiếc tủ sắt đó ra. Nicholas cũng đi theo, khi cả hai người nhìn thấy cảnh trong tủ thì đều ngạc nhiên tới nỗi ngây người ra.

“Tôi đang bảo không biết chúng lấy vũ khí ở đâu ra, còn cả súng hạng nặng nữa, hóa ra tất cả vũ khí ở trong tủ đều bị bọn chúng lấy trộm rồi!”, Nicholas tuyệt vọng gào lên.

Shchedrin thẫn thờ nhìn chiếc tủ trống trơn, súng ống đạn dược ở tầng giữa và tầng dưới đều không còn, giấy tờ, sổ sách ở tầng trên cũng không thấy đâu nữa. Anh lại run rẩy mở két sắt ra, tiền bạc trong két cũng không cánh mà bay. Anh không tài nào hiểu nổi, nhũng thứ trong tủ biến mất lúc nào. Hôm qua mình còn mở tủ ra để. đếm kiểm tra, vật dụng đều còn đủ cả, lẽ nào là do ban nãy lúc mình ngủ? Nhưng chìa khóa để dưới gối cơ mà...

“Mau đi thôi! Nếu không đi thì chúng ta toi là cái chắc. Đám người này đều là cao thủ, lại có vũ khí..”, nói tới đây, Nicholas kéo Shchedrin lao ra khỏi căn nhà mái tôn. Họ không dám tiếp tục chiến đấu, càng đừng nói tới việc bình ổn trận bạo động này. Hai người đội làn mưa đạn chốc chốc lại sượt qua người, lao như bay. Trên sa mạc Gobi mới có tuyết rơi, hai người cũng không nhận diện được phương hướng, chỉ biết không ngừng lao chạy trên nền tuyết, hết lần này tới lần khác ngã xuống đất rồi lại bò dậy, mãi cho tới khi mặt trời hửng đông họ mới nằm nhoài ra mặt tuyết.

Hai người thở hổn hến, cả đêm chạy thục mạng đã tiêu hao hết thể lực của họ. Shchedrin nằm trên tuyết, bỗng cảm thấy mặt đất rung chuyển. Đường chân trời phía xa xa có hai đốm đen đang tiến lại gần, lẽ nào đám học viên đó đang đuổi tới? Shchedrin gượng dậy, định đứng lên nhưng lại ngã xuống. Anh đã sức cùng lực kiệt, nên từ bỏ ý định sống sót, chỉ lặng lẽ nằm trên tuyết, nhìn hai đốm đen đó từ từ tiến lại gần...

5

Lúc Shchedrin tỉnh lại đã là chiều hôm đó. Anh phát hiện ra mình đang nằm trong một doanh trại quân đội, đây là một doanh trại của quân đội Liên Xô cắm chốt tại Mông Cổ, anh và Nicholas được hai chiếc xe bọc thép đi tuần cứu mạng.

Hai viên sỹ quan hỏi thăm tình hình của anh, Shchedrin chỉ nói ra thân phận của mình, nhung không chịu nói rốt cuộc xảy ra chuyện gì. Thứ nhất là vì căn cứ Tỉền Tiến là cơ mật, thứ hai là không thể vạch áo cho người xem lưng.

Shchedrin vừa không dám nói, cũng không dám báo cáo với cấp trên, anh chỉ nhờ hai viên sỹ quan đưa mình và Nicholas trở về căn cứ Tiền Tiến. Trước khi màn đêm buông xuống, anh và Nicholas được đưa về căn cứ. Anh phát hiện ra ở đây đã được hơn một trăm binh sỹ đặc công tới để thực thi lệnh áp giải khống chế.

Shchedrin phải nói mãi mới thuyết phục được sếp chỉ huy của bộ đội đặc chủng không báo việc này lên cấp trên, để hai ngày sau sẽ do họ tự báo cáo.

Shchedrin và Nicholas hồn xiêu phách lạc kiểm tra lại hiện trường, hai binh sỹ đêm qua trực trên vọng gác đã bị bẽ gãy cổ, trong trại lính có bốn năm binh sỹ vừa mới cầm vũ khí lên đã bị đạn 12,7 ly của súng hạng nặng bắn cho thủng lỗ chỗ, máu thịt tan nát; trong căn cứ, vài sỹ quan và binh sỹ nằm ngổn ngang, còn cả một vài thi thể bị lựu đạn nổ cho thành mấy mảnh, vô cùng thảm hại.

Shchedrin run rẩy đẩy tiếp một cánh cửa ra, một mùi máu tanh trộn lẫn với mùi thuốc xộc vào mũi anh. Anh nhận ra đây chính là phòng y tế trong căn cứ, chỉ thấy người y sỹ mặt gục xuống bàn, máu tươi chảy lênh láng ra mặt bàn đã đông cứng lại.

“Bị bẻ gãy cổ, còn bị đâm một nhát dao, xuyên thủng tim, Nicholas kiểm tra thi thể người y sỹ nói.

“Bẻ gãy cổ?”

“ừm, thủ đoạn giống hệt như với binh sỹ trên vọng gác.”

“Tại sao lại như vậy? Không nổ súng trước, khử binh sỹ trên vọng gác thì còn dễ hiểu, nhưng sao chúng lại giết người y sỹ bằng thủ pháp này? Nếu như đã đánh nhau như vậy rồi thì hoàn toàn có thể dùng đạn.”

Nicholas ngẫm nghĩ: “Có lẽ những học viên đó đã lẻn vào phòng y tế trước..

“Lẻn vào trước? Chúng định làm gì?”, Shchedrin lập tức nghĩ ra điều gì đó, anh sờ sờ máu trên bàn, “Máu đã đông lại rồi, xem ra thời gian người y sỹ chết sớm hơn những người khác.”

Shchedrin lại lục tìm tủ thuốc trong phòng quân y: “Không thấy thuốc ngủ đâu cả.”

Shchedrin bắt đầu hiểu ra tại sao đêm qua mình lại ngủ say như vậy. Sau khi kiểm tra toàn bộ hiện trường, không có lấy một thi thể học viên nào cả. Shchedrin lo lắng, suy sụp, anh hiểu rằng lần này đã xảy ra đại họa, nếu không tóm được tất cả những học viên tháo chạy về, thì mình không những bị cách chức, mà còn phải ra tòa án quân sự. Ngay lập tức, đang từ niềm phấn khích sắp được về nhà anh bỗng như rơi tọt xuống vực thẳm.

Shchedrin hiểu rằng anh chỉ còn thời gian hai ngày, bắt buộc trong vòng hai ngày này phải tóm được những học viên bỏ trốn. Nhưng anh không dám mạnh miệng, lực lượng có thể huy động được chỉ có anh, Nicholas và đoàn bộ đội đặc chủng này mà thôi.

Shchedrin và sếp chỉ huy của bộ đội đặc chủng thương lượng, cho rằng hiện giờ tuyết lớn đóng băng, vùng này thưa người, những học viên trôn chạy đó chắc chắn chưa đi được bao xa, dùng trực thăng trên không trung tìm kiếm chắc là có thể tìm thấy những học viên đó. Vậy là, những chiếc máy bay trực thăng, vốn định dùng để áp giải học viên, bắt đầu tìm kiếm bốn mươi tám học viên tháo chạy trên sa mạc Gobi mênh mông phủ đầy tuyết trắng.

6

Sau hai ngày tìm kiếm, tuy Shchedrin đã lục soát từng tấc đất quanh khu căn cứ, nhưng cũng không tìm thấy bóng dáng của một học viên nào. Shchedrin vô cùng buồn phiền, lẽ nào những học viên này đều biến mất rồi sao? Trên sa mạc hoang vu không một bóng người, chúng đi được bao xa? Trong căn cứ vốn có bốn chiếc xe Jeep và hai chiếc xe ca. Xe ca và hai chiếc xe Jeep đều đã bị thiêu cháy, chỉ có hai chiếc xe Jeep còn tốt đã bị lái đi mất; mà hai chiếc xe thì ngồi được bao nhiêu người, sao chúng chạy thoát được? Hơn nữa, nhiên liệu mà hai chiếc xe Jeep đó chở theo cũng có hạn, nhưng lục soát tới tận giờ mà trực thăng cũng không tìm thấy hai chiếc xe Jeep đó đâu.

Trong lúc Shchedrin đang không hiểu ra làm sao thì đột nhiên Nicholas hớt hải xông vào: “Không xong rồi, trung tá!”

“Sao vậy?”, Shchedrin giật mình thất sắc.

“Một sở cảnh sát tại Irkutsk bị... bị thảm sát rồi!”

“Sao cơ? Irkutsk! Ý cậu là gì?”, không đợi Nicholas trả lời, Shchedrin liền lập tức hiểu ra, Ý cậu là đám học viên đó đã giết sạch sở cảnh sát?”

“Anh thấy trong lúc này mà có thể giết sạch một sở cảnh sát thì còn có thể là ai ở đây?”

“Nhưng... nhưng ở đây cách Irkutsk cả ngàn dặm, thời gian hai ngày, sao chúng có thể...”, Shchedrin vẫn không chịu tin, anh quyết định đích thân tới đó xem sao.

Shchedrin và Nicholas lập tức bay tới sở cảnh sát ở Irkutsk. Vừa bước vào cửa, Shchedrin gần như đã có thể đoán định rằng: tạo ra thảm hỏa này chắc chắn là đám học viên đó. Người phụ trách của KGB tại địa phương giới thiệu với Shchedrin: “Mười một viên cảnh sát trực ban đêm đó đều đã thiệt mạng, hơn nữa đều bị bắn chết ngay chỉ bằng một phát súng. Thủ đoạn của hung thủ rất tàn nhẫn, tay súng rất chuẩn, dùng súng ngắn TT-33. Sau khi bắn chết cảnh sát, đám người này đã cướp hết súng ống và tiền bạc của cục cảnh sát.”

Súng ngắn TT-33, đây không phải là đống súng trong căn cứ bị mất sao? Chúng đã có bao nhiêu là súng ống, đạn dược vậy rồi, mà vẫn cướp của cục cảnh sát. Chúng định làm gì vậy? Lẽ nào muốn vũ trang thành một đội quân? Shchedrin nghĩ tới đây thì toàn thân liền run bắn lên, anh vội vàng vịn vào bức tường bên cạnh, nhưng bỗng phát hiện ra tay mình chạm vào một vệt màu đỏ, là máu! Anh sợ hãi lùi lại mấy bước, tựa vào thành bàn, định thần lại để quan sát, lúc này mới nhìn rõ trên bức tường trong tuyết trắng xuất hiện một bức hình được vẽ bằng máu: trên người một con sói có một con chim ưng đang dang cánh chực bay đi.

Đây... đây là cái gì? Kí hiệu đánh dấu của đám người đó? Shchedrin ngây người trước hình vẽ này, im lặng hồi lâu. Người phụ trách của KGB chỉ lên tường nói tiếp: “Đám người đó còn để lại cái này! Đúng là quá ngông cuồng, dám khiêu khích chúng ta.”

Shchedrin đành lắc đầu, cố gắng để mình giữ bình tĩnh. Anh hiểu rằng việc này không giấu được nữa rồi, đám người này dám thản nhiên thảm sát cả cục cảnh sát tại Irkutsk, chắc chắn sẽ dám tới Mátxcơva, tới Leningrad gây chuyện lớn hơn. Shchedrin nghĩ tới tòa án quân sự, nghĩ tới nhà tù. Anh không muốn nửa đời còn lại của mình phải sống trong tù, anh không dám nghĩ tiếp nữa...

Shchedrin bắt đầu ân hận, dằn vặt bản thân mình và nghĩ tới đám học viên đó! Thời gian hai năm ở cùng đám ma quỷ này mà sao mình lại coi thường năng lực của chúng đến vậy. Branch! Không hiểu sao Shchedrin bỗng nhớ tới Branch, cái gã điên này rốt cuộc đã huấn luyện đám ma quỷ đó thế nào vậy?

Shchedrin sắp suy sụp rồi, anh nhanh chóng phán đoán địa hình, lực lượng của mình chắc chắn không đủ, anh cần sự viện trợ hùng mạnh hơn. Tất cả những người có mặt tại hiện trường đều nhìn Shchedrin, và không hiểu sao anh lại thất thần đến vậy. Cuối cùng, Shchedrin thốt ra một câu: “Tôi muốn gọi điện nói chuyện với đồng chí Yuri Andropov.”

Người phụ trách KGB địa phương nhanh chóng để anh gọi điện cho chủ tịch KGB Yuri Andropov.

7

Shchedrin báo cáo ngắn gọn với Yuri Andropov về cuộc bạo động xảy ra tại căn cứ. Sau một hồi im lặng nặng nề, trong điện thoại vọng ra tiếng chửi rủa của Yuri Andropov, Shchedrin chỉ biết im lặng mà nghe. Yuri Andropov rất không hài lòng, vì tới giờ anh mới báo cáo, nhưng sau khi chửi mắng Shchedrin xong, giọng Yuri Andropov đã dịu xuống: “Bây giờ tôi ra lệnh cho anh, đồng chí Shchedrin, lập tức đem người đi bắt hết tất cả những học viên đó lại, không sót một người, thiếu một tên cũng không được! Những ai kiên quyết chống đối, có thể bắn chết ngay tại trận. Hiện giờ chỉ có anh còn được coi là hiểu rõ về bọn chúng, bởi vậy anh bắt buộc phải hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ cần anh có thể tóm được bọn chúng về, hoặc bắn chết, tội lỗi của anh tôi có thể bỏ qua. Nếu để mặc cho bọn chúng làm loạn thì anh không những phải ra tòa án quân sự, mà tôi cũng bị liên lụy theo, KGB chúng ta sẽ chẳng còn mặt mũi nào nữa.”

Vâng! Tôi nhất định sẽ tóm được bọn chúng về”, Shchedrin cam đoan trong điện thoại, nhưng trong lòng anh không có chút chắc chắn nào cả.

“Ngoài ra, bây giờ tôi giao quyền cho anh có thể điều động tất cả lực lượng KGB tại Siberia và Viễn Đông.”

“Bao gồm cả những người quân hàm cao hơn tôi sao?”

“Tất cả, bao gồm cả đại tướng, chỉ cần anh tóm được bọn chúng về. Còn một điều nữa, anh phải nhớ cho kĩ, nhất định phải chú ý bảo mật.”

Nghe Yuri Andropov nói vậy, trong lòng Shchedrin rốt cuộc cũng có chút tự tin hơn. Anh bỗng nhớ tới một người: “Đồng chí chủ tịch, tôi muốn đồng chí Makarov cũng tới hành động cùng tôi, bởi dù sao anh ấy cũng rất rõ đám học viên đó…”

Trong điện thoại im lặng một hồi, Yuri Andropov mới chậm rãi nói: “Đề nghị của anh tôi sẽ suy nghĩ, giờ thì anh khẩn trương hành động đi!”

Trao đổi qua điện thoại xong, Shchedrin lấy lại tinh thần. Anh và Nicholas cùng người phụ trách KGB địa phương tỉ mỉ phân tích tình thế, cho rằng đám học viên đó gây nên chuyện động trời thế này nên chắc chắn sẽ không dám ở lại lâu trong lãnh thổ Liên Xô, mà bọn chúng sẽ tìm cơ hội để bỏ trốn khỏi đất nước này. Phía nam là Trung Quốc, phòng thủ nghiêm ngặt, nên phần lớn là chúng không dám tới; còn nếu đi về phía tây, tới Mátxcơva thì bên đó đã tăng cường cảnh giới, hơn nữa đường xá xa xôi, phải đi qua lòng chảo mênh mông của Liên Xô, vậy khả năng lớn là đám học viên đó không mạo hiểm như vậy.

Phía bắc là vòng bắc cực, càng không thể trốn chạy, nên khả năng lớn về phương hướng mà bọn chúng tháo chạy là hướng đông, ngồi thuyền tại bến cảng để trốn đi.

“Vậy thì bến cảng lớn nhất ở phía đông chính là Vladivostok, bởi vậy chúng ta phải tăng cường giám sát tại Vladivostok, đề phòng bọn chúng cướp thuyền tháo chạy!”, Shchedrin suy luận xong lại dặn dò thêm: “Đồng thời cũng phải tăng cường phòng bị thêm ở những hướng khác”.

Shchedrin và Nicholas họp xong liền dẫn theo một nhánh bộ đội đặc chủng tới Vladivostok. Chưa tới hai ngày, Shchedrin đã nhận được tin tình báo khiến anh phấn khởi, nhân viên KGB địa phương đã phát hiện thấy hai chiếc xe Jeep trong một kho hàng bỏ hoang, đồng thời cục cảnh sát cũng báo cáo đã phát hiện ra hai chiếc xe bị đánh cắp của cục cảnh sát Irkutsk trong thành phố.

Shchedrin tới kho hàng để kiểm tra hai chiếc xe Jeep, quả đúng là hai chiếc xe trong căn cứ bị đánh cắp. Xem ra suy đoán của mình đã thành hiện thực, đám học viên đó đã chạy tới Vladivostok, để chuẩn bị từ đây ngồi tàu tháo chạy ra biển.

Sau một hồi phấn khởi là nỗi lo lắng còn lớn hơn, Shchedrin đã từng biết rõ tay nghề của đám học viên đó, nhân lực của mình hiện giờ có thể tóm được đám ma quỷ đó hay không, thì trong lòng anh vẫn chưa dám chắc.

Shchedrin đã bố trí cảnh sát mặc thường phục tại tất cả những bến cảng, thậm chí trên phần lớn các tàu đều có người của anh, nhưng anh vẫn không thể nắm rõ được những con tàu của nước ngoài. Vậy là, Shchedrin đặc biệt tăng cường giám sát những con tàu nước ngoài đậu tại cảng nội địa.

Nhưng đã hơn nửa tháng qua đi rồi mà đám học viên đó giống như bốc hơi vậy, không có lấy một chút tin tức. Chúng không tiếp tục gây án, nhưng cũng không có tin tức chính xác chứng minh rằng bọn chúng đã rời khỏi Vladivostok. Shchedrin không khỏi nghi ngờ rằng hay là đám học viên đó đã bỏ trốn khỏi Vladivostok từ lâu rồi. Mãi cho tới một hôm, khi một con tàu mang cờ sao của Mỹ cập cảng Vladivostok, thì mới nhóm lại hi vọng cho Shchedrin.

8

Để đề phòng đám học viên này trà trộn với thuyền viên nước ngoài trốn khỏi Vladivostok, KGB chỉ thị cho các cảng biển địa phương, chỉ cho phép bốn người của con tàu chở hàng của Mỹ tên là “Joyce” này được phép lên bờ.

Trong màn mưa dày đặc, thuyền trưởng của “Joyce” cùng ba thuyền viên khác che ô lên bờ. Kể từ giây phút họ đặt chân lên lãnh thổ Liên Xô, là đã bị người của Shchedrin giám sát chặt chẽ.

Trước khi màn đêm buông xuống, đặc công giám sát tại bến cảng báo cáo với Shchedrin rằng, đã trông thấy thuyền trưởng và hai thuyền viên khác quay trở lại tàu nhưng thiếu mất một thuyền viên. Trong lúc Shchedrin đang nghi ngờ thì một đặc công ở đầu khác báo cáo với anh: “Thuyền viên đó một mình tới một công xưởng bỏ hoang tại vùng ngoại ô.”

Mắt Shchedrin bỗng sáng lên, có cửa rồi đây! Một mặt, anh lệnh cho đặc công đầu bên đó tiếp tục theo dõi, một mặt anh điều tốp bộ đội đặc chủng và một nhóm lính đặc công chia thành nhiều nhánh, bí mật đột nhập vào xung quanh công xưởng.

Shchedrin vừa xuống xe, một đặc công phụ trách theo dõi công xưởng bỏ hoang liền phấn khởi báo cáo với anh: “Chúng tôi đã trông thấy bọn chúng rồi, bọn chúng ở trong công xưởng bỏ hoang này.”

“Cậu chắc chắn chứ?”, Shchedrin vừa ngạc nhiên vừa vui mừng, thật không ngờ sau bao ngày canh phục thì rốt cuộc cũng được đền đáp.

“Chắc chắn. Nhưng bọn chúng đều có vũ khí, rất nguy hiểm!”

“Bao vây hết xung quanh rồi chứ?”

“Bao vây ba vòng, xung quanh công xưởng đã vây kín hết rồi, nhưng..

“Nhưng gì cơ?”

“Công xưởng này có một mặt kề biển.”

“Kề biển?”, lòng Shchedrin nặng trĩu.

“Nhưng phía đó đều là vực sâu tới tận mấy chục mét.”

“Như vậy thì tốt. Ngoài ra hãy đề nghị bộ đội hải quân cùng chúng ta phối họp hành động.”

Shchedrin rút súng, quan sát xung quanh, đặc công, cảnh sát, bộ đội đặc chủng cũng tới tận năm sáu trăm người, lại ở một nơi hẻo lánh thế này, vừa đẹp để ra tay, đúng là thiên thời địa lợi nhân hòa!

Nghĩ tới đây, Shchedrin không do dự gì nữa, muốn tấn công ngay, nhưng đặc công đó lại nhắc nhở anh: “Người Mỹ đó vẫn còn đang ở bên trong, nếu chúng ta tấn công..

Shchedrin trở nên do dự, anh không muốn xảy ra rắc rối ngoại giao. Vậy nên, một mặt anh ra lệnh thắt chặt vòng bao vây, chuẩn bị sẵn sàng chiến đấu, một mặt dùng loa kích âm hét vào bên trong: “Những người bên trong, các anh đã bị bao vây rồi, mau ra đầu hàng đi!”

Trong công xưởng bỏ hoang không chút động tĩnh. Mưa càng lúc càng to, Shchedrin lại gọi thêm ba lần nữa nhưng vẫn không có hồi âm. Anh quyết định không đợi nữa, đang chuẩn bị hạ lệnh tấn công thì đột nhiên, cánh cửa nhỏ trên tường công xưởng mở ra, một người đàn ông mặc quân phục thủy thủ bước ra. Người này hét lên với Shchedrin bằng tiếng Nga trôi chảy: “Đừng bắn! Tôi là người Mỹ.”

“Hai tay ôm đầu, bước lại đây!”, Shchedrin hét về phía người Mỹ đó.

Sau khi người Mỹ đó hai tay ôm lấy đầu thì từng bước từng bước tiến lại gần Shchedrin. Shchedrin nghiêm mặt, lớn tiếng hỏi lên: “Hộ chiếu!”

Thủy thủ người Mỹ cẩn thận lôi hộ chiếu từ trong túi áo ra dưới bảy tám nòng súng đang chĩa vào mình. Shchedrin cầm lấy hộ chiếu, liếc một cái, miệng lẩm bẩm đọc ra họ tên trên hộ chiếu: “White Warren”, Shchedrin đối chiếu với ảnh, chất vấn: “Muộn như vậy rồi anh tới đây làm gì, định cùng đám phần tử nguy hiểm đó làm gì hả?’

“Chẳng làm gì cả, tôi chỉ được bạn nhờ đến gặp những người này, sau đó thì các anh tới!”, White hoảng hốt giải thích.

Shchedrin không tiếp tục hỏi nữa, giờ thì anh chỉ muốn tóm lấy đám học viên đó, điều này còn quan trọng hơn việc chất vấn cái gã White này. “Đưa anh ta ra ngoài!”, Shchedrin ra lệnh.

Sau khi White bị đưa ra ngoài, Shchedrin đã không còn điều gì phải kiêng kị nữa, anh hất mạnh tay, súng đạn trong tay bộ đội đặc chủng và nhóm đặc công đều nhắm thẳng về phía công xưởng bỏ hoang bắn tới tấp. Nhưng trước làn súng đạn ầm ầm này, mà trong công xưởng vẫn không chút phản kháng. Shchedrin vô cùng ngạc nhiên, lẽ nào... anh không dám nghĩ tiếp nữa, vội vàng lệnh cho xe bọc thép của bộ đội đặc chủng lao vào công xưởng. Mấy chiếc xe bọc thép cùng lúc đâm đổ tường công xưởng, lao vào trong, ngay sau đó bắn thẳng vào những căn buồng bỏ hoang trong công xưởng, nhưng trong đó vẫn không thấy phản kháng gì.

9

Đúng lúc Shchedrin và nhóm đặc công chỉ còn cách công xưởng bỏ hoang khoảng mười mét, thì đột nhiên từ trong đó mưa đạn bắn ra, thậm chí còn có cả lựu đạn được ném ra.

Shchedrin càng thêm nghi ngờ, anh ra lệnh cho bộ đội đặc công ngừng tấn công, đích thân dẫn theo đặc công từng bước áp sát công xưởng.

Những đặc công bên cạnh Shchedrin không kịp phòng ngự đã thi nhau gục xuống. Shchedrin hoảng loạn vội bò ra đất, làn mưa đạn không ngừng bay qua đầu anh, rõ ràng bọn chúng đã hoàn toàn át được hỏa lực của họ. Shchedrin run rẩy, đám học viên này chờ đợi tới khi mình lại gần mới nổ súng, tố chất tâm lý tốt hơn đặc công rất nhiều.

May mà Shchedrin vẫn còn đông quân, nhất là khi vũ khí hạng nặng của bộ đội đặc công đã phát huy tác dụng. Shchedrin vừa đánh vừa rút, rút tới vòng an toàn thì không dám mạo hiểm xuất kích nữa. Anh lệnh cho bộ đội đặc công dùng hỏa lực mạnh nhất để san bằng công xưởng này.

Công xưởng này kiên cố hơn Shchedrin dự đoán, tấn công dồn dập hơn chục phút mà nó vẫn lỗ chỗ đứng sừng sững! Shchedrin quyết định thay đổi cách đánh, ra lệnh cho xe bọc thép tập trung hỏa lực, tấn công mấy vị trí then chốt của công xưởng, lại một trận tấn công qua đi, rốt cuộc công xưởng đã sụp đổ.

Bụi bay mù mịt trong mưa khói, gạch đá bay tứ tung, rơi đập trên mặt đất, bắn lên xe bọc thép... Không đợi cát bụi tản đi, Shchedrin liền hạ lệnh áp sát toàn tuyến, thắt chặt vòng vây. Shchedrin cho rằng, đám học viên trốn trong công xưởng đã chết hơn nửa, cộng thêm việc mất đi lá chắn thì ắt thắng lợi đang ở trước mắt; nhưng trong những đoạn tường đổ nát, hỏa lực phản kích vẫn hùng mạnh.

Shchedrin đã không còn lựa chọn nào khác, anh ra lệnh, bắt buộc trước khi trời tối phải hoàn toàn tiêu diệt sạch đám phần tử nguy hiểm này. Phòng ốc hoang phế rất rộng, tuy đã đổ nát, nhưng người của Shchedrin trước mỗi đoạn tường đổ nát này đều bị phản công kịch liệt.

Hơn chục phút sau, Shchedrin thay một khẩu súng hạng nhẹ rồi đích thân bắn chết một học viên. Lúc này về cơ bản họ đã quét sạch những học viên trên đống đổ nát của công xưởng. Giờ thì mưa bụi lất phất đã nặng hạt như trút nước. Shchedrin mặc ưa to, anh nhìn những thi thể nằm lại giữa đống đổ nát thì bỗng phát hiện ra phần lớn là người của mình, chỉ có hơn hai chục thi thể là của đám học viên đó.

“Trung tá, đám học viên đó tháo chạy về phía vực sâu sát biển rồi!”, Nicholas lớn tiếng báo cáo.

“Đuổi theo!”, Shchedrin nghiến răng gào lên.

Shchedrin dẫn theo người nhanh chóng áp sát vực sâu. Vòng vây càng lúc càng thắt chặt, rốt cuộc đã quây được mười mấy học viên còn lại trên vách đá.

Phía dưới vực sâu tối đen là đại dương gào thét. Thời tiết hôm nay thật tệ, cuồng phong cuốn theo sóng lớn không ngừng vỗ đập lên vách đá dưới vực thẳm.

Không còn tiếng súng, qua màn mưa dày đặc, Shchedrin đã nhận ra người đang đứng trước mặt mình chính là Lý Quốc Văn. Lý Quốc Văn cũng đang chằm chằm nhìn anh, mắt vằn vện tia máu, trên người có vài vết thương, máu tươi đang trào cả ra. Shchedrin bất ngờ trước nghị lực của Lý Quốc Văn, gã này bị thương nặng như vậy mà vẫn cầm súng đứng sừng sững trước mặt mình.

“Lý Quốc Văn, các anh được đấy, dám giết bao nhiêu người của chúng tôi như vậy!”, Shchedrin nấp sau một tảng đá, hét về phía Lý Quốc Văn.

Lý Quốc Văn không chút động đậy, đứng im tại chỗ. Hắn cười nhạt, hét lên: “Quá khen, đây đều là do các người ban phát cho chúng tôi cả đấy!”

“Đúng vậy! Branch là một thầy giáo tốt!”

“Hừm, đáng tiếc anh ấy chết rồi!”

“Bởi vậy các anh chẳng sợ ai cả, không ai trấn áp được các anh!”

“Đây đều do các người ép chúng tôi. Nếu các người không giải tán căn cứ, đưa chúng tôi vào tù thì cũng không đến mức có ngày hôm nay!”, Lý Quốc Văn gào lên trong tuyệt vọng.

“Tại sao các anh lại biết căn cứ sẽ bị dỡ bỏ và các anh sẽ bị tống vào tù?”

“Hừm, đừng có quên hiện giờ chúng tôi cũng là đặc công, hơn nữa thậm chí còn xuất sắc hơn cả các anh. Tôi vẫn nhớ Branch đã từng nói, một đặc công xuất sắc khi muốn có được thứ gì đó, thì trên thế giới này chẳng có gì là ngăn được anh ta cả.

“Các anh đã được huấn luyện ra từ cái tiêu chuẩn đó của anh ấy, phải không?”

“Đương nhiên, anh không bao giờ hiểu dược nỗi khổ cực mà chúng tôi đã nếm trải trên sa mạc Gobi.”

“Anh có thể nói cho tôi biết các anh muốn đi đâu không?”, Shchedrin muốn moi chút thông tin.

“Đến một nơi rất xa, nơi rất rất xa, rời khỏi đây, sống một cuộc sống khác!”, Lý Quốc Văn vẫn không lộ ra tin tức gì.

“Các anh mong dựa vào người Mỹ đó là sẽ rời được khỏi đây ư? Nói cho các anh biết nhé, các anh đã nằm trong sự theo dõi của chúng tôi từ lâu rồi!”

“Ha ha, chúng tôi chẳng mong chờ vào ai cả. Branch còn từng nói với chúng tôi rằng, một đặc công xuất sắc trong hoàn cảnh tuyệt vọng thì không thể tin tưởng bất kì ai”.

“Đừng có già mồm nữa, để tôi xem hôm nay các anh trốn thoát kiểu gì?”.

Lý Quốc Văn không trả lời, chỉ cười điên dại, tiếng cười đó cuộn cùng đại dương cuồng nộ khiến Shchedrin run rẩy.

“Các anh đã không còn đường thoát nữa rồi, thà buông vũ khí đầu hàng đi còn hơn! Tôi có thể đảm bảo an toàn tính mạng cho các anh!”

“Anh đảm bảo? E rằng cái mạng quèn của anh cũng không giữ nổi đâu!”, nói xong, Lý Quốc Văn lại cười điên dại.

Shchedrin xấu hổ đến mức tức tối, anh đứng dậy khỏi vách đá, giương súng bắn thẳng về phía Lý Quốc Văn. Nhưng anh lại kinh ngạc phát hiện ra, Lý Quốc Văn và hơn chục học viên đó đều quẳng hết vũ khí trong tay đi, đứng nghiêm chỉnh thành hai hàng. Shchedrin kinh ngạc nhìn họ, trên người những học viên này hầu như đều bị thương. Sao vậy? Họ không chịu được nữa, muốn đầu hàng?! Anh ngẫm nghĩ nhưng không dám lơ là, ngón tay vẫn nắm chặt vào cò súng.

Chỉ thấy đám học viên đó thẳng hàng cùng nhau lùi lại phía sau, một bước, hai bước, ba bước... Phía sau chính là mép vực, chúng định làm gì vậy? Shchedrin lòng đầy nghi ngờ nhìn đám học viên, anh đột nhiên nghĩ tới rồi: bọn chúng muốn lao xuống vực!

“Mệnh lệnh cho đồng chí Shchedrin lập tức đem người tóm lấy những học viên bỏ trốn đó lại, không thiếu một tên, thiểu một tên cũng không được! Đối với những kẻ cố chấp phản kháng thì có thể bắn chết tại trận!”, mệnh lệnh của chủ tịch KGB Yuri Andropov bỗng văng vẳng bên tai anh, Shchedrin không chút do dự nổ súng, không được để một tên nào tốn thoát.

Tiếng súng của Shchedrin chính là mệnh lệnh, gần như cùng lúc, hơn một trăm nòng súng cùng bắn ra lửa. Những học viên không còn vũ khí trong giây phút nhảy xuống vực thẳm đã bị bắn thủng lỗ chỗ...
 
Bên trên